DANH MỤC

Mobile / Fb / Zalo: 0912 842 224 | 0982 842 224

Cập nhật cổ phiếu VPB – Tăng trưởng phục hồi mạnh trong quý 4

Lượt xem: 818 - Ngày:
Chia sẻ

VPBank (Cổ phiếu VPB) vừa tổ chức cuộc họp cập nhật kết quả kinh doanh dựa trên báo cáo tài chính chưa được kiểm toán với những thông tin chính như sau:

Tăng trưởng phục hồi mạnh trong quý 4

Đồ thị cổ phiếu VPB phiên giao dịch ngày 18/02/2019. Nguồn: AmiBrokerĐồ thị cổ phiếu VPB phiên giao dịch ngày 18/02/2019. Nguồn: AmiBroker

Tổng dư nợ năm 2018 ở mức 230,3 nghìn tỷ đồng, + 17,1% YoY, lợi nhuận trước thuế ở mức 9.199 tỷ đồng, + 13,1% YoY. Cụ thể:

• Tổng dư nợ cho vay và lãi trước thuế của ngân hàng mẹ ước tính ở mức 177 nghìn tỷ đồng, + 16,6% YoY và 7.934 tỷ đồng, + 41% YoY.

• Tổng dư nợ tín dụng và lãi trước thuế được dự báo ở mức 53,3 nghìn tỷ đồng, + 18,9% YoY và 4,14 nghìn tỷ đồng, -1,4% YoY.

Tăng trưởng tín dụng năm 2018 ảm đạm đến quý 3 và hầu hết tăng trưởng trong năm đã ghi nhận trong quý 4 khi ghi nhận 49% tăng trưởng tín dụng năm 2018 của ngân hàng mẹ và 78% tăng trưởng tín dụng năm 2018 của FE Credit.

Tại FE Credit, tăng trưởng dư nợ ảm đạm trong 3 quý đầu tiên do mức giảm trừ cao (trả nợ và xóa nợ xấu), nhưng tăng vọt trong quý 4 nhờ mức giải ngân mới tăng cao do các yếu tố mùa vụ và động lực từ phân khúc bán hàng mới (bán chéo cho khách hàng hiện tại và thẻ tín dụng). Đối với các khoản giải ngân cho vay mới trong quý 4, hàng tiêu dùng và ô tô chiếm 31%, giảm từ mức trung bình 46,3% trong 9T2018.

Trong tổng danh mục cho vay hợp nhất, tỷ lệ cho vay tín chấp vẫn ổn định so với năm 2017 ở mức 35%. Tương tự, cho vay vào bốn phân khúc chiến lược chính (bao gồm tài chính tiêu dùng thông qua FE Credit, khách hàng cá nhân, CommCredit và khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ, v.v.) chiếm 69% tổng số, giống như năm ngoái.

Cải thiện chất lượng tài sản so với quý 3

Tỷ lệ nợ xấu theo tiêu chuẩn kế toán Việt Nam (VAS) cao hơn so với năm 2017 nhưng thấp hơn so với quý 3 năm 2018, 2,41% tại ngân hàng mẹ (so với 2,33% năm 2017 và 3,68% trong quý 3 năm 2018) và 5,98% tại FE Credit (so với 5% năm 2017 và 6,36% trong quý 3 năm 2018). Tỷ lệ nợ xấu hợp nhất là 3,21% (so với 2,89% trong năm 2017 và 4,24% trong quý 3 năm 2018). Tỷ lệ nợ xấu của FE Credit được tính toán trên cơ sở IFRS là 4,8% vào năm 2018.

Chi phí dự phòng tăng mạnh + 40,6% YoY lên 11,25 nghìn tỷ đồng. Năm 2018, ngân hàng đã xóa tổng cộng 10.676 tỷ đồng nợ xấu, tăng + 62,7% YoY. Cụ thể, ngân hàng mẹ đã xóa 3,24 nghìn tỷ đồng, tăng 99% YoY và FE Credit đã xóa 7,43 nghìn tỷ đồng, tăng 50,8% YoY.

Do đó, tỷ lệ dự phòng bao nợ xấu cải thiện nhẹ so với năm 2017 và quý 3 năm 2018 tại ngân hàng mẹ (52,7% năm 2018 so với 52,6% năm 2017 và 42,4% trong quý 3 năm 2018), nhưng giảm ở FE Credit (36,1% trong năm 2018 so với 47,5% trong năm 2017 và 40,3% trong quý 3 năm 2018). Điều này là do tỷ lệ tổn thất tín dụng ròng so với trung bình dư nợ của FE Credit đã giảm từ 11,5% năm 2017 xuống còn 10,8% trong năm 2018.

Thu nhập từ nợ xấu đã xóa tăng mạnh

Ngân hàng ghi nhận thu nhập từ nợ xấu đã xóa tăng mạnh ở mức 191%, đạt 3,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,3% tổng thu nhập từ hoạt động (TOI) trong báo cáo hợp nhất. Điều này là do tăng trưởng ở cả ngân hàng mẹ và FE Credit. Cụ thể, giá trị thu nhập từ nợ xấu đã xóa ở ngân hàng mẹ đạt 982 tỷ đồng, tăng 242% YoY, trong khi con số này ở FE Credit là 2,21 nghìn tỷ đồng tăng 172,6% YoY. Tỷ lệ thu hồi tương ứng là 51% đối với ngân hàng mẹ và 75% đối với FE Credit, dựa trên khoản nợ đã xóa cách đây 2 năm, trong năm 2016. Tỷ lệ này tương ứng so với 25% đối với ngân hàng mẹ và 100% đối với FE Credit vào năm trước. Ngân hàng đã ghi nhận 50% nợ xấu đã xóa trong quý 4 khi hoạt động thu hồi nợ xấu được đẩy mạnh.

Tái cấu trúc nguồn vốn nhằm giảm chi phí

Tổng tiền gửi khách hàng chỉ tăng 9,9% YoY, thấp hơn nhiều so với tăng trưởng tín dụng là 17,3% YoY và thấp hơn so với tăng trưởng tiền gửi của toàn hệ thống là 11,56% YoY.

Nỗ lực giảm chi phí huy động vốn do tăng trưởng tín dụng chậm trong 9T2018, kể từ nửa đầu năm 2018, ngân hàng đã tăng huy động liên ngân hàng từ 10% lên 16% trong tổng tiền gửi, với tiền gửi có kỳ hạn từ các ngân hàng khác tăng 128% YoY. Ngoài ra, ngân hàng cũng giải quyết vấn đề bằng cách huy động 2 nghìn tỷ đồng tiền gửi mới từ kho bạc Nhà nước, thường là các khoản tiền gửi không kỳ hạn với mức chi phí thấp. Đồng thời, VPB giảm tỷ trọng tiền gửi trung và dài hạn và các công cụ tiền gửi khác (các khoản có chi phí cao) trong danh mục huy động từ 49% trong năm 2017 chỉ còn 33% trong năm 2018 (cụ thể, huy động ngắn hạn tăng tỷ trọng trong danh mục huy động vốn). Cùng thời điểm đó, tiền gửi khách hàng cá nhân và các khoản tiền gửi khác so với tổng huy động vốn giảm từ 84% xuống 79% trong kỳ (huy động vốn tại liên ngân hàng tăng để bù đắp lại khoản giảm). Việc tái cấu trúc giúp ngân hàng duy trì mức chi phí huy động vốn thấp là 6,1% mỗi năm trong bối cảnh lãi suất tiền gửi tăng trong nửa cuối năm 2018.

Với lợi thế từ nguồn vốn chủ sở hữu dồi dào, tỷ lệ vốn ngắn hạn dùng cho vay trung – dài hạn ở mức thấp, đạt 30,3% trong năm 2017. Để cải thiện tỷ lệ NIM, chỉ số này được tăng lên 33,6% trong năm 2018. Đồng thời, tỷ lệ dư nợ tín dụng/vốn huy động tăng từ 71,3% lên đến 73,7%, giúp tỷ lệ NIM ổn định ở mức 9% tương đương với năm 2017.

Điều dáng lưu ý là phân khúc ngân hàng khách hàng cao cấp hiện chiếm 75% tổng vốn huy động của ngân hàng, 50% doanh thu bán bảo hiểm và 100% doanh thu sản phẩm đầu tư.

Thu nhập từ phí có sự khác biệt giữa ngân hàng mẹ và FE Credit

Thu nhập từ phí hợp nhất tăng trưởng 10,3% YoY. Trong mức tăng trưởng này, 97,4% do ngân hàng mẹ và chỉ có 2,6% từ FE Credit.

Cụ thể, thu nhập từ phí của ngân hàng mẹ tăng 67,4% với tăng trưởng mạnh mẽ trên tất cả các sản phẩm bao gồm bancassuarance (+76,7% YoY), thẻ tín dụng (+75,7% YoY), dịch vụ thanh toán (+67,4% YoY) và phí thẻ/tài khoản (+67,4% YoY). Bancassurance là động lực tăng trưởng chính, chiếm 37% tổng thu nhập từ phí trong năm 2018.

Ngược lại, thu nhập từ phí ở FE Credit giảm 92% YoY từ 523,5 tỷ đồng trong năm 2017 chỉ còn khoảng 42,5 tỷ đồng trong năm 2018. Thu nhập từ phí giảm do 2 nguyên nhân chính. Đầu tiên, chúng tôi ước tính doanh thu từ bancassurance giảm 11% YoY trong năm 2018 so với năm 2017. Công ty lâu này chủ yếu dựa vào phí bảo hiểm, khoản phí này giảm gần đây do quy định mới của Bộ Tài chính về việc điều chỉnh mức phí hoa hồng trả cho các bên trung gian có hiệu lực từ năm 2017 là 10%, thấp hơn so với mức phí trước là 15%. Hiện nay, tỷ lệ các khoản cho vay khách hàng có mua bảo hiểm rủi ro tín dụng và tài chính là 90%. Thứ hai, các khoản cho vay tiêu dùng và vay mua xe máy là hoạt động chính trong 9 tháng đầu năm, chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng cho vay. Tuy nhiên, phí bảo hiểm cho các khoản vay này được trả cho các nhà phân phối thay vì FE Credit. Thứ ba, phí hoa hồng cho môi giới tăng 56% YoY trong năm 2018.

Cập nhật công tác số hóa, tối ưu hóa vận hành và tăng cường quản lý rủi ro

VPBank hiện nay có nhiều nền tảng kỹ thuật số khác nhau để phục vụ tất cả các phân khúc chiến lược của ngân hàng bao gồm: VPBank Dream, SME, Connect, SmarLEAD, Yolo, v.v Trong số gần 25.000 thẻ tín dụng được phát hành hàng tháng, có đến 1/3 số thẻ phát hành qua kênh kỹ thuật số. 93% giao dịch hiện tại của ngân hàng đều qua kỹ thuật số và chỉ 7% giao dịch được thực hiện tại quầy. Các tỷ lệ này dự kiến sẽ tăng hơn nữa trong năm 2019.

Tự động hóa đang được áp dụng quy mô lớn cho FE Credit. Ngân hàng hy vọng sẽ giảm thiểu rủi ro tín dụng bằng cách chọn lọc khách hàng hơn. Quản lý rủi ro sẽ được thực hiện qua 2 lớp. Lớp thứ nhất là tính xác suất rủi ro (PD) dựa trên trí tuệ nhân tạo (Al), máy học (machine learning), dữ liệu lớn (big data), và số liệu phân tích trước đó để lựa chọn khách hàng tốt hơn từ toàn bộ dân số. Lớp thứ 2 tập trung vào phòng chống lừa đảo bằng cách sử dụng công nghệ định dạng khuôn mặt (đã áp dụng kể từ tháng 8/2018) và kết hợp với các công nghệ khác nhằm kiểm tra cơ sở khách hàng lần nữa dựa trên dữ liệu quốc gia về dân cư. Sim điện thoại di động hiện đã được liên kết với số căn cước công dân, đây là yếu tố hỗ trợ cho vay bảo lãnh tự động. CEO ngân hàng kỳ vọng tỷ lệ cho vay kỹ thuật số đối với FE Credit sẽ tăng lên mức 50% trong thời gian sắp tới.

Chúng tôi xem các bước này là rất quan trọng đối với việc quản lý rủi ro của ngân hàng và kỳ vọng việc mức nợ xấu hình thành mới sẽ giảm trong các quý tới.

Tập trung vào thẻ tín dụng

Thẻ tín dụng là trọng tâm của cả ngân hàng mẹ VPBank và FE Credit. Thu nhập phí của thẻ tín dụng cũng tốt hơn từ các khoản vay vì ngân hàng không có được nhiều thu nhập đáng kể từ phí đối với các khoản vay theo quy định của NHNN, ngoại trừ các khoản phí liên quan đến nợ quá hạn hoặc thanh toán sớm. Ngược lại, ngân hàng có đến 5-6 khoản phí liên quan đến thẻ tín dụng.

Sau 6 năm phát triển kinh doanh thẻ, vào cuối quý 3/2018, VPB phát hành tổng cộng 450.000 thẻ tín dụng tăng 66% YoY, chiếm 9,7% thị phần. Tổng giá trị Giao dịch thẻ đạt 399 triệu USD (+70% YoY), tương ứng 18,1% toàn thị trường. Chi tiêu trung bình hàng tháng cho mỗi thẻ đạt 294 USD, +2% YoY, tương ứng 1,86 lần trung bình toàn thị trường FE Credit là nhân tố chính trong tăng trưởng tích cực mảng thẻ tín dụng của VPB, chiếm 58,8% giá trị giao dịch thẻ trong năm 2018.

FE Credit có kế hoạch đầy tham vọng về việc tiếp tục mở rộng kinh doanh thẻ tín dụng vào năm 2019. Công ty kỳ vọng sẽ tăng thu nhập từ phí từ thẻ tín dụng để bù đắp phí bảo hiểm. Dựa trên dữ liệu lịch sử của FE Credit, tỷ lệ sử dụng thẻ tiếp tục tăng trưởng, đạt 50% sau 12 tháng phát hành thẻ. Do đó, công ty kỳ vọng dư nợ thẻ tín dụng, hiện chiếm 7% tổng dư nợ, sẽ tăng trưởng +157% YoY năm 2019 và đạt 9.940 tỷ đồng.

Quan điểm của chúng tôi

Kết quả kinh doanh của VPBank năm 2018 sát với dự báo của chúng tôi như đã đề cập trong báo cáo trước đây của chúng tôi. Chúng tôi thấy rằng tăng trưởng tín dụng và chất lượng tài sản của VPB đã cải thiện trong Q4/2018. Mặt khác, sự biến động trong thu nhập từ phí và sự thay đổi trong cơ cấu huy động là một điều bất ngờ đối với chúng tôi. Ngân hàng chưa công bố kế hoạch kinh doanh năm 2019.

Dự báo hiện tại của chúng tôi cho VPB năm 2019 bao gồm tăng trưởng tổng tài sản, tiền gửi và tín dụng lần lượt là 14,3%, 16,2% và 16,3%. Chúng tôi dự kiến LNTT năm 2019 ở mức 10,16 nghìn tỷ đồng, tăng 10,5% YoY. EPS và BVPS được dự báo lần lượt là 3.308 đồng và 17.563 đồng.

Với mức giá hiện tại là 19.700 đồng / cổ phiếu, VPB đang giao dịch ở mức PE và PB 2019 lần lượt là 6x và 1,12x, khá thấp so với mức trung bình toàn hệ thống là 9,1x và 1,38x.

Nguồn: SSI

BÌNH LUẬN()

CÁC TIN LIÊN QUAN

Đối tác

Gọi ngay
Messenger
Zalo chát
Mở tài khoản
Góp ý