Sự kiện: Công bố KQKD Q1/2020
VPB đã công bố lợi nhuận thuần hợp nhất Q1/2021 đạt 3.202 tỷ đồng (tăng 38,4% so với cùng kỳ) với tổng thu nhập hoạt động tăng 11,6% so với cùng kỳ trong khi chi phí hoạt động giảm 21% so với cùng kỳ. Trái lại chi phí dự phòng tăng 20% so với cùng kỳ.
Đồ thị cổ phiếu VPB phiên giao dịch ngày 26/04/2021. Nguồn: AmiBroker
Đáng chú ý là tỷ lệ NIM tăng 48 điểm cơ bản lên 9,21%; chủ yếu nhờ chi phí huy động giảm 138 điểm cơ bản so với đầu năm còn 4,68%.
Lợi nhuận thuần hợp nhất Q1/2021 đạt 26% dự báo của HSC và hoàn thành được 24% kế hoạch của VPB cho cả năm 2021. KQKD Ngân hàng mẹ đạt ấn tượng với lợi nhuận thuần đạt 2.575 tỷ đồng (tăng 55,2% so với cùng kỳ) trong khi lợi nhuận thuần của FE đạt 627 tỷ đồng (giảm 14,6% so với cùng kỳ).
Tín dụng tăng 2,8% so với đầu năm nhờ Ngân hàng mẹ
Tín dụng hợp nhất tăng 2,8% so với đầu năm nhờ tín dụng Ngân hàng mẹ tăng 3,6% so với đầu năm (cho vay khách hàng tăng 4,6% so với đầu năm và đầu tư trái phiếu doanh nghiệp giảm 3,8% so với đầu năm) trong khi dư nợ cho vay của FE Credit đi ngang. Tại thời điểm cuối Q1/2021, đầu tư trái phiếu doanh nghiệp là 30,6 nghìn tỷ đồng, đóng góp 9,2% tổng tín dụng. Cho vay mua nhà (chiếm 17,4% dư nợ cho vay Ngân hàng mẹ) tăng 10,9% so với đầu năm và là động lực tăng trưởng chính trong cho vay khách hàng.
Bảng 1: KQKD Q1/2021, VPB hợp nhất & ngân hàng mẹ 
Về mặt huy động, tiền gửi khách hàng giảm 0,4% so với đầu năm và giấy tờ có giá tăng 3,4% so với đầu năm. Trái lại, vốn huy động trên thị trường liên ngân hàng tăng mạnh 25,5% so với đầu năm nhờ thanh khoản dồi dào và chi phí huy động thấp. Trong cơ cấu tiền gửi khách hàng, tiền gửi có kỳ hạn giảm 2,1% so với đầu năm trong khi tiền gửi không kỳ hạn tăng 9,3% so với đầu năm. Theo đó tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn tăng lên 17% (từ 15,5% vào cuối năm 2020 và 11,9% tại thời điểm cuối Q1/2020). Theo đó, chi phí huy động đã giảm mạnh 138 điểm cơ bản, từ đó giúp tỷ lệ NIM hồi phục.
Tỷ lệ NIM hồi phục nhờ chi phí huy động giảm đáng kể
Tỷ lệ NIM hợp nhất đạt 9,21% (tăng 48 điểm cơ bản so với đầu năm, tăng 13 điểm cơ bản so với quý trước và tăng 20 điểm cơ bản so với cùng kỳ). Mặc dù lợi suất gộp tiếp tục giảm còn 13,47% (giảm 66 điểm cơ bản so với đầu năm, giảm 41 điểm cơ bản so với quý trước và giảm 141 điểm cơ bản so với cùng kỳ), chi phí huy động giảm đáng kể xuống còn 4,68% (giảm 138 điểm cơ bản so với đầu năm, giảm 95 điểm cơ bản so với quý trước và giảm 167 điểm cơ bản so với cùng kỳ) đã giúp tỷ lệ NIM tăng.
Ngoài việc môi trường thanh khoản dồi dào nói chung trong hệ thống, tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn của VPB tăng cộng với việc sử dụng nguồn huy động từ thị trường liên ngân hàng là mấu chốt thành công trong hoạt động quản trị chi phí huy động trong Q1/2021 tại VPB.
Tỷ lệ NIM Ngân hàng mẹ tăng lên 5,63% (tăng 79 điểm cơ bản so với đầu năm, tăng 15 điểm cơ bản so với quý trước và tăng 101 điểm cơ bản so với cùng kỳ) trong khi tỷ lệ NIM của FE Credit ước tính giảm tiếp xuống 25,95% (giảm 144 điểm cơ bản so với đầu năm).
Theo đó, thu nhập lãi thuần Ngân hàng mẹ tăng mạnh 37,8% so với cùng kỳ đạt 4.647 tỷ đồng và thu nhập lãi thuần hợp nhất tăng 13,7% so với cùng kỳ đạt 9.120 tỷ đồng.
Thu nhập ngoài lãi tăng khiêm tốn như kỳ vọng
Thu nhập ngoài lãi hợp nhất tăng nhẹ 2,5% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, thu nhập ngoài lãi của Ngân hàng mẹ giảm 21% so với cùng kỳ; chủ yếu do lãi mua bán trái phiếu giảm từ nền cao trong năm ngoái.
Ở mặt tích cực, lãi thuần HĐ dịch vụ và thu nhập khác tăng mạnh. Lãi thuần HĐ dịch vụ tăng 42,1% so với cùng kỳ và thu nhập khác tăng 74,9% so với cùng kỳ – chủ yếu là từ thu nhập thu hồi nợ xấu đã xóa và thu nhập từ các công cụ phái sinh.
Chi phí hoạt động tiếp tục đà giảm của năm 2020
Chi phí hoạt động giảm 21% so với cùng kỳ và giảm 6,3% so với quý trước. Số lượng nhân viên tăng 2.054 người trong Q1/2021 (tăng 9,8% so với quý trước nhưng giảm 13,5% so với cùng kỳ). Cụ thể, số lượng nhân viên tại Ngân hàng mẹ tăng 201 người (tăng 2,1% so với quý trước) và tại FE Credit tăng 1.853 người (tăng 16% so với quý trước).
Trong năm 2020, số lượng nhân viên của VPB giảm 6.091 người (giảm 22,5%), trong đó chủ yếu giảm tại FE Credit (giảm 27,9% so với cùng kỳ). Với lương tháng bình quân giảm (giảm 13,5% so với cùng kỳ) so với Q1/2020, chi phí nhân viên nói chung giảm 27,9% so với cùng kỳ trong Q1/2021. Hệ số CIR giảm xuống mức thấp kỷ lục là 23,5% từ 29,2% trong năm 2020. Cho đến nay, VPB là ngân hàng có hệ số CIR thấp nhất trong số các ngân hàng HSC khuyến nghị.
Chất lượng tài sản được duy trì
Tỷ lệ nợ xấu hợp nhất được duy trì tại 3,46% (tại thời điểm cuối năm 2020 là 3,41%). Tỷ lệ nợ xấu tại Ngân hàng mẹ VPB giảm còn 2,13% (giảm 34 điểm cơ bản so với quý trước) nhưng tỷ lệ nợ xấu tại FE Credit ước tăng lên 8,21% (tăng 163 điểm cơ bản so với quý trước).
Chi phí dự phòng hợp nhất tăng 20% so với cùng kỳ trong Q1/2021. Điều này chủ yếu là do chi phí dự phòng tại FE Credit (chi phí dự phòng tại FE Credit tăng 29,7% so với cùng kỳ). Chi phí dự phòng tại Ngân hàng mẹ chỉ tăng 2,4% so với cùng kỳ. Hệ số LLR giảm nhẹ xuống còn 43,9% (tại thời điểm cuối năm 2020 là 45,3%), ở mặt bằng thấp nếu so với các ngân hàng khác. Có những dấu hiệu cho thấy chất lượng tài sản tại FE Credit kém đi và điều này đã nằm trong dự đoán.
Xem xét lại giá mục tiêu và dự báo
KQKD Q1/2021 của Cổ phiếu VPB cao hơn một chút so với dự báo của HSC. Ngân hàng đặt kế hoạch LNTT năm 2021 là 16.654 tỷ đồng (tăng trưởng 27,9%), cao hơn dự báo của chúng tôi là 15.403 tỷ đồng (tăng trưởng 18,3%).
HSC sẽ xem xét lại giá mục tiêu và dự báo của mình.
Nguồn: HSC

