DANH MỤC

Mobile / Zalo / Viber: 0912 842 224

Cập nhật cổ phiếu NT2 – Lo ngại từ giá khí tăng cao

Lượt xem: 343 - Ngày:
Chia sẻ

Mặc dù sản lượng khí từ các mỏ khí cũ thuộc bể Nam Côn Sơn dự kiến sẽ giảm mạnh từ 2020 trở đi, nguồn bổ sung từ các mỏ khí mới và lượng khí hóa lỏng nhập khẩu qua dự án LNG Thị Vải sẽ đảm bảo cung cấp đủ khí cho hoạt động của các nhà máy nhiệt điện khí ở khu vực Đông Nam Bộ. Tuy nhiên, do những mỏ khí cũ đồng thời cũng là những mỏ có giá khí tương đối thấp so với giá bình quân của cả khu vực, việc thay thế nguồn cung khí từ những mỏ này bằng các mỏ khí mới và khí nhập khẩu sẽ dẫn tới việc giá khí bình quân bán cho các nhà máy điện ở Đông Nam Bộ ngày càng tăng cao. Bên cạnh đó, do sản lượng hợp đồng (Qc) của nhóm nhiệt điện, trong đó có NT2 (Cổ phiếu NT2) được điều chỉnh giảm kể từ 2018, dự kiến KQKD của công ty sẽ càng trở nên nhạy cảm hơn trước biến động giá khí đầu vào.

Đồ thị cổ phiếu NT2 phiên giao dịch ngày 17/08/2018. Nguồn: AmiBrokerĐồ thị cổ phiếu NT2 phiên giao dịch ngày 17/08/2018. Nguồn: AmiBroker

Sẽ có đủ nguồn cung khí cho NT2 vận hành trong những năm tới. Mặc dù nguồn cung từ các mỏ khí thuộc bể Nam Côn Sơn như Lan Tây – Lan Đỏ, Rồng Đôi – Rồng Đôi Tây dự kiến sẽ giảm dần từ 3,9 tỷ m3 trong năm 2019 xuống 0,6 tỷ m3 trong năm 2023, các mỏ khí mới như Phong Lan Dại, Sao Vàng – Đại Nguyệt và Sư Tử Trắng sẽ bù đắp cho sự sụt giảm này. Cụ thể, mỏ Phong Lan Dại sẽ cung cấp khoảng 0,5 – 1,0 tỷ m3 khí mỗi năm từ 2019 đến 2022, trong khi đóng góp từ mỏ Sao Vàng – Đại Nguyệt và Sư Tử Trắng dự kiến sẽ tăng dần từ 0,5 tỷ m3 trong năm 2020 lên 3,2 tỷ m3 trong năm 2023. Ngoài ra, dự án LNG Thị Vải khi đi vào vận hành từ năm 2023 cũng có thể bổ sung thêm khoảng 1,5 tỷ m3 khí mỗi năm cho khu vực Đông Nam Bộ. Do đó, chúng tôi ước tính các nhà máy nhiệt điện khí trong khu vực sẽ có đủ nguồn nhiên liệu để vận hành trong những năm tới.

Do giá dầu đã liên tục tăng trong suốt một năm qua và dự kiến sẽ còn duy trì ở vùng giá cao như hiện tại, giá khí khả năng sẽ tiếp tục ở mức cao và làm giảm lợi nhuận của NT2. Bên cạnh đó, mặc dù tin tưởng nhà máy sẽ có đủ nguồn khí để vận hành, chúng tôi vẫn quan ngại về việc khi nguồn cung từ các mỏ khí có giá thành thấp giảm xuống, khu vực Đông Nam Bộ sẽ phải mua khí từ các mỏ có giá cao hơn khiến giá khí bình quân tăng lên.

Mỏ Lan Tây – Lan Đỏ (Lô 6.1) và Rồng Đôi – Rồng Đôi Tây (Lô 11.2) có giá bán tương đối thấp so với giá khí bình quân của khu vực. Do đó, khi tỷ trọng nguồn cung từ những mỏ này trong tổng nguồn khí của khu vực giảm xuống từ năm 2020, chúng tôi dự kiến giá khí bình quân bán cho các nhà máy điện trong khu vực, kể cả NT2 sẽ tăng lên.

Qc giảm khiến KQKD nhạy cảm hơn trước biến động giá dầu. Từ năm 2018, tỷ lệ sản lượng hợp đồng (Qc) trên sản lượng huy động dự kiến (AGO) của các nhà máy nhiệt điện giảm từ 90% xuống còn 85%. Do đó, Qc của NT2 năm nay ở mức 4.025 triệu kWh (-5.5% YoY).  Việc Qc giảm khiến mức sản lượng thực tham gia trên thị trường phát điện cạnh tranh (CGM) tăng lên. Ở CGM, giá bán phụ thuộc vào cung – cầu của hệ thống và cách chào giá của từng nhà máy thay vì neo theo giá khí như giá điện hợp đồng PPA. Bên cạnh đó, các nhà máy điện cạnh tranh với nhau chủ yếu dựa trên chi phí biến đổi nên việc giá nguyên liệu đầu vào tăng ít nhiều có ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh và tìm kiếm lợi nhuận từ CGM của NT2.

Mức lợi nhuận thấp cũng đặt dấu hỏi về khả năng duy trì mức cổ tức tiền cao như hiện nay của NT2 trong một vài năm tới. Trong tám tháng đầu năm 2018, NT2 đã chi có nghị quyết chi trả cổ tức tiền mặt tổng cộng 4.792 đồng/CP. Cộng với dự định tạm ứng cổ tức cho năm 2018 khoảng 1.500 đồng/CP, chúng tôi ước tính NT2 sẽ cần tới khoảng 1.800 tỷ đồng tiền mặt để trả cổ tức trong năm nay. Tuy nhiên, chúng tôi ước tính rằng nếu không tăng thêm nợ vay, dòng tiền tự do cho chủ sở hữu (FCFE) mà doanh nghiệp này tạo ra trong năm sẽ chỉ có khoảng 753 tỷ đồng. Như vậy sau khi sử dụng hết số dư tiền mặt và tiền gửi đầu kỳ cùng với dòng tiền tạo ra trong kỳ để trả cổ tức, rất có thể NT2 sẽ phải dùng đến nợ vay ngắn hạn để chi trả số cổ tức trên.

Mặc dù lợi nhuận giữ lại của NT2 hoàn toàn đủ để duy trì mức cổ tức 2.500 đồng/CP trong dài hạn, tốc độ trả nợ như hiện nay sẽ khiến dòng tiền tạo ra khó đáp ứng được mức cổ tức cao như vậy.

Nhìn chung, với những phân tích trên, chúng tôi cho rằng trừ khi sử dụng thêm nợ vay, NT2 khó có thể duy trì chính sách cổ tức ổn định khoảng 2.500 đồng/CP mỗi năm như hiện nay. Thay vào đó, mức cổ tức hợp lý có thể kỳ vọng cho giai đoạn 2019 – 2021 là khoảng 1.000 – 1.500 đồng/CP. Đây là mức thấp hơn khá nhiều so với kỳ vọng của thị trường hiện nay. Tuy nhiên, nhìn từ góc độ định giá, việc giá cổ phiếu giảm khá nhiều so với thời điểm đầu năm 2018 cũng đã khiến giá của NT2 hiện nay trở nên phù hợp với triển vọng hiện tại của doanh nghiệp.

Nguồn: VDSC

BÌNH LUẬN()

CÁC TIN LIÊN QUAN

Đối tác