DANH MỤC

Mobile / Fb / Zalo: 0912 842 224 | 0982 842 224

Cập nhật cổ phiếu MSN – Ước tính giá trị hợp lý của cổ phiếu là 101.667đ

Lượt xem: 443 - Ngày:
Chia sẻ

Nhận định KQKD – CTCP Tập đoàn Masan (Cổ phiếu MSN) công bố KQKD năm 2018 đạt khá và sát dự báo của chúng tôi. MSN vừa công bố KQKD chưa kiểm toán năm 2018 với doanh thu thuần đạt 38.187,6 tỷ đồng (tăng trưởng 1,5%) và LNST của cổ đông công ty mẹ đạt 4.916,5 tỷ đồng (tăng trưởng 58,5%). Nếu không bao gồm phần lợi nhuận không thường xuyên, LNST của cổ đông công ty mẹ đạt 3.478,0 tỷ đồng (tăng trưởng 57,1%), và kết quả này nằm trong dự báo cho năm 2018. Doanh thu thuần thực tế thấp hơn 2,4% so với dự báo mới nhất của chúng tôi và LNST của cổ đông công ty mẹ thực tế cao hơn 1,1% so với dự báo mới nhất của chúng tôi. Công ty đã hoàn thành 84,9% kế hoạch doanh thu (mức thấp) và 102,3% kế hoạch lợi nhuận (mức thấp).

Đồ thị cổ phiếu MSN phiên giao dịch ngày 25/02/2019. Nguồn: AmiBroker

Kết luận nhanh – Tiếp tục đánh giá Khả quan. Chúng tôi ước tính giá trị hợp lý của cổ phiếu là 101.667đ, tương đương P/E dự phóng 2019 là 23,5 lần. Doanh thu thuần năm 2018 tăng khiêm tốn do doanh thu của MNS giảm mạnh dù đã phục hồi trong Q4, trong khi đó cả MCH và MSR đều tăng trưởng tốt. Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh chính (sau khi trừ lợi nhuận không thường xuyên) mặt khác lại tăng trưởng tốt 57,1% nhờ kiểm soát chi phí bán hàng & quản lý hiệu quả hơn, với tỷ lệ chi phí bán hàng & quản lý/doanh thu giảm xuống 16,6% trong năm 2018 từ 19,1% trong năm 2017. Tình hình tài chính được củng cố khi công ty hoàn trả 12,5 nghìn tỷ đồng nợ vay trong Q4/2018, và nhờ đó dự báo giúp giảm hơn 1 nghìn tỷ đồng chi phí lãi vay trong năm 2019. Triển vọng cho năm 2019 vẫn tích cực với dự báo mức tăng trưởng hai con số ở cả ba mảng kinh doanh chủ chốt.

Doanh thu Q4 tăng khá 13,7% so với cùng kỳ đạt 11.557,9 tỷ đồng – nhờ doanh thu của Masan Consumer Holdings (MCH) và Masan Resources (MSR) tăng tốt. Trong khi đó doanh thu của Masan Nutri Science (MNS) vẫn giảm nhưng tốc độ giảm nhẹ hơn nhiều so với trong 9 tháng đầu năm.

  • Doanh thu của MCH tăng 18,4% so với cùng kỳ đạt 5.439,0 tỷ đồng.
  • Doanh thu của MSR tăng mạnh 47,7% so với cùng kỳ đạt 2.117,1 tỷ đồng, bất chấp giá vonfram giảm xuống 260 USD/mtu so với mức 300 USD/mtu trong 6 tháng đầu năm 2018.
  • Doanh thu của MNS trong Q4 tốt hơn so với Q3 và cụ thể tăng 17,7% so với quý liền trước đạt 3.942,0 tỷ đồng, nhưng giảm 3,9% so với cùng kỳ.

Tuy nhiên, LNST của cổ đông công ty mẹ trong Q4 giảm 39,8% so với cùng kỳ, là 1.137,5 tỷ đồng do không có đóng góp của lợi nhuận tài chính không thường xuyên – Trong Q4/2017, MSN ghi nhận khoản lợi nhuận không thường xuyên từ bán trái phiếu chuyển đổi Techcombank, trong khi đó trong Q4 2018 lại không có khoản lợi nhuận tương tự. Theo đó, nếu không bao gồm khoản lợi nhuận không thường xuyên này, LNST của cổ đông công ty mẹ từ các hoạt động kinh doanh chính trong Q4 thực tế tăng 17,5% so với cùng kỳ đạt 1.149,0 tỷ đồng.

Doanh thu thuần năm 2018 tăng trưởng khiêm tốn 1,5%, do doanh thu của Masan Nutri Science giảm mạnh trong khi đó doanh thu thuần của cả Masan Consumer Holdings (MCH) và Masan Resources (MSR) đều tăng hơn 20%.

  • MCH đạt doanh thu thuần 17.346,0 tỷ đồng, tăng trưởng 28,2%, do doanh thu của hầu hết các danh mục đều tăng, ngoại trừ từ thịt chế biến.
  • MNS đạt doanh thu thuần 13.977,0 tỷ đồng, giảm 25,2% so với năm 2017 do cả sản lượng tiêu thụ và giá bán đều giảm sau khi giá thịt heo giảm mạnh trong năm ngoái.
  • MSR đạt doanh thu thuần 6.865,0 tỷ đồng, tăng trưởng 27,0% nhờ giá bán bình quân tăng và hiệu quả hoạt động được cải thiện.

Lợi nhuận gộp tăng trưởng nhẹ 2,1% đạt 11.881,4 tỷ đồng, do đó tỷ suất lợi nhuận gộp tăng nhẹ từ 30,9% trong năm 2017 xuống 31,1% trong năm 2018 và cụ thể như sau.

  • Tỷ suất lợi nhuận gộp của MCH gần như không đổi, là 43,7% (năm 2017 là 43,6%).
  • Tỷ suất lợi nhuận gộp của MNS giảm từ 21,4% xuống 15,0%, do khủng hoảng trên thị trường thức ăn cho lợn trong suốt hai năm 2017 và 2018.
  • Tỷ suất lợi nhuận gộp của MSR tăng nhẹ từ 31,3% lên 31,5%.

Chi phí bán hàng & quản lý giảm mạnh 12,1% so với năm 2017 – Chi phí bán hàng và quản lý năm 2018 là 6.329,6 tỷ đồng, giảm 12,1% so với năm 2018, chủ yếu nhờ chi phí bán hàng & quản lý ở MNS giảm mạnh 43.3% và chi phí này ở MSR cũng giảm 11,1%. Do đó, tỷ lệ chi phí bán hàng & quản lý/doanh thu giảm từ 19,1% trong năm 2017 xuống 16,6% trong năm 2018.

  • Chi phí bán hàng & quản lý của MCH năm 2018 là 4.307,0 tỷ đồng, tăng 6,7% so với năm 2017. Trong năm 2018, cơ cấu chi phí bán hàng & quản lý của MCH có sự thay đổi, trong đó chi phí bán hàng (chi phí khuyến mại) giảm 7,0% so với năm 2017 từ 1.739,0 tỷ đồng trong năm 2017 xuống 1.626,0 tỷ đồng trong năm 2018, trong khi đó chi phí marketing tăng 34,0% so với năm 2017 từ 835,0 tỷ đồng trong năm 2017 lên 1.120,0 tỷ đồng trong năm 2018. Lãnh đạo công ty tin rằng việc tăng đầu tư cho marketing sẽ giúp củng cố thương hiệu và đẩy mạnh nhu cầu từ người tiêu dùng cuối cùng. Chiến lược này cũng đã cho thấy hiệu quả với doanh thu tăng 28,2% trong khi đó chi phí bán hàng chỉ tăng 6,7%. Theo đó, tỷ lệ chi phí bán hàng & quản lý/doanh thu giảm mạnh từ 29,8% trong năm 2017 xuống 24,8% trong năm 2018.
  • Chi phí bán hàng & quản lý của MNS giảm 43,3% so với năm 2017 từ 2.721,0 tỷ đồng xuống 1.542,0 tỷ đồng, do đó tỷ lệ chi phí bán hàng & quản lý/doanh thu giảm từ 14,6% xuống 11,0%. Chi phí bán hàng & quản lý giảm nhờ hiệu quả bán hàng được cải thiện. Doanh thu trên mỗi nhân viên bán hàng tăng mạnh từ 2,9 tỷ đồng/quý trong Q1/2018 lên 5,2 tỷ đồng/quý trong Q4/2018.
  • Chi phí bán hàng & quản lý của MSR cũng giảm 11,1% xuống 231,4 tỷ đồng, theo đó tỷ lệ bán hàng & quản lý/doanh thu là 3,4% (năm 2017 là 4,8%).

Lỗ tài chính thuần giảm 48,1% so với năm 2017 còn 2.290,9 tỷ đồng – nhờ ghi nhận khoản lợi nhuận không thường xuyên 1.472,0 tỷ đồng từ thoái vốn của MSN tại TCB. Đây chỉ là khoản lợi nhuận kế toán và không tác động đến dòng tiền tự do của MSN. Chi phí lãi vay giảm 16,2% nhưng vẫn ở mức cao, là 2.667,5 tỷ đồng do dư nợ vẫn ở mức lớn, dao động từ 34.302,3 tỷ đồng lên 34.796,3 tỷ đồng trong 10 tháng đầu năm cho đến khi công ty hoàn trả 12,5 nghìn tỷ đồng nợ trong tháng 10.

Nhờ lợi nhuận gộp cải thiện, chi phí bán hàng & quản lý giảm, sau khi loại trừ khoản lợi nhuận không thường xuyên 1.472,0 tỷ đồng, lợi nhuận hoạt động thuần tăng trưởng mạnh 57,1% – đạt 3.478 tỷ đồng, theo đó tỷ suất LNST tăng lên 9,4% từ 5,9% trong năm 2017.

Tổng nợ giảm mạnh trong Q4 – Tổng nợ giảm mạnh 36,8% xuống 21.995,4 tỷ đồng vào ngày 31/12/2018 từ 34.796,3 tỷ đồng vào đầu năm. Trong Q4, MSN đã hoàn trả hơn 12.500 tỷ đồng nợ vay, chủ yếu là sử dụng nguồn tiền từ bán cổ phiếu quỹ. Tỷ lệ nợ/EBITDA giảm từ 3,7 lần vào cuối năm 2017 xuống chỉ 2,1 lần vào cuối năm 2018. Nhờ vậy, MSN sẽ tiết kiệm được khoảng 1.000 tỷ đồng chi phí lãi vay và tăng tỷ suất lợi nhuận đạt mức hai chữ số trong năm 2019.

KQKD của từng mảng kinh doanh

  1. Masan Consumer Holdings (MCH) đạt doanh thu thuần 17.346,0 tỷ đồng, tăng trưởng 28,2% và EBITDA đạt 4.167,0 tỷ đồng, tăng trưởng 51,3% với tăng trưởng tốt ở hầu hết các sản phẩm. Doanh thu thuần tăng nhờ kết quả bán hàng tốt ở hầu hết các sản phẩm, ngoài trừ thịt chế biến, nhờ công ty nỗ lực đổi mới sản phẩm, giới thiệu các sản phẩm mới và nâng cấp sẩn phẩm. Trong năm 2018, MSN đã giới thiệu và giới thiệu lại hơn 15 sản phẩm và có kế hoạch đổi mới sản phẩm mạnh mẽ trong năm 2019. Tỷ suất EBITDA tăng đáng kể từ 20,4% trong năm 2017 lên 24,0% trong năm 2018 nhờ tỷ suất lợi nhuận gộp tăng và tỷ lệ chi phí bán hàng & quản lý/doanh thu giảm.

Theo từng sản phẩm –

–       Doanh thu thuần từ nhóm hàng gia vị đạt 6.958,0 tỷ đồng, tăng trưởng 34,9%, với sản lượng tiêu thụ tăng 30% và giá bán tăng 3,8% so với năm 2018. Các thương hiệu chủ chốt như Nam Ngư và Chinsu duy trì kết quả tốt. Trong các thương hiệu chủ chốt, đóng góp từ dòng sản phẩm cao cấp tăng từ 7,0% trong năm 2017 lên 10,0% và đóng góp chính cho doanh thu hàng gia vị, với mức tăng trưởng khoảng 40,0%. Chỉ riêng trong Q4, doanh thu thuần tăng 25,5% so với cùng kỳ đạt 1.751,0 tỷ đồng.

–       Doanh thu thuần từ nhóm hàng thực phẩm tiện lợi đạt 4.636,0 tỷ đồng, tăng trưởng 29,3% cũng nhờ nỗ lực nâng cấp sản phẩm. Trong Q4, doanh thu tăng 17,4% so với cùng kỳ đạt 1.365,0 tỷ đồng. Được tung ra thị trường vào 5 quý trước, mỳ ly Omachi vẫn cho kết quả bán hàng tốt và đóng góp 15,0% vào tổng doanh thu của thương hiệu Omachi trong Q4. Mỳ ly Omachi là sản phẩm mỳ ăn liền cao cấp với giá bán khoảng 14.000đ/ly, gấp đôi dòng sản phẩm bình dân cùng thương hiệu.

–       Doanh thu từ nhóm hàng thịt chế biến giảm 4,8% so với năm 2017 xuống 210 tỷ đồng, tuy nhiên con số này đã cho thấy sự cải thiện so với mức giảm 16,6% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm nhờ việc tung ra thương hiệu xúc xích cao cấp “ponnie”, sản phẩm hợp tác đầu tiên giữa Masan và đối tác Hàn Quốc, Jinju Ham. Nhờ vậy, doanh thu Q4 tăng mạnh 24,5% so với cùng kỳ đạt 79,0 tỷ đồng.

–       Doanh thu từ cà phê (không bao gồm nước uống tăng lực Wake up 24/7) tăng 11,5% đạt 1.708 tỷ đồng nhờ doanh thu từ sản phẩm thương hiệu Vinacafe tăng trưởng 25%.

–       Sản phẩm đồ uống không cồn tiếp tục tăng trưởng tốt nhờ đóng góp của sản phẩm nước tăng lực. Doanh thu thuần tăng 36,4% đạt 2.789 tỷ đồng. Trong đó, dòng nước tăng lực đóng góp 60% tăng trưởng nhờ mở rộng hệ thống bán hàng từ 75.000 điểm bán hàng vào cuối năm 2017 lên gần 90.000 điểm bán hàng vào cuối Q2 và tiếp đó lên 130.000 điểm bán hàng vào cuối Q3 và lên 160.000 điểm thời gian gần đây.

–       Mảng bia tiếp tục kém với doanh thu Q4 giảm 33,2% so với cùng kỳ sau khi cũng đã giảm 22,1% trong Q3. Tuy nhiên cho cả năm doanh thu từ mảng bia vẫn tăng trưởng 23,3% đạt 388 tỷ đồng.

  1. Hoạt động của Masan Nutri Science đã hồi phục trong Q4 do nông dân đã đầu tư trở lại vào đàn heo nhưng kết quả cả năm vẫn kém– Trong Q4, doanh thu thuần giảm 3,8% so với cùng kỳ (nhưng tăng 13,3% so với Q3) trong khi 9 tháng đầu năm giảm 31,2%. Cho cả năm, doanh thu thuần giảm 25,2% xuống còn 13.977 tỷ đồng nhờ cả sản lượng và giá giảm sau khi quy mô đàn heo giảm trong năm ngoái. Tỷ suất lợi nhuận gộp cũng giảm từ 21,4% trong năm 2017 xuống còn 15% trong năm 2018 do giá bán giảm. Theo đó, EBITDA giảm 35% còn 1.244 tỷ đồng.

MNS đang hướng theo mô hình FMCG với sản phẩm thịt heo mát MEATDeli tại Hà Nội. Hiện tại MEATDeli được phân phối tại 39 cửa hàng Vinmart và 5 cửa hàng bán lẻ khác tại Hà Nội và sẽ đóng góp doanh thu cho MNS từ năm 2019. Triển vọng của mảng này nhiều hứa hẹn do quy mô thị trường lớn, khoảng 10 tỷ USD, trong đó quy mô thị trường Hà Nội là 1 tỷ USD với tỷ suất lợi nhuận gộp có thể đạt 25-30% trong dài hạn. Masan đã chứng tỏ khả năng xây dựng các thương hiệu mạnh và mạng lưới phân phối toàn quốc, và chúng tôi cho rằng Công ty đủ khả năng để đưa MeatDeli thành một trong những thương hiệu thịt đứng đầu với thị phần đáng kể. Và sản phẩm thịt có thương hiệu này cũng sẽ đưa MNS đến gần hơn mô hình FMCG với triển vọng lợi nhuận bền vững hơn.

  1. Masan Resources đạt KQKD khả quan với doanh thu thuần 6.865 tỷ đồng (tăng trưởng 27%) và LNST của cổ đông công ty mẹ tăng gấp 3, đạt 663,7 tỷ đồngnhờ giá bán bình quân tăng và việc hợp nhất toàn bộ liên doanh với H.C. Starck, mặc dù sản lượng quặng chế biến giảm nhẹ. Sản lượng quặng chế biến giảm 2,2% còn 3,8 triệu tấn, theo đó sản lượng APT giảm 2,3% xuống còn 6.155 tấn. Tuy nhiên giá bán bình quân tăng đã bù đắp cho việc sản lượng giảm. Giá bán bình quân APT tăng 28,7% lên 308 USD/mtu; và doanh thu từ ATP tăng trưởng 25,9%.

Trong số những sản phẩm chính, giá fluorspar tăng mạnh nhất với mức tăng 43% đạt 493 USD/tấn. Trong khi đó giá đồng tăng nhẹ 5,6% lên 6.514 USD/tấn.

Trong tháng 8/2018, MSR đã mua 49% cổ phần còn lại của H.C. Starck Tungsten Chemicals Manufacturing LLC (“NHTCM”) để nâng sở hữu lên 100%. Việc hợp nhất toàn bộ liên doanh vào MSR trong Q4 đã giúp giảm lợi ích cổ đông thiểu số và tăng LNST cho MSR trong năm 2018.

Cho năm 2019, chúng tôi dự báo lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh chính sẽ tăng trưởng 44,9% – Chúng tôi dự báo doanh thu thuần đạt 44.799,6 tỷ đồng (tăng trưởng 17,3%) và LNST của cổ đông công ty mẹ đạt 5.034,7 tỷ đồng (tăng trưởng 2,4%). Không tính lợi nhuận không thường xuyên 1.472 tỷ đồng trong năm 2018 thì lợi nhuận thuần từ HĐSXKD năm 2019 tăng trưởng 44,9%.

Dưới đây là những giả định chủ chốt của chúng tôi:

  • Doanh thu thuần của MCH đạt 20.358,9 tỷ đồng (tăng trưởng 17,4%) và LNST của cổ đông công ty mẹ đạt 2.838 tỷ đồng (tăng trưởng 35%). Chúng tôi dự báo mảng thức ăn tiện lợi và đồ uống không cồn tăng trưởng ở mức 2 con số và mảng gia vị tăng trưởng ở mức cao 1 con số. Tăng trưởng đạt được nhờ sản phẩm gia vị và thực phẩm tiện lợi liên tục được đổi mới và nâng cao chất lượng. Ở mảng đồ uống, Công ty dự kiến nâng số lượng điểm bán hàng cho sản phẩm nước tăng lực từ 160.000 điểm hiện nay lên 200.000 điểm trong năm 2019, từ đó giúp cải thiện doanh thu. Tăng trưởng doanh thu từng mảng như sau:
  • Doanh thu mảng gia vị tăng trưởng 9% với giả định thị phần tăng 3% từ mức hơn 60% hiện nay lên 63,4%. Dự báo ngành tăng trưởng 3,5%.
  • Doanh thu thực phẩm tiện lợi tăng trưởng 18%, chủ yếu từ thương hiệu mì Omachi. Chúng tôi giả định thị phần mì ăn liền của MCH sẽ tăng từ 24% trong năm 2018 lên 28% trong năm 2019.
  • Doanh thu đồ uống tăng trưởng 25,7%, chủ yếu từ nước tăng lực Wake up 24/7. Chúng tôi dự báo MCH sẽ đạt thị phần nước uống tăng lực trên 7% trong năm 2019.

Tỷ suất lợi nhuận gộp của MCH và tỷ lệ chi phí bán hàng & quản lý/doanh thu lần lượt đạt 43% và 24,6%.

  • Doanh thu thuần của MNS đạt 16.456,3 tỷ đồng (tăng trưởng 17,7%) và LNST của cổ đông công ty mẹ đạt 26,3 tỷ đồng, giảm 85% từ 175 tỷ đồng trong năm 2018 do khoản đầu tư vào mảng thịt ảnh hưởng đến lợi nhuận. Giả định chính của chúng tôi như sau:
  • Doanh thu thức ăn chăn nuôi tăng trưởng 12,7% đạt 15.757 tỷ đồng.
  • Tỷ suất lợi nhuận gộp mảng thức ăn chăn nuôi là 15,8%.
  • Sản phẩm thịt tươi đóng góp 700 tỷ đồng doanh thu với giả định Công ty giành được 3% thị phần thịt heo tại Hà Nội (có giá trị khoảng 1 tỷ USD).
  • Tỷ suất lợi nhuận gộp mảng thịt tươi trong năm đầu là 10%.
  • Tỷ lệ chi phí bán hàng & quản lý/doanh thu là 11,3% (năm 2018 là 11%).
  • Chi phí tài chính là 275 tỷ đồng, bằng với năm ngoái.
  • Doanh thu thuần của MSR đạt 7.984,4 tỷ đồng (tăng trưởng 16,3%) và LNST của cổ đông công ty mẹ đạt 962,4 tỷ đồng (tăng trưởng 45%).
  • Sản lượng ATP tiêu thụ là 8.000 tấn, tăng 30,8%; trong đó 6.500 tấn sản xuất từ tungsten tự sản xuất và 1.500 tấn là từ tungsten nhập khẩu.
  • Giá bán ATP là 300 USD/mtu, giảm 2,6%.
  • Tỷ suất lợi nhuận gộp là 31% (năm 2018 là 31,5%).
  • Tỷ lệ chi phí bán hàng & quản lý/doanh thu là 3,2% (thấp hơn mức 3,4% trong năm 2018).
  • Chi phí tài chính là 1.177,2 tỷ đồng, tăng 9,2%.
  • Năm nay không còn lợi ích của cổ đông thiểu số (năm 2018 là 146,2 tỷ đồng).
  • Chi phí tài chính dự báo giảm đáng kể, giảm 41,2% tương đương 1.273 tỷ đồng xuống còn 1.817 tỷ đồng do tổng nợ bình quân giảm đáng kể.

EPS dự phóng đạt 4.328,5đ. Tại thị giá hiện tại, P/E dự phóng của cổ phiếu MSN là 21,1 lần.

Định giá – Sử dụng phương pháp định giá từng phần, chúng tôi ước tính giá trị hợp lý của cổ phiếu MSN là 101.667đ; tương đương P/E dự phóng năm 2019 là 23,5 lần.

  • Sử dụng EV/EBITDA các doanh nghiệp cùng ngành trong khu vực để so sánh, chúng tôi ước tính EV/EBITDA của MCH là 14,2 lần.
  • Sử dụng EV/EBITDA các doanh nghiệp cùng ngành trong khu vực để so sánh, chúng tôi ước tính EV/EBITDA của MSR là 12,07 lần.
  • Sử dụng EV/EBITDA các doanh nghiệp cùng ngành trong khu vực để so sánh, chúng tôi ước tính EV/EBITDA của MNS là 13,2 lần.
  • Cộng với tiền mặt thuần, chúng tôi ước tính giá trị hợp lý của cổ hiếu MSN là 124.477,4 tỷ đồng; tương đương 107.018đ/cp.
  • Áp dụng mức chiết khấu 5% cho tập đoàn, chúng tôi ước tính giá trị hợp lý của cổ phiếu MSN là 101.667đ.

Quan điểm đầu tư – Duy trì đánh giá Khả quan. Chúng tôi ước tính giá trị hợp lý của cổ phiếu MSN là 101.667đ, tương đương P/E dự phóng 2019 là 23,5 lần. Trong năm 2019 mảng hàng tiêu dùng được kỳ vọng sẽ tiếp đà tăng trưởng của năm 2018 nhờ Công ty tiếp tục cải tiến sản phẩm. Mảng khai thác tài nguyên kỳ vọng sẽ tăng trưởng khá nhờ sản lượng APT tăng trong khi giá bán bình quân dự kiến giảm nhẹ. Mảng thức ăn chăn nuôi có lẽ sẽ hồi phục tốt phản ảnh sự phục hồi của giá thịt heo, đồng thời sản phẩm thịt mát MEATDeli đóng góp thêm vào doanh thu. Triển vọng dài hạn của mô hình 3F (thức ăn chăn nuôi – nuôi trồng – thực phẩm) của MNS cũng có nhiều hứa hẹn và có thể tạo ra tăng trưởng ổn định mà không phụ thuộc vào giá thịt heo.

Nguồn: HSC

 

BÌNH LUẬN()

CÁC TIN LIÊN QUAN

Đối tác

Gọi ngay
Messenger
Zalo chát
Mở tài khoản
Góp ý