Sự kiện: Công bố KQKD Q3/2021
VPB đã công bố lợi nhuận thuần hợp nhất Q3/2021 đạt 2.161 tỷ đồng (giảm 4% so với cùng kỳ và giảm 46% so với quý trước) với tổng thu nhập hoạt động tăng khiêm tốn 7% trong khi chi phí hoạt động (giảm 12% so với cùng kỳ) được kiểm soát tốt, tuy vậy đà tăng trưởng lợi nhuận không được giữ vững do chi phí dự phòng tăng mạnh (tăng 29%).
Đồ thị cổ phiếu VPB phiên giao dịch ngày 04/11/2021. Nguồn: AmiBroker
Lợi nhuận thuần hợp nhất 9 tháng đầu năm đạt 9.379 tỷ đồng (tăng 25% so với cùng kỳ), đạt 73% dự báo của HSC cho cả năm 2021 và thấp hơn một chút so với kỳ vọng.
KQKD Ngân hàng mẹ vẫn tích cực với lợi nhuận thuần đạt 2.356 tỷ đồng (tăng 46% so với cùng kỳ). Tuy nhiên, Q3/2021 có lẽ là quý khó khăn nhất của FE Credit từ trước đến nay với khoản lỗ thuần là 195 tỷ đồng.
Tín dụng tăng 8,1% so với đầu năm nhờ Ngân hàng mẹ
Tín dụng hợp nhất tăng 8,1% so với đầu năm nhờ tín dụng tại Ngân hàng mẹ tăng 11,6% so với đầu năm trong khi dư nợ cho vay của FE Credit giảm 10,6% so với đầu năm. Cho vay khách hàng khách hàng cá nhân (đặc biệt là cho vay mua nhà – tăng 35% so với đầu năm) và cho vay DNNVV là động lực tăng trưởng cho vay chính trong 9 tháng đầu năm 2021.
Về mặt huy động, tiền gửi khách hàng tăng trưởng khiêm tốn (tăng 2,5% so với đầu năm) và giấy tờ có giá tăng 8,5% so với đầu năm. Vay nợ từ các TCTD (bao gồm các TCTD nước ngoài) tăng mạnh 73% so với đầu năm nhờ thanh khoản trong hệ thống dồi dào và chi phí vay thấp. Tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn tiếp tục tăng lên 21,6% (từ 15,5% tại thời điểm cuối năm 2020), và đây là xu hướng tích cực.
Bảng 1: KQKD Q3/2021 và 9T/2021, VPB 
Tỷ lệ NIM tại cả Ngân hàng mẹ và FEC giảm
Trong Q3/2021, tỷ lệ NIM hợp nhất giảm mạnh, giảm 198 điểm cơ bản so với quý trước xuống còn 7,05% vì lợi suất gộp giảm 233 điểm cơ bản mặc dù chi phí huy động cũng giảm 44 điểm cơ bản. Lãi suất cho vay giảm tại cả Ngân hàng mẹ (giảm 164 điểm cơ bản so với quý trước xuống còn 9,9%) và FEC (giảm 560 điểm cơ bản so với quý trước xuống còn 25,6%). HSC cho rằng lãi suất sẽ ổn định tại mặt bằng trên trong Q4. Tỷ lệ NIM bình quân 9 tháng đầu năm 2021 đạt 8,4% (giảm 19 điểm cơ bản so với đầu năm).
Theo đó, thu nhập lãi thuần hợp nhất Q3 giảm còn 7.474 tỷ đồng (giảm 5% so với cùng kỳ) với thu nhập lãi thuần tại Ngân hàng mẹ tăng 20% so với cùng kỳ trong khi tại FEC giảm 26,6% so với cùng kỳ. Thu nhập lãi thuần hợp nhất 9 tháng đầu năm vẫn tăng khá, tăng 9% so với cùng kỳ đạt 25.826 tỷ đồng với Ngân hàng mẹ tăng 35% so với cùng kỳ và FEC giảm 10,1% so với cùng kỳ.
Lãi thuần HĐ dịch vụ giảm nhưng lãi mua bán trái phiếu và thu nhập khác đóng góp đáng kể
Thu nhập ngoài lãi hợp nhất tăng mạnh 67% so với cùng kỳ trong Q3/2021, chủ yếu nhờ lãi mua bán trái phiếu đạt 716 tỷ đồng (tăng 186% so với cùng kỳ) ghi nhận tại Ngân hàng mẹ và thu nhập khác đạt 1.161 tỷ đồng (tăng 122% so với cùng kỳ), chủ yếu từ FEC. Thu nhập khác chủ yếu là thu nhập từ thu hồi nợ xấu đã xóa và thu nhập từ các công cụ phái sinh.
Tuy nhiên, lãi thuần HĐ dịch vụ giảm trong Q3 (giảm 16% so với cùng kỳ) trước tác động của đợt bùng phát dịch Covid-19.
Chi phí hoạt động giảm
Chi phí hoạt động giảm 12% so với cùng kỳ trong Q3, sau khi giảm 7% so với cùng kỳ trong 6 tháng đầu năm 2021. Chi phí hoạt động giảm tại cả Ngân hàng mẹ (giảm 15% so với cùng kỳ) và FEC (giảm 8% so với cùng kỳ).
Tính chung 9 tháng đầu năm 2021, chi phí hoạt động giảm 9% so với cùng kỳ và hệ số CIR giảm xuống 23,7% từ 29,2% trong năm 2020. Hệ số CIR của VPB hiện thấp nhất trong số các ngân hàng HSC khuyến nghị.
Chất lượng tài sản tại cả Ngân hàng mẹ và FEC giảm sút
Tỷ lệ nợ xấu hợp nhất tăng lên 4% (so với 3,41% tại thời điểm cuối năm 2020 và 3,47% tại thời điểm cuối Q2/2021). Tỷ lệ nợ xấu của Ngân hàng mẹ tăng lên 2,28% (từ 2,1% tại thời điểm cuối Q2/2021), và của FE Credit ước tăng lên 11,03% (từ 9,05% tại thời điểm cuối Q2/2021). Nợ nhóm 2 cũng tăng đáng kể lên 7,7% (Ngân hàng mẹ là 5,3% và FEC là 17,7%) từ 5,5% tại thời điểm cuối Q2/2021 (Ngân hàng mẹ là 4% và FEC là 11,4%).
Chi phí dự phòng hợp nhất tăng 29% so với cùng kỳ trong Q3, gồm 1.942 tỷ đồng dự phòng (tăng 43% so với cùng kỳ) tại Ngân hàng mẹ và 3.037 tỷ đồng dự phòng (tăng 21% so với cùng kỳ) tại FE Credit. Hệ số LLR tăng nhẹ lên 48,9% từ 45,3% tại thời điểm cuối năm 2020, và ở mức thấp so với các ngân hàng khác.
HSC đang xem xét lại giá mục tiêu và dự báo
KQKD hợp nhất của VPB nói chung kém hơn kỳ vọng của HSC một chút. Kết quả của Ngân hàng mẹ vẫn khả quan nhưng sự ‘nhạy cảm’ trong mô hình kinh doanh của FEC đã thể hiện rõ trong Q3. Mặc dù kỳ vọng sẽ có sự cải thiện trong Q4 khi nền kinh tế mở cửa trở lại, vấn đề về chất lượng tài sản vẫn là điểm chúng tôi quan ngại.
Cổ phiếu VPB hiện có giao dịch tại P/B dự phóng năm 2022 là 1,6 lần; cao hơn một chút so với mức bình quân của nhóm NHTM tư nhân. HSC đang xem xét lại dự báo, giá mục tiêu và khuyến nghị đối với VPB.
Bảng 2: Các chỉ số chính
Nguồn: HSC
Tuyên bố miễn trách nhiệm: Báo cáo chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin và nhà đầu tư chỉ nên sử dụng báo cáo phân tích này như một nguồn tham khảo. Dautucophieu.net sẽ không chịu bất kỳ trách nhiệm nào trước nhà đầu tư cũng như đối tượng được nhắc đến trong báo cáo này về những tổn thất có thể xảy ra khi đầu tư hoặc những thông tin sai lệch về doanh nghiệp.
