DANH MỤC

Mobile / Zalo: 0989 490 980

Cập nhật cổ phiếu VPB – Phát hành riêng lẻ nâng cao giá trị

Lượt xem: 2,147 - Ngày:

Nâng khuyến nghị lên Mua vào dựa trên triển vọng cải thiện & kế hoạch phát hành riêng lẻ

HSC nâng 12% giá mục tiêu lên 45.800đ (tiềm năng tăng giá 34%) sau khi nâng dự báo lợi nhuận và chuyển thời điểm định giá đến cuối năm 2022. Dự báo mới của chúng tôi dựa trên triển vọng Ngân hàng mẹ vẫn tích cực và FEC sẽ hồi phục đáng kể (sau khi bị ảnh hưởng tiêu cực trong năm 2021). Sau khi tăng mạnh trong năm nay, hiện P/B dự phóng đã cao hơn bình quân quá khứ nhưng vẫn thấp hơn 11% so với bình quân nhóm NHTM tư nhân. Đáng chú ý là kế hoạch phát hành riêng lẻ được chúng tôi kỳ vọng thực hiện vào nửa đầu năm 2022 ở mức P/B dự phóng năm 2022 trên 2 lần có thể giúp nâng 12-20% BVPS của VPB và giúp P/B dự phóng năm 2022 giảm xuống 1,2-1,3 lần; là một mức định giá hấp dẫn đối với cổ phiếu VPB. Nâng khuyến nghị lên Mua vào. 

Đồ thị cổ phiếu VPB phiên giao dịch ngày 31/12/2021. Nguồn: AmiBroker

Nâng dự báo lợi nhuận năm 2021-2023 nhờ Ngân hàng mẹ

Lợi nhuận thuần hợp nhất VPB Q3/2021 kém khả quan, đạt 2.161 tỷ đồng (giảm 4% so với cùng kỳ và giảm 46% so với quý trước). KQKD Ngân hàng mẹ khả quan với lợi nhuận thuần đạt 2.356 tỷ đồng (tăng 46% so với cùng kỳ). Tuy nhiên Q3/2021 là quý khó khăn nhất đối với công ty con trong lĩnh vực tài chính tiêu dùng là FEC (VPB nắm 50% cổ phần) với khoản lỗ thuần là 246 tỷ đồng. Lũy kế 9 tháng đầu năm, lợi nhuận thuần hợp nhất đạt 9.397 tỷ đồng (tăng 25% so với cùng kỳ) với lợi nhuận thuần Ngân hàng mẹ đạt 8.700 tỷ đồng (cao hơn kỳ vọng và tăng 75% so với cùng kỳ) trong khi lợi nhuận thuần của FEC đạt 679 tỷ đồng (giảm 73,5% so với cùng kỳ và không đạt kỳ vọng của HSC).

KQKD Q3/2021 của FEC tiêu cực vì hạn chế đi lại chống dịch Covid-19 gây ra vấn đề trong hoạt động (khách hàng chậm trả nợ vì không thể đến các điểm bán hàng, việc thu nợ bị chậm vì không thể gặp mặt trực tiếp) cũng như làm giảm chất lượng các khoản vay vì người dân với thu nhập trung bình – phân khúc khách hàng chính của FEC – bị mất/giảm thu nhập. Tuy nhiên, HSC kỳ vọng FEC sẽ hồi phục đáng kể khi các ảnh hưởng của dịch bệnh dịu xuống.

Dựa trên KQKD 9 tháng đầu năm 2021 và tác động tích cực từ sự hồi phục của nền kinh tế, HSC nâng 3,4% dự báo lợi nhuận năm 2021 (nâng 15,9% dự báo cho Ngân hàng mẹ và giảm 70% dự báo của FEC). Chúng tôi lần lượt nâng 9,2% và 11% dự báo năm 2022 và 2023 lên 16.391 tỷ đồng (tăng trưởng 32,7%) và 20.446 tỷ đồng (tăng trưởng 24,7%).

Lý do chính HSC nâng dự báo lợi nhuận thuần năm 2022-2023 là: giảm giả định chi phí hoạt động vì chúng tôi thấy rằng nền tảng ngân hàng số được VPB đầu tư giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng. Trong khi đó HSC chỉ điều chỉnh nhẹ giả định tổng thu nhập hoạt động và chi phí dự phòng.

Bảng 1: Điều chỉnh các giả định chính, VPB 

Kế hoạch phát hành riêng lẻ là động lực tích cực và chưa được phản ánh

Giá Cổ phiếu VPB đã tăng 86% trong 12 tháng qua, vượt 16% so với mức tăng bình quân của các ngân hàng khác (Biểu đồ 2). Giá VPB tăng mạnh một phần là nhờ cổ phiếu ngành ngân hàng nói chung được định giá lại ở mặt bằng cao hơn trong nửa đầu năm 2021, nhưng quan trọng nhất là nhờ thành công của thương vụ thoái vốn 50% tại FEC, giúp nâng BVPS năm 2021 của VPB thêm khoảng 35%.

Nói chung, VPB có khẩu vị rủi ro cao hơn các ngân hàng khác và mảng cho vay không có tài sản đảm bảo (tài chính tiêu dùng) sẽ chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực của dịch bệnh. HSC cho rằng Q3/2021 là quý tiêu cực nhất của VPB và rủi ro đã phản ánh hết vào giá. Hệ số ROE năm 2022-2023 sẽ chịu áp lực giảm sau khi thoái bớt vốn khỏi FE Credit (HSC dự báo hệ số ROE giai đoạn 2022-2023 sẽ khoảng 17%), nhưng bộ đệm vốn cao với CAR khoảng 16-17% sẽ giúp Ngân hàng có thể đạt tốc độ tăng trưởng tài sản và lợi nhuận cao hơn các ngân hàng khác (HSC dự báo lợi nhuận thuần giai đoạn 2021-2023 của VPB tăng trưởng với tốc độ CAGR là 28,7% so với 24% bình quân các ngân hàng khác).

Hiện VPB có P/B trượt dự phóng 1 năm là 1,46 lần (dự phóng năm 2022 là 1,43 lần), cao hơn 0,25 độ lệch chuẩn so với bình quân quá khứ nhưng thấp hơn 11% so với bình quân nhóm NHTM tự nhân (Biểu đồ 3-5). Tại giá mục tiêu mới, P/B dự phóng năm 2022 của VPB là 1,94 lần; tương đương bình quân nhóm NHTM tư nhân.

Lưu ý là HSC chưa đưa vào mô hình dự báo kế hoạch phát hành riêng lẻ sắp tới vì hiện chưa có nhiều thông tin về thời gian và mức định giá. Tuy nhiên, trong phân tích kịch bản của chúng tôi cho đợt phát hành riêng lẻ này, nếu VPB có thể thực hiện kế hoạch này trong năm 2022 tại mức P/B dự phóng năm 2022 trên 2 lần, thì BVPS có thể tăng 12-21%, nghĩa là P/B dự phóng năm 2022 chỉ còn 1,2-1,3 lần; là một mức định giá hấp dẫn đối với cổ phiếu VPB. Rủi ro ở đây là thương vụ này bị trì hoãn hoặc được thực hiện ở mức định giá thấp hơn kỳ vọng của chúng tôi.

Biểu đồ 2: Diễn biến giá cổ phiếu trong 1 năm qua 

Biểu đồ 3: Chênh lệch/chiết khấu định giá P/B của VPB so với BQ các ngân hàng khác 

Biểu đồ 4: P/B dự phóng lịch sử 1 năm của VPB 

Biểu đồ 5: Độ lệch chuẩn so với P/B bình quân VPB 

Nâng dự báo lợi nhuận nhờ hiệu quả hoạt động cải thiện

HSC nâng 3,4% dự báo lợi nhuận thuần năm 2021 lên 12.348 tỷ đồng (tăng trưởng 18,6%) sau khi hạ 17% giả định chi phí hoạt động nhưng cũng giảm nhẹ 1,9% giả định tổng thu nhập hoạt động và nâng đáng kể 14,6% giả định chi phí dự phòng. Chúng tôi cũng lần lượt nâng 9,2% và 11% dự báo lợi nhuận thuần năm 2022 và 2023; chủ yếu vì hạ giả định chi phí hoạt động trong khi không điều chỉnh nhiều giả định tổng thu nhập hoạt động và chi phí dự phòng.

Duy trì dự báo tăng trưởng tín dụng năm 2022-2023

Tín dụng hợp nhất tăng 8,1% so với đầu năm nhờ tín dụng Ngân hàng mẹ tăng 11,6% mặc dù dư nợ cho vay tại FE Credit giảm 10,6%. Cho vay khách hàng cá nhân (đặc biệt là cho vay mua nhà, tăng 35% so với đầu năm) và cho vay DNNVV là động lực tăng trưởng tín dụng chính trong 9 tháng đầu năm 2021.

Ngân hàng mẹ đã được giao hạn mức tăng trưởng tín dụng cao hơn là 17,1% vào tháng 11 (từ 12% trước đó) trong khi hạn mức dành cho FEC giả định vẫn ở khoảng 10-12%. HSC tin rằng Ngân hàng mẹ sẽ sử dụng hết hạn mức tăng trưởng tín dụng được giao nhưng tăng trưởng cho vay của FEC năm 2021 sẽ chỉ đạt 2%.

Từ đó, hạn mức tăng trưởng tín dụng hợp nhất ước tính là 13,9%. HSC giữ nguyên dự báo tăng trưởng tín dụng năm 2022-2023 là 18,1% (Ngân hàng mẹ là 19,4%/năm và FEC là 12%/năm). Với hệ số CAR cao, vào khoảng 16-17% sau khi thoái vốn tại FEC (từ Q4/2021), chúng tôi tin rằng VPB sẽ được giao hạn mức tăng trưởng tín dụng cao hơn bình quân.

Biểu đồ 6: Điều chỉnh dự báo tăng trưởng tín dụng, VPB 

Biểu đồ 7: Cho vay BĐS, Ngân hàng mẹ 

Về mặt huy động, tiền gửi khách hàng tăng trưởng khiêm tốn (tăng 2,5% so với đầu năm) và giấy tờ có giá tăng 8,5% so với đầu năm. Trong khi đó, huy động từ các tổ chức tài chính (bao gồm cả vay dài hạn từ các tổ chức tài chính nước ngoài như IFC, Propaco, ADB) tăng mạnh 73% so với đầu năm. Nhờ tối ưu hóa cơ cấu huy động, VPB có thể duy trì được các hệ số thanh khoản ở mức tốt cũng như giảm được chi phí huy động.

Tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn tiếp tục tăng lên 21,6% (từ 15,5% tại thời điểm cuối năm 2020) nhờ mảng ngân hàng số có sự cải thiện cộng với VPB triển khai nhiều chương trình khuyến mãi ở mảng kinh doanh thẻ.

Biểu đồ 8: Hệ số LDR & SML, VPB 

Biểu đồ 9: Tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn 

Tỷ lệ NIM hồi phục một chút trong năm 2022-2023

Trong Q3/2021, tỷ lệ NIM hợp nhất giảm đáng kể, giảm 198 điểm cơ bản so với quý trước còn 7,05% với lợi suất gộp giảm 233 điểm cơ bản mặc dù chi phí hoạt động cũng giảm 44 điểm cơ bản. Lợi suất cho vay giảm cả ở Ngân hàng mẹ (giảm 165 điểm cơ bản so với quý trước còn 9,9%) và FEC (giảm 560 điểm cơ bản so với quý trước còn 25,6%). Điều này là vì VPB giảm lãi suất cho vay và thoái lãi dự thu từ các khoản vay tái cơ cấu (các khoản vay tái cơ cấu tăng mạnh trong Q3/2021).

Nếu nhìn vào xu hướng bình quân 12 tháng, tỷ lệ NIM Ngân hàng mẹ thực tế tăng 79 điểm cơ bản lên 5,44% (nhờ chi phí huy động giảm đáng kể) trong khi tỷ lệ NIM hợp nhất bình quân giảm nhẹ hơn, giảm 67 điểm cơ bản xuống còn 8,54%. HSC cho rằng tỷ lệ NIM giảm trong Q3/2021 chỉ là ngắn hạn vì nền kinh tế sẽ hồi phục và nợ tái cơ cấu sẽ dần trở lại trạng thái bình thường; từ đó tỷ lệ NIM Ngân hàng mẹ sẽ tăng lên 6% và tỷ lệ NIM hợp nhất hồi phục lên trên 9%, nhờ lợi suất gộp tăng nhẹ và chi phí huy động ổn định ở mặt bằng thấp.

Biểu đồ 10: Tỷ lệ NIM, VPB hợp nhất 

Biểu đồ 11: Tỷ lệ NIM, Ngân hàng mẹ VPB 

Bảng 12: Các giả định tăng trưởng tín dụng và tỷ lệ NIM, VPB 

Nâng dự báo thu nhập ngoài lãi, chủ yếu nhờ lãi mua bán trái phiếu

Thu nhập ngoài lãi hợp nhất Q3/2021 tăng mạnh 67% so với cùng kỳ, chủ yếu nhờ lãi mua bán trái phiếu tại Ngân hàng mẹ đạt 716 tỷ đồng (tăng 186 so với cùng kỳ) và thu nhập khác (chủ yếu từ FEC) đạt 1.161 tỷ đồng (tăng 122% so với cùng kỳ). Thu nhập khác chủ yếu là thu nhập từ thu hồi nợ xấu đã xóa và thu nhập từ các công cụ phái sinh. Tuy nhiên, lãi thuần HĐ dịch vụ Q3/2021 giảm 16% so với cùng kỳ vì ảnh hưởng từ sự bùng phát dịch Covid-19.

Thu nhập từ HĐ dịch vụ: mặc dù chịu ảnh hưởng tiêu cực (giảm 16% so với cùng kỳ) trong Q3/2021, thu nhập từ HĐ dịch vụ trong 9 tháng đầu năm 2021 vẫn tăng khá, tăng 19,5% so với cùng kỳ. Cụ thể:

  • Kinh doanh thẻ: tăng 15,6% so với cùng kỳ, đóng góp 23%.
  • Dịch vụ thanh toán và trung gian thanh toán, gồm thư tín dụng, thư đảm bảo thanh toán, thanh toán quốc tế & nội địa và đại lý POS: tăng 16,5% so với cùng kỳ, đóng góp 37%.
  • Bancassurance: tăng 1% so với cùng kỳ, đóng góp 15%.
  • Thu nhập khác, gồm phí tài khoản và phí quản lý: tăng 46,3% so với cùng kỳ và đóng góp 25%.

HSC kỳ vọng thu nhập từ bancassurance sẽ hồi phục mạnh mẽ từ Q4/2021 trở đi trong khi các dịch vụ ngân hàng tiếp tục đạt mức tăng trưởng tốt là 15-20%. Nói chung, chúng tôi giảm 4,3% dự báo lãi thuần HĐ dịch vụ năm 2021 nhưng nâng nhẹ, lần lượt là 1,5% và 1,1% dự báo cho năm 2022-2023.

Lãi mua bán trái phiếu: VPB tiếp tục hiện thực hóa lợi nhuận danh mục trái phiếu trong Q3/2021 là 716 tỷ đồng (tăng 186% so với cùng kỳ). Theo đó, lãi mua bán trái phiếu 9 tháng đầu năm 2021 tăng lên 2.362 tỷ đồng (tăng 118% so với cùng kỳ). Quan điểm của HSC là lợi suất trái phiếu chính phủ sẽ tăng nhẹ nhưng với lợi suất trái phiếu đầu tư của VPB đang ở mức tương đối cao, nên HSC cho rằng lãi mua bán trái phiếu của VPB giai đoạn 2022-2023 sẽ không khả quan được như năm 2021 nhưng vẫn cao hơn dự báo trước đây. Cụ thể, chúng tôi nâng 183% dự báo cho năm 2021 lên 2.550 tỷ đồng (tăng 82,5%), nâng 72,2% cho năm 2022 lên 1.550 tỷ đồng (giảm 39,2%) và nâng 72,2% cho năm 2023 lên 1.550 tỷ đồng (đi ngang so với năm 2022).

Bảng 13: Điều chỉnh dự báo thu nhập ngoài lãi từ HĐKD, VPB 

Chi phí hoạt động được cải thiện đáng kể

Chi phí hoạt động Q3/2021 giảm 12% so với cùng kỳ sau khi đã giảm 7% so với cùng kỳ trong 6 tháng đầu năm 2021. Chi phí hoạt động giảm cả ở Ngân hàng mẹ (giảm 15% so với cùng kỳ) và FEC (giảm 8% so với cùng kỳ). Tính chung 9 tháng đầu năm 2021, chi phí hoạt động giảm 9% so với cùng kỳ. Hệ số CIR giảm còn 23,7% từ 29,2% trong năm 2020. Hệ số CIR của Cổ phiếu VPB cho đến nay vẫn thấp nhất trong số các ngân hàng HSC khuyến nghị. Chúng tôi tin rằng các sáng kiến trong lĩnh vực ngân hàng số đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của VPB.

Theo đó, HSC giảm 17% dự báo chi phí hoạt động năm 2021 xuống 11.067 tỷ đồng (giảm 2,9%), giảm 15,7% dự báo cho năm 2022 xuống 13.652 tỷ đồng (tăng 23,4%) và giảm 12,7% cho năm 2023 xuống 16.566 tỷ đồng (tăng 21,3%). Chúng tôi kỳ vọng VPB sẽ tiếp tục đầu tư và cải thiện lĩnh vực ngân hàng số. Hệ số CIR có thể tăng từ nền thấp năm 2021 nhưng sẽ duy trì ở mức 24-25%.

Biểu đồ 14: Hệ số CIR 

Biểu đồ 15: Hệ số CIR, thực tế và dự báo 

Áp lực lên chất lượng tài sản tăng

Tỷ lệ nợ xấu hợp nhất tăng lên 4% từ 3,41% tại thời điểm cuối năm 2020 và 3,47% tại thời điểm cuối Q2/2021. Tỷ lệ nợ xấu của Ngân hàng mẹ tăng lên 2,28% từ 2,1% tại thời điểm cuối Q2/2021 và của FE Credit ước tăng lên 11,03% từ 9,05% tại thời điểm cuối Q2/2021. Tỷ lệ nợ nhóm 2 cũng tăng đáng kể lên 7,7% (Ngân hàng mẹ là 5,3% và FEC là 17,7%) từ 5,5% tại thời điểm cuối Q2/2021 (Ngân hàng mẹ là 4% và FEC là 11,4%). Tỷ lệ nợ xấu mới hình thành Q3/2021 tăng không đáng kể vì VPB đã tái cơ cấu một lượng lớn các khoản vay (theo Thông tư 14).

Chi phí dự phòng hợp nhất Q3/2021 tăng 29% so với cùng kỳ, gồm 1.942 tỷ đồng tại Ngân hàng mẹ (tăng 43% so với cùng kỳ) và 3.037 tỷ đồng tại FE Credit (tăng 21% so với cùng kỳ). Hệ số LLR tăng nhẹ lên 48,9% từ 45,3% tại thời điểm cuối năm 2020, vẫn ở mức thấp nếu so với các ngân hàng khác.

Theo VPB, 96,82% số nợ tái cơ cấu vẫn đang ở trạng thái bình thường và tỷ lệ chuyển nhóm nợ của FEC (bị ảnh hưởng đáng kể trong Q3/2021) đã được kiểm soát tốt và trở về mức bình thường kể từ tháng 10.

Nói chung, chúng tôi kỳ vọng chi phí tín dụng sẽ đạt đỉnh vào năm 2021 và sẽ giảm dần trong năm 2022, 2203. Thông tin chi tiết về các điều chỉnh trong dự báo của HSC được trình bày trong Bảng 18.

Biểu đồ 16: Nợ xấu và hệ số LLR, VPB hợp nhất 

Biểu đồ 17: Nợ tái cơ cấu, VPB 

Bảng 18: Điều chỉnh các giả định về nợ xấu & chi phí tín dụng 

Bảng 19: Dự báo lợi nhuận, VPB hợp nhất 

Bảng 20: Dự báo lợi nhuận, VPB Ngân hàng mẹ 

Bảng 21: Dự báo lợi nhuận, VPB FE Credit 

Định giá và khuyến nghị

HSC nâng khuyến nghị đối với VPB lên Mua vào và nâng 12% giá mục tiêu lên 45.800đ (tiềm năng tăng giá: 34%) sau khi nâng dự báo lợi nhuận và chuyển thời điểm định giá đến cuối năm 2022. Mảng tài chính tiêu dùng chịu tác động tiêu cực trong năm 2021 nhưng chúng tôi kỳ vọng mảng này sẽ hồi phục trong năm 2022- 2023. Sau khi giá cổ phiếu tăng trong năm nay, hiện P/B dự phóng đã cao hơn bình quân quá khứ nhưng vẫn thấp hơn 11% so với bình quân nhóm NHTM tư nhân. Tại giá mục tiêu mới, P/B dự phóng năm 2022 của VPB là 1,94 lần; tương đương bình quân các ngân hàng khác. HSC kỳ vọng kế hoạch phát hành riêng lẻ sẽ được thực hiện vào nửa đầu năm 2022 ở mức định giá có thể giúp nâng 12-20% BVPS của VPB, từ đó đưa P/B dự phóng năm 2022 giảm xuống còn 1,2-1,3 lần; nghĩa là rất rẻ.

Nâng 12% giá mục tiêu

HSC nâng 12% giá mục tiêu lên 45.800đ (tiềm năng tăng giá: 34%) với những thay đổi chính trong giả định định giá như sau:

  • Lần lượt nâng 3,4%; 9,2% và 11% dự báo lợi nhuận năm 2021, 2022 và 2023.
  • Chuyển thời điểm định giá về cuối năm 2022.

Kết quả định giá bằng phương pháp thu nhập thặng dư được trình bày trong Bảng 22 dưới đây. Chúng tôi cũng đồng thời trình bày phân tích độ nhạy đối với các đầu vào định giá chính trong Bảng 23.

Bảng 22: Định giá thu nhập thặng dư, VPB 

Bảng 23: Phân tích độ nhạy, VPB 

Định giá: Động lực tích cực từ kế hoạch phát hành riêng lẻ chưa phản ánh

Giá cổ phiếu VPB đã tăng 86% trong 12 tháng qua, vượt 16% so với mức tăng bình quân của các ngân hàng khác. Giá VPB tăng mạnh một phần là nhờ cổ phiếu ngành ngân hàng nói chung được định giá lại ở mặt bằng cao hơn trong nửa đầu năm 2021, nhưng quan trọng nhất là nhờ VPB thoái vốn 50% tại FEC, giúp nâng BVPS năm 2021 của VPB thêm khoảng 35%.

Nói chung, VPB có khẩu vị rủi ro cao hơn các ngân hàng khác và mảng cho vay không có tài sản đảm bảo (tài chính tiêu dùng) sẽ chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực của dịch bệnh. HSC cho rằng Q3/2021 là quý tiêu cực nhất của VPB và rủi ro đã phản ánh hết vào giá. Trong khi đó hệ số ROE năm 2022-2023 sẽ chịu áp lực giảm sau khi thoái bớt vốn khỏi FE Credit (HSC dự báo hệ số ROE giai đoạn 2022-2023 sẽ khoảng 17%), nhưng bộ đệm vốn cao với CAR khoảng 16-17% sẽ giúp Ngân hàng có thể đạt tốc độ tăng trưởng tài sản và lợi nhuận cao hơn các ngân hàng khác (HSC dự báo lợi nhuận thuần giai đoạn 2021-2023 của HDB tăng trưởng với tốc độ CAGR là 28,7% so với 23% bình quân các ngân hàng khác).

Hiện VPB có dự phóng năm 2022 là 1,43 lần; P/B trượt dự phóng 1 năm là 1,46 lần; cao hơn 0,25 độ lệch chuẩn so với bình quân quá khứ nhưng thấp hơn 11% so với bình quân nhóm NHTM tư nhân. Tại giá mục tiêu mới, P/B dự phóng năm 2022 của VPB là 1,94 lần; xấp xỉ bình quân nhóm NHTM tư nhân.

Biểu đồ 24: Diễn biến giá cổ phiếu trong 1 năm qua 

Biểu đồ 25: Chênh lệch/chiết khấu định giá P/B của VPB so với BQ các ngân hàng khác 

Biểu đồ 26: P/B dự phóng lịch sử 1 năm, VPB 

Biểu đồ 27: Độ lệch chuẩn so với P/B bình quân, VPB 

Bảng 28: So sánh với các cổ phiếu khác trong hệ thống ngân hàng 

Cuối cùng, lưu ý là HSC chưa đưa vào mô hình dự báo kế hoạch phát hành riêng lẻ sắp tới vì hiện chưa có nhiều thông tin về thời gian và mức định giá. Tuy nhiên, trong phân tích kịch bản của chúng tôi cho đợt phát hành riêng lẻ này (Bảng 29), nếu VPB có thể thực hiện kế hoạch này trong năm 2022, BVPS có thể tăng 12-21%, nghĩa là P/B dự phóng năm 2022 có thể chỉ còn 1,2-1,3 lần; là một mức định giá hấp dẫn đối với cổ phiếu VPB. Rủi ro ở đây là thương vụ này bị trì hoãn hoặc được thực hiện ở mức định giá thấp hơn kỳ vọng của chúng tôi.

Bảng 29: Phân tích kịch bản – kế hoạch phát hành riêng lẻ (15%)

Nguồn: HSC

Tuyên bố miễn trách nhiệm: Báo cáo chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin và nhà đầu tư chỉ nên sử dụng báo cáo phân tích này như một nguồn tham khảo. Dautucophieu.net sẽ không chịu bất kỳ trách nhiệm nào trước nhà đầu tư cũng như đối tượng được nhắc đến trong báo cáo này về những tổn thất có thể xảy ra khi đầu tư hoặc những thông tin sai lệch về doanh nghiệp.

CÁC TIN LIÊN QUAN

Gọi ngay
Messenger
Zalo
Mở tài khoản