DANH MỤC

Mobile / Fb / Zalo: 0912 842 224 | 0982 842 224

Cập nhật cổ phiếu GAS – LNST quý 3 năm 2019 giảm 10,3% so với cùng kỳ

Lượt xem: 159 - Ngày:
Chia sẻ

GAS đã công bố KQKD Q3/2019 với doanh thu thuần đạt 19.038 tỷ đồng (tăng 3,3% so với cùng kỳ) và LNST đạt 2.929 tỷ đồng (giảm 10,3% so với cùng kỳ). Tỷ suất lợi nhuận gộp đạt 22,7%; thấp hơn mức 26% trong Q3/2018, chủ yếu do giá dầu FO giảm 6,6% so với cùng kỳ.

Đồ thị cổ phiếu GAS phiên giao dịch ngày 05/11/2019. Nguồn: AmiBroker.

Lũy kế 9 tháng, doanh thu đạt 58.030 tỷ đồng (tăng 2,5% so với cùng kỳ), LNST đạt 9.061 tỷ đồng (giảm 0,2% so với cùng kỳ). Theo đó Công ty đã hoành thành được 90,8% kế hoạch doanh thu và 118,5% kế hoạch LNST đề ra cho cả năm.

Bảng 1:  KQKD Q3/2019

Kết luận nhanh

Duy trì đánh giá Nắm giữ. Giá mục tiêu chúng tôi đưa ra cho cổ phiếu GAS là 107.300đ; dựa trên phương pháp so sánh với P/E bình quân các doanh nghiệp cùng ngành trong khu vực. Hiện giá mục tiêu cao hơn 2,7% so với thị giá.

Cho năm 2019, chúng tôi điều chỉnh tăng 3,7% dự báo doanh thu lên 76.937 tỷ đồng (tăng trưởng 1,8%) từ dự báo trước đây là 74.190 tỷ đồng (giảm 1,9%). Trong khi đó, chúng tôi duy trì dự báo LNST, là 11.666 tỷ đồng (giảm 0,4%). EPS năm 2019 dự báo đạt 5.880đ; P/E dự phóng năm 2019 là 17,5 lần.

Cho năm 2020, HSC dự báo doanh thu đạt 84.849 tỷ đồng (tăng trưởng 10,2%) và LNST đạt 11.666 tỷ đồng (tăng trưởng 7,6%). EPS năm 2020 dự báo đạt 6.250đ; P/E dự phóng năm 2020 là 16,4 lần.

Triển vọng tăng trưởng cho GAS trong năm 2019 hạn chế do sản lượng từ các mỏ khí hiện tại đang bắt đầu giảm xuống mức thấp. Tuy nhiên mỏ Sư Tử Trắng Giai đoạn 2 và Sao Vàng – Đại Nguyệt sẽ đi vào hoạt động vào cuối năm 2020 nên triển vọng trung hạn (năm 2020 và 2021) vẫn tích cực.

KQKD Q3/2019

GAS công bố KQKD Q3 với doanh thu tăng và lợi nhuận giảm. Tổng doanh thu đạt 19.038 tỷ đồng (tăng 3,3% so với cùng kỳ) và LNST đạt 2.929 tỷ đồng (giảm 10,3% so với cùng kỳ).

Bảng 2:  Cơ cấu doanh thu năm 2019

Doanh thu Q3/2019 – Tăng trưởng nhẹ nhờ sản lượng khí tăng 4% so với cùng kỳ mặc dù giá bán bình quân giảm 5,1% so với cùng kỳ.

Trong Q3/2019, GAS tiêu thụ được khoảng 2,8 tỷ m3 khí khô, tăng 4% so với cùng kỳ.

Trong Q3/2019, giá bán bình quân đạt 4,95 USD/MMBTU, giảm 5% so với cùng kỳ.

Hiện tại, khoảng 83% sản lượng khí tự nhiên của GAS được bán dựa trên giá thị trường theo công thức: Giá bán = 46% giá dầu FO bình quân + phí vận chuyển + phí phân phối. Trong Q3/2019, giá dầu FO bình quân là 374 USD/thùng (giảm 6,6% so với cùng kỳ), từ đó giá bán bình quân của GAS tới khách hàng giảm 5,1% so với cùng kỳ.

Còn lại 17% sản lượng khí tự nhiên của GAS được bán theo giá cố định cho các nhà máy điện theo hợp đồng bao tiêu. Giá cố định thấp hơn khoảng 10% so với giá thị trường.

Lợi nhuận gộp Q3/2019 – Lợi nhuận gộp đạt 4.330 tỷ đồng (giảm 9,7% so với cùng kỳ), tỷ suất lợi nhuận là 22,8% thấp hơn mức 26% trong Q3/2018. Do giá dầu của GAS tính dựa trên giá dầu FO, nên tỷ suất lợi nhuận giảm chủ yếu là do giá dầu FO giảm 6,6% so với cùng kỳ.

Lợi nhuận tài chính tăng – Lợi nhuận tài chính trong Q3/2019 đạt 399 tỷ đồng (tăng 5,5% so với cùng kỳ), trong đó doanh thu HĐ tài chính đạt 477 tỷ đồng (giảm 2,2% so với cùng kỳ) trong khi chi phí tài chính là 48 tỷ đồng (giảm 38,9% so với cùng kỳ).

Doanh thu HĐ tài chính giảm chủ yếu do các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn của GAS giảm 5,6% trong Q3 so với Q2, trong đó toàn bộ là tiền gửi có kỳ hạn.

Trong khi đó chi phí tài chính giảm chủ yếu do chi phí lãi vay giảm nhờ vay nợ giảm trong Q3.

Chi phí bán hàng & quản lý – Chi phí bán hàng & quản lý trong Q3/2019 là 1.044 tỷ đồng (tăng 9,5% so với cùng kỳ). Tỷ lệ chi phí bán hàng & quản lý/doanh thu là 5,5% (Q3/2018 là 5,2%). Chi phí bán hàng & quản lý tăng cùng với sự tăng trưởng của doanh thu.

KQKD 9 tháng đầu năm 2019

Lũy kế 9 tháng doanh thu đạt 58.030 tỷ đồng (tăng 2,5% so với cùng kỳ) và LNST đạt 9.061 tỷ đồng (giảm 0,2% so với cùng kỳ). Theo đó Công ty đã hoàn thành được 90,8% kế hoạch doanh thu và 118,5% kế hoạch LNST đề ra cho cả năm. LNST thực hiện bằng 77,7% dự báo cho cả năm 2019 của HSC.

Sản lượng khí tiêu thụ 9 tháng đầu năm đạt 7,5 tỷ m3 (tăng 4% so với cùng kỳ) trong khi giá bán bình quân đạt 5,08 USD/MMBTU (giảm 2,7% so với cùng kỳ). Sản lượng khí tiêu thụ cao hơn 4,9% so với kỳ vọng của chúng tôi là 7,2 tỷ m3 trong khi giá bán bình quân 5,08 USD/MMBTU sát với kỳ vọng của chúng tôi là 5,1 USD/MMBTU.

Lợi nhuận gộp đạt 13.150 tỷ đồng (giảm 3,1% so với cùng kỳ), nói chung sát với kỳ vọng của chúng tôi. Tuy nhiên, tỷ suất lợi nhuận gộp là 22,7%; thấp hơn kỳ vọng của chúng tôi là 23,3%. Trong 9 tháng đầu năm, GAS đã hạch toán 390 tỷ đồng chi phí thu dọn cho một số giếng tại mỏ dầu Bạch Hổ vào giá vốn hàng bán. Trong dự báo trước đây, chúng tôi chưa đưa chi phí thu dọn mỏ nói trên vào mô hình, và đó là nguyên nhân chính khiến tỷ suất lợi nhuận gộp 9 tháng đầu năm thấp hơn kỳ vọng của chúng tôi.

Dự báo cho năm 2019

Cho năm 2019, HSC điều chỉnh tăng 3,7% dự báo doanh thu lên 76.937 tỷ đồng (tăng trưởng 1,7%) từ 74.190 tỷ đồng (giảm 1,9%) trước đây; trong khi về cơ bản giữ nguyên dự báo LNST tại 11.666 tỷ đồng (giảm 0,4%). Theo đó EPS đạt 5.867đ; P/E dự phóng đạt 18,2 lần. Giả định chính của chúng tôi cho từng mảng kinh doanh như sau.

Bảng 3:  Dự báo tổng doanh thu

  1. Doanh thu từ mảng khí

Mảng kinh doanh khí gồm các hoạt động: bán khí tự nhiên, vận chuyển khí tự nhiên, kinh doanh khí hóa lỏng (LPG) và các sản phẩm liên quan đến khí như khí ngưng tự và khí nén tự nhiên (CNG). Mảng kinh doanh khí đóng góp 99,8% tổng doanh thu.

Chúng tôi dự báo doanh thu từ mảng khí sẽ đạt 76.747 tỷ đồng (tăng trưởng 1,68%) trong năm 2019, cao hơn 3,7% so với dự báo trước đây của chúng tôi. Giả định chính của chúng tôi là:

  • Chúng tôi điều chỉnh tăng 5,4% dự báo sản lượng tiêu thụ lên 10.047 triệu m3 (tăng 0,46%) từ 9.536 triệu m3 sau khi sản lượng 9 tháng đầu năm đạt cao.
  • Chúng tôi duy trì giá bán bình quân khí khô là 5,1 USD/MMBTU (giảm 4,1%) sau khi giá dầu FO bình quân giảm 4,7%.
  • Chúng tôi duy trì dự báo giá khí đầu vào bình quan là 4,2 USD/MMBTU (tăng 3,8%) do giá đầu vào của GAS từ các mỏ khí tăng 2-4%/năm.
  • Chúng tôi dự báo tổng sản lượng LPG tiêu thụ đạt 1.210.000 tấn (tăng 2,4%) bằng với mức tăng trưởng tiêu thu LPG của Việt Nam.
  • Chúng tôi dự báo giá bán bình quân LNG đạt 825 USD/tấn (giảm 15%) do giá dầu thô bình quân giảm 10%.
  1. Doanh thu khác

Doanh thu khác về cơ bản là tiền cho thuê tòa PVGas Tower khi cho thuê các doanh nghiệp khác. Doanh thu khác chỉ đóng góp một phần rất nhỏ vào tổng doanh thu của GAS (khoảng 0,24% trong năm 2019 và 0,18% trong năm 2018). Do đóng góp không đáng kể và tương đối ổn định, chúng tôi giả định doanh thu khác năm 2019 sẽ tương đương năm 2018.

  1. Giá vốn hàng bán

Chúng tôi điều chỉnh tăng giá vốn hàng bán do có chi phí thu dọn mỏ khi đóng một số giếng tại mỏ khí Bạch Hổ. Trong năm 2019, GAS dự kiến hạch toán tổng cộng 800 tỷ đồng chi phí dọn mỏ cho một số giếng tại mỏ khí Bạch Hổ (trong đó 390 tỷ đồng đã được hạch toán vào Q2/2019; còn lại sẽ được hạch toán vào Q4/2019). Trong dự báo trước đây, chúng tôi chưa đưa vào chi phí này.

Chi phí thu dọn mỏ (còn được gọi là nghĩa vụ hưu trí tài sản) là chi phí doanh nghiệp phải bỏ ra để hồi phục thực trạng cảnh quan tại mỏ dầu hoặc mỏ khí khi các mỏ này được khai thác hết.

  1. Chi phí bán hàng & quản lý

Chúng tôi dự báo chi phí bán hàng & quản lý là 3.783 tỷ đồng (tăng 0,8%), tỷ lệ chi phí bán hàng & quản lý/doanh thu là 5,1%; cao hơn một chút so với mức 5% trong năm 2018.

Tóm lại, chúng tôi dự báo LNTT và LNST năm 2019 lần lượt đạt 14.492 tỷ đồng (giảm 0,3%) và 11.666  tỷ đồng (giảm 0,4%). EPS đạt 5.867đ; P/E dự phóng là 18,2 lần.

Dự báo cho năm 2020

Cho năm 2020, HSC dự báo doanh thu đạt 84.849 tỷ đồng (tăng trưởng 10,2%) và LNST đạt 12.447 tỷ đồng (tăng trưởng 7,6%).

  1. Doanh thu mảng khí

Chúng tôi dự báo doanh thu mảng khí đạt 84/659 tỷ đồng (tăng trưởng 3,62%) trong năm 2020 với giả định chính như sau.

  • Chúng tôi dự báo GAS tiêu thụ được 10.384 m3 khí tự nhiên (tăng 3,46%) nhờ mỏ Sao Vàng – Đại Nguyệt cung cấp dòng khí đầu tiên vào Q3/2020.
  • Chúng tôi dự báo giá bán bình quân khí khô đạt 5,7 USD/MMBTU (tăng 5%) do: (1) giá dầu tăng 3%, và (2) phần khí bán theo giá thị trường tăng lên 100% từ 83% trong năm 2019.
  • Chúng tôi ước tính giá đầu vào bình quân là 4,6 USD/MMBTU (tăng 9,5%) do giá khí tự nhiên đầu vào từ mỏ Sao Vàng – Đại Nguyệt cao hơn các mỏ khí hiện tại.
  • Chúng tôi dự báo sản lượng LPG sẽ đạt 1.240.000 tấn (tăng 2,5%) cùng với đà tăng của nhu cầu tiêu thụ trong nước.
  • Chúng tôi dự báo giá bán bình quân LNG là 852 USD/tấn (tăng 3%) do giá dầu thô bình quân tăng 3%.
  1. Doanh thu khác

Doanh thu khác về cơ bản là tiền cho thuê tòa PVGas Tower khi cho thuê các doanh nghiệp khác. Doanh thu khác chỉ đóng góp một phần rất nhỏ vào tổng doanh thu của GAS (khoảng 0,24% trong năm 2019). Do đóng góp không đáng kể và tương đối ổn định, chúng tôi giả định doanh thu khác năm 2019 sẽ tương đương năm 2019.

  1. Giá vốn hàng bán

Bên cạnh chi phí đầu vào thông thường ở sản phẩm khí tự nhiên và LPG, chúng tôi dự báo GAS sẽ hạch toán 700 tỷ chi phí thu dọn mỏ cho một số giếng tại mỏ Bạch Hổ. Mỏ Bạch Hổ đang hết dầu và khí, sẽ đóng mỏ hoàn toàn vòa năm 2022. Do vậy, GAS sẽ phải chi chi phí thu dọn mỏ cho một số giếng từ năm 2019 đến năm 2022.

  1. Chi phí bán hàng & quản lý

Chúng tôi dự báo chi phí bán hàng & quản lý là 4.242 tỷ đồng (tăng 8,12%), tỷ lệ chi phí bán hàng & quản lý/doanh thu là 5%; thấp hơn một chút so với mức 5,1% trong năm 2019.

Tóm lại, chúng tôi dự báo LNTT và LNST năm 2019 lần lượt đạt 15.594 tỷ đồng (tăng 7,6%) và 15.553  tỷ đồng (tăng 7,6%). EPS đạt 6.250đ; P/E dự phóng là 16,4 lần.

Triển vọng dài hạn

Dự án Nam Côn Sơn 2 giai đoạn 2 đã đi vào hoạt động – Trong 9 tháng đầu năm 2019, GAS đã chi xấp xỉ 1.045 tỷ đồng chi phí xây dựng cơ bản, tăng 54% so với năm 2018. Hầu hết chi phí đầu tư xây dựng cơ bản được chi trong Q3 cho dự án Nam Côn Sơn 2 giai đoạn 2. Các dự án khác như dự án hệ thống đường ống Lô B Ô Môn, cảng LNG Sơn Mỹ và cảng LNG Thị Vải gần như không có tiến triển từ đầu năm.

Nam Côn Sơn 2 giai đoạn 2 là dự án đường ống dài 210 km, kết nối các mỏ khí mới tại bể Nam Côn Sơn, bao gồm các mỏ Sao Vàng – Đại Nguyệt.

Tổng chi phí đầu tư cho Nam Côn Sơn 2 giai đoạn 2 là 640 triệu USD. Đến cuối tháng 9, dự án đã hoàn thành được 10%. Chúng tôi tin tưởng rằng GAS triển khai tích cực và hoàn thành dự án Nam Côn Sơn 2 giai đoạn 2 đúng kế hoạch, theo đó hệ thống đường ống dẫn khí mới này có thể nhận khí từ các mỏ khí Sao Vàng Đại Nguyệt.

Bảng 4:  Các dự án

Định giá

Chúng tôi đưa ra giá mục tiêu cho cổ phiếu GAS là 107.300đ dựa trên phương pháp so sánh P/E các doanh nghiệp cùng ngành trên thế giới với P/E bình quân năm 2020 là cơ sở chính. Do GAS không có doanh nghiệp cùng ngành niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, nên chúng tôi đã lựa chọn 17 doanh nghiệp cung cấp khí tự nhiên thông qua hệ thống đường ống dẫn khí với vốn hóa thị trường gần giống GAS để so sánh.

Trong 5 năm qua, chúng tôi thấy P/E của cổ phiếu GAS luôn cao hơn mức bình quân. Chúng tôi tin rằng mức chênh này là do:

  • Vị thế độc quyền của GAS trong ngành khí tự nhiên tại Việt Nam.
  • Tỷ suất sinh lời của GAS cao hơn với tỷ suất lợi nhuận thuần, ROE và ROA cao hơn
  • Tỷ lệ freefloat của cổ phiếu GAS thấp (chỉ 80,35 triệu đơn vị) trong khi tỷ trọng của cổ phiếu này trong Vnindex là 6,2%.

P/E của GAS thường cao hơn khoảng 5-25% so với mức bình quân; phụ thuộc vào triển vọng tăng trưởng và kỳ vọng giảm tỷ lệ sở hữu nhà nước tại GAS.

Với triển vọng tăng trưởng trong 2 năm tới hạn chế và có khả năng nhà nước giảm tỷ lệ sở hữu tại GAS trong năm 2021, chúng tôi cho rằng P/E của GAS xứng đáng cao hơn 10% so với mức bình quân các doanh nghiệp cùng ngành được lựa chọn. Theo đó giá trị hợp lý của cổ phiếu GAS là 107.300đ; cao hơn 2,7% so với thị giá hiện tại.

 Bảng 5:  Định giá bằng phương pháp so sánh P/E

Quan điểm đầu tư

Duy trì đánh giá Nắm giữ do triển vọng tích cực đã được phản ánh hết vào giá cổ phiếu. Giá mục tiêu chúng tôi đưa ra cho cổ phiếu GAS là 107.300đ dựa trên so sánh với các doanh nghiệp cùng ngành trong khu vực.

Triển vọng tăng trưởng của GAS trong năm 2019 hạn chế do sản lượng từ các mỏ khí hiện tại đang bắt đầu giảm. Tuy nhiên mỏ Sư Tử Trắng giai đoạn 2 và Sao Vàng – Đại Nguyệt sẽ đi vào hoạt động vào cuối 2020, nên triển vọng trung hạn trong 2020 và 2021 vẫn tích cực.

                                                                  Nguồn: HSC

 

BÌNH LUẬN()

CÁC TIN LIÊN QUAN

Đối tác

0912 842 224 Mở tài khoản CK