DANH MỤC

Mobile / Zalo / Viber: 0912 842 224

Cập nhật cổ phiếu TCB – Khuyến nghị MUA với giá mục tiêu 125.000đ

Lượt xem: 590 - Ngày:
Chia sẻ

Techcombank là 1 trong 7 NHTMCP có tài sản lớn nhất, top 2 ngân hàng có LNTT lớn nhất và là ngân hàng có tỷ suất lợi nhuận cao nhất trong năm 2017. HSC cho rằng LNTT của TCB sẽ tăng trưởng cao hơn bình quân ngành trong 3 năm tới.

Techcombank

Quan điểm tích cực của chúng tôi đối với cổ phiếu TCB dựa trên những lý do sau:

1. TCB thuộc top 7 NHTMCP có tài sản lớn nhất, top 2 ngân hàng có LNTT lớn nhất và là ngân hàng có tỷ suất lợi nhuận cao nhất trong năm 2017.
2. TCB sẽ hưởng lời từ tiềm năng tăng trưởng của thị trường bancassurance nhờ mối quan hệ đối tác độc quyền với Manulife.
3. TCB giữ 16% thị phần cho vay mua nhà nhờ mối quan hệ đối tác với các chủ đầu tư hàng đầu. Chúng tôi cho rằng đây là thị trường đầy hứa hẹn.
4. Ngân hàng có tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn cao nhờ cách tiếp cận khách hàng theo chuỗi giá trị và nền tảng cơ sở thanh toán và dịch vụ ngân hàng số tiên tiến, từ đó giúp chi phí huy động ổn định và ở mức khá thấp.
5. Dư nợ cho vay đang được tái cơ cấu theo hướng cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp và DNNVV, còn cho vay kỳ hạn dài được dành nhiều cho vay mua nhà có tài sản đảm bảo. Trong khi đó nhu cầu vốn đầu tư dài hạn của doanh nghiệp được đáp ứng thông qua tư vấn phát hành và phân phối trái phiếu. Điều này giúp hạn chế cả rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng.
6. TCBS là công ty chứng khoán hàng đầu về tư vấn và môi giới cho thị trường trái phiếu doanh nghiệp tại Việt Nam, là thị trường có tiềm năng tăng trưởng tốt.
7. TCB có chiến lược thành công trong việc thu hút được khách hàng cá nhân có thu nhập cao. Điều này cho phép ngân hàng cạnh tranh dựa trên chất lượng thay vì giá và có được sự trung thành cao của khách hàng, từ đó tạo ra thêm cơ hội bán chéo sản phẩm.
8. TCB có mối quan hệ đối tác tốt với một số khách hàng doanh nghiệp lớn chẳng hạn như Vingroup, Masan & Vietnam Airlines. Những doanh nghiệp này có một lượng khách hàng cá nhân lớn mà TCB có thể tận dụng.
9. TCB có độ xếp hạng tín nhiệm cao nhất. Chất lượng tài sản tốt sau khi Ngân hàng nỗ lực tái cơ cấu với tỷ lệ nợ xấu là 1,87% và không còn trái phiếu VAMC cần trích lập.
10. Hệ số CAR cao sau khi Ngân hàng tăng vốn. Rủi ro pha loãng trong 3 năm tới là thấp.

HSC cho rằng LNTT của TCB sẽ tăng trưởng cao hơn bình quân ngành trong 3 năm tới – HSC dự báo LNTT của TCB sẽ tăng trưởng với tốc độ gộp bình quân năm là 42,1% trong 3 năm tới (2018-2020), dựa trên những giả định sau:

• Tín dụng tăng trưởng với tốc độ gộp bình quân năm là 20,7%; trong đó cho vay mua nhà tăng trưởng với tốc độ gộp bình quân năm là 30%.
• Theo đó thu nhập lãi thuần tăng trưởng với tốc độ gộp bình quân năm là 26,8%.
• Còn thu nhập ngoài lãi tăng trưởng với tốc độ gộp bình quân năm là 24,2%.
• Chúng tôi kỳ vọng lãi thuần hoạt động dịch vụ tăng trưởng với tốc độ gộp bình quân năm là 36,1%.
• Chi phí hoạt động tăng với tốc độ gộp bình quân năm là 16,5%.
• Trong khi đó chi phí dự phòng dự kiến giảm với tốc độ gộp bình quân năm là 3,9% trong 3 năm tới nhờ TCB có bảng cân đối kế toán sạch.

Riêng cho năm 2018, chúng tôi dự báo LNTT tăng trưởng 31% đạt 10.527 tỷ đồng; EPS đạt 7.226đ; ROA là 2,87% và ROE là 20,7%.

Định giá cổ phiếu Techcombank – Chúng tôi ước tính giá trị hợp lý là 125.000đ

Chún tôi đưa ra ước tính giá trị hợp lý lần đầu cho cổ phiếu TCB là 125.000đ; tương đương P/B là 2,68 lần. Mô hình định giá của chúng tôi dựa trên phương pháp chính là so sánh hệ số P/B với ngân hàng tương đương còn phương pháp so sánh hệ số P/E được sử dụng để tham khảo. Trên thực tế phương pháp P/B là phương pháp chuẩn áp dụng để định giá các ngân hàng. Chúng tôi xem xét thêm phương pháp định giá P/E vì TCB có tỷ trọng lãi thuần hoạt động dịch vụ cao hơn hẳn các ngân hàng trong nước khác. Nếu điều chỉnh cho khoản phí hỗ trợ từ hoạt động bancassurance trong năm 2017 và với dự báo lãi thuần hoạt động dịch vụ tăng với tốc độ gộp bình quân năm là 36% trong 3 năm tới, thì tỷ trọng lãi thuần hoạt động dịch vụ trong tổng thu nhập hoạt động là 20%; và chúng tôi cho rằng tỷ này này là bền vững.

Hiện có 15 ngân hàng niêm yết trên 2 SGDCK và UpCOM. Tuy nhiên chúng tôi chỉ lựa chọn 5 ngân hàng hàng đầu với chất lượng tài sản tốt và tiềm năng tăng trưởng cao hơn bình quân ngành làm cơ sở so sánh cho TCB. Mức P/E và P/B dự phóng bình quân của nhóm 5 ngân hàng trên lần lượt là 16,33 lần và 2,23 lần.

Chúng tôi cũng xem xét mức định giá các ngân hàng trong khu vực với những điểm tương đồng trên với mục địch tham khảo. Các ngân hàng này đang được giao dịch ở mức P/E và P/B dự phóng là 15,9 lần 1,75 lần.

Tuy nhiên chúng tôi tin tưởng rằng TCB xứng đáng có mức định giá cao hơn 20% so với bình quân nhóm ngân hàng nội địa tương đương, theo đó giá trị hợp lý ước tính là 125.000đ. Cơ sở chúng tôi cho rằng định giá của TCB xứng đáng cao hơn là:

• Triển vọng tăng trưởng vượt trội – Trong mô hình của mình chúng tôi dự báo LNTT tăng trưởng với tốc độ gộp bình quân năm là 42,1% trong 3 năm tới.
• Tỷ trọng lãi thuần hoạt động dịch vụ trong tổng thu nhập hoạt động cao với thu nhập đa dạng và tiềm năng tăng trưởng mạnh từ mảng bancassurance cũng như tư vấn trái phiếu.
• Bảng cân đối kế toán sạch sẽ và lành mạnh với các hệ số an toàn tài chính tốt.
• Ngân hàng có hệ số sinh lời và hệ số hiệu quả hoạt động cao nhất.
• Ngân hàng mạnh về hệ sinh thái và cơ sở khách hàng.
• Đội ngũ lãnh đạo năng động và giàu kinh nghiệm.

Chúng tôi cũng lưu ý một số rủi ro có thể ảnh hưởng đến hoạt động và KQKD của TCB như:

• Cạnh tranh trên thị trường bảo hiểm nhân thọ là gay gắt và nguồn thu phí bancassurance sẽ phụ thuộc vào sự hợp tác giữa Manulife và TCB với sản phẩm và chiến lược phù hợp cho khách hàng và kênh phân phối.
• Trong khi tin tưởng rằng nhu cầu vay mua nhà sẽ tiếp tục tăng, chúng tôi cho rằng nhu cầu đang hướng tới phân khúc trung cấp và bình dân. Khách hàng ở những phân khúc BĐS này nhạy cảm hơn đối với lãi suất và sẽ có thêm nhiều ngân hàng, đặc biệt là ngân hàng có chi phí huy động thấp tham gia vào cho vay phân khúc này
• Nguồn phí dịch vụ từ phát hành và phân phối trái phiếu phụ thuộc vào lãi suất. Công cụ tài chính trái phiếu sẽ trở lên ít hấp dẫn hơn với các tổ chức phát hành trong môi trường lãi suất tăng.
• Rủi ro tập trung đối với lĩnh vực BĐS. TCB cho vay ở toàn bộ chuỗi giá trị ngành BĐS gồm: cho vay chủ đầu tư, nhà thầu và người mua nhà với tỷ trọng là 47,5% tổng dư nợ tại thời điểm cuối năm 2017; cao hơn đáng kể so với mức bình quân các ngân hàng theo ước tính của HSC là vào khoảng 30%.

Techcombank (TCB) được thành lập vào năm 1993 và là một trong những NHTMCP khá sớm tại Việt Nam với vốn điều lệ ban đầu là 20 tỷ đồng. Hiện TCB thuộc top 10 ngân hàng lớn nhất với dư nợ cho vay khách hàng là 169,8 nghìn tỷ đồng và tiền gửi khách hàng là 181,4 nghìn tỷ đồng. TCB có mạng lưới 315 chi nhánh và phòng giao dịch trên cả nước và 8.544 nhân viên tại thời điểm cuối năm 2017; đứng thứ 3 trong số các NHTMCP.

HSBC mua 10% cổ phần TCB và trở thành NĐT chiến lược vào năm 2005. Sau đó HSBC nâng tỷ lệ sở hữu lên 19,4% vào năm 2008. Tuy nhiên trong năm 2017, TCB đã mua lại toàn bộ số cổ phần của HSBC và vào Q2/2018, trước khi niêm yết, TCB đã bán phần lớn số cổ phiếu quỹ mua cho các NĐTNN và một phần nhỏ được bán cho CBCNV thông qua chương trình ESOP, thu về khoảng 16,88 nghìn tỷ đồng.

TCB đã niêm yết trên HSX vào ngày 4/6 với giá tham chiếu chào sàn là 128.000đ – tương đương P/B dự phóng là 2,74 lần. Giá tham chiếu của TCB tương đương giá bán cổ phiếu trong lần huy động vốn gần đây nhất, diễn ra vào khoảng nửa đầu tháng 4. Khi đó TCB đã chào bán 164,5 triệu cổ phiếu (gồm 64,45 triệu cổ phiếu quỹ và khoảng 100 triệu cổ phiếu thứ cấp), tương đương 14,1% số lượng cổ phiếu lưu hành cho các NĐTNN với giá 128.000đ. Giá cổ phiếu TCB đã giảm mạnh trong 2 phiên đầu niêm yết trước khi ổn định trở lại. Lý do có lẽ là do giữa định giá cổ phiếu TCB và các ngân hàng niêm yết còn lại có sự chênh lệch. Hiện chênh lệch trên đã không còn và giá cổ phiếu TCB đã trở nên hấp dẫn hơn nhiều.

Sau khi tăng mạnh cho đến giữa tháng 4, giá cổ phiếu ngân hàng đã điều chỉnh mạnh trong những tuần gần đây. Khi thị trường lập đỉnh, P/B dự phóng bình quân của các ngân hàng niêm yết là 2,73 lần trước khi giảm xuống chỉ còn 1,7 lần tại đáy thiết lập ngày 28/5/2018. Tại giá đóng cửa phiên ngày 5/6, P/B dự phóng của cổ phiếu TCB là 2,05 lần, so với bình quân ngành là 2,09 lần.

TCB sẽ trả cổ tức tỷ lệ 200% sau khi niêm yết – TCB dự kiến trả cổ tức bằng cổ phiếu với tỷ lệ 200%, nghĩa là cổ đông hiện nắm 1 cổ phiếu sẽ được nhận thêm 2 cổ phiếu mới. TCB đã giữ lại toàn bộ lợi nhuận và không chi trả cổ tức (cả tiền mặt và cổ phiếu) từ năm 2011. Sau khi trả cổ tức bằng cổ phiếu, vốn điều lệ của TCB sẽ tăng lên 34.965 tỷ đồng, là NHTMCP có vốn điều lệ lớn nhất.

Room của cổ phiếu TCB đã kín trước khi niêm yết – TCB đã hạn chế room ở 22,5% mặc dù tỷ lệ room bình thường theo quy định của ngành ngân hàng là 30%. Theo TCB, có 170 tổ chức đầu tư nước ngoại nắm 22,08% số lượng cổ phiếu lưu hành và 4 NĐT cá nhân nắm 0,42%. Số lượng cổ phiếu do tổ chức nước ngoài nắm giữ là 257,32 triệu cổ phiếu; lớn hơn số tổng số lượng cổ phiếu quỹ bán cho NĐTNN là 157,65 triệu cổ phiếu. Theo đó chúng tôi ước tính khoảng 100 triệu cổ phiếu thứ cấp đã được trao tay trước khi niêm yết. Hiện TCB chưa có kế hoạch nâng room sau khi niêm yết.

Tổng quan & tình hình tài chính

TCB có cơ sở khách hàng lớn và gắn kết

Mảng ngân hàng bán buôn của TCB có khách hàng là các doanh nghiệp có doanh thu hàng năm trên 600 tỷ đồng. Hiện TCB có 298 khách hàng doanh nghiệp có giao dịch và mảng ngân hàng bán buôn đóng góp 46,2% vào dư nợ cho vay của TCB trong năm 2017. Top 10 khách hàng doanh nghiệp lớn nhất chiếm 17% tổng dư nợ cho vay.

Mảng cho vay DNNVV của TCB phục vụ các doanh nghiệp có doanh thu hàng năm dưới 600 tỷ đồng. TCB hiện có 16.000 khách hàng DNNVV có giao dịch và cho vay mảng này đóng góp 14,3% vào tổng dư nợ cho vay năm 2017.

Dịch vụ tài chính cá nhân – TCB hiện có 1,5 triệu khách hàng cá nhân có giao dịch, đóng góp 39,4% trong tổng dư nợ cho vay của TCB năm 2017. Chiến lược của TCB tập trung vào nhóm khách hàng cao cấp (với thu nhập hộ gia đình từ 1 tỷ đồng trở lên) và khách hàng trung cao cấp (với thu nhập của hộ gia đình từ 200 triệu đồng – 1 tỷ đồng). Nhóm khách hàng này chỉ chiếm 16,4% tổng số lượng khách hàng cá nhân có giao dịch nhưng đóng góp tới 71% tổng thu nhập hoạt động mảng khách hàng cá nhân và 78% tiền gửi cá nhân.

Phương pháp tiếp cận theo hệ sinh thái giúp TCB có được khách hàng cá nhân thu nhập cao với chi phí thấp, tăng được tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn cũng như cơ hội bán chéo – TCB áp dụng phương pháp tiếp cận theo hệ sinh thái nhằm thu hút khách hàng mới. Phương pháp tiếp cận này này hướng tới toàn bộ chuỗi giá trị, bắt đầu từ các khách hàng doanh nghiệp lớn, rồi mở rộng sang nhà cung cấp, nhà phân phối và khách hàng cuối cùng của những doanh nghiệp này. TCB hướng tới cung cấp giải pháp một cửa cho toàn bộ chuỗi giá trị. Tuy TCB không phải là ngân hàng duy nhất sử dụng phương pháp tiếp cận theo hệ sinh thái nhưng theo chúng tôi ngân hàng đạt hiệu quả cao nhất khi sử dụng phương pháp này. Và đây là công thức bí mật đằng sau sự tăng trưởng của TCB trong 2 năm qua. Có 2 chuỗi giá trị đặc biệt đáng chú ý là:

Mối quan hệ đối tác của TCB với Vietnam Airlines đã đem đến cho Ngân hàng xấp xỉ 37.000 khách hàng sử dụng thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ đồng thương hiệu. Những khách hàng này chiếm 13% số lượng khách hàng cao cấp và trung cao cấp với mức sử dụng thẻ cao hơn nhiều so với khách hàng sử dụng các loại thẻ khác của TCB. Và những khách hàng này hiện đang có tổng dư nợ vay mua nhà tại TCB là 6,5 nghìn tỷ đồng, bằn 15% tổng dư nợ cho vay mua nhà của Ngân hàng. Toàn bộ chuỗi giá trị gồm mảng ngân hàng bán buôn, mảng DNNVV và mảng khách hàng cá nhân, đóng góp 8% vào tổng tiền gửi không kỳ hạn và 7% tổng lãi thuần hoạt động dịch vụ của TCB.

Mối quan hệ đối tác của TCB với Vingroup – là chuỗi giá trị mạnh nhất của TCB. Khoảng 87% các khoản vay mua nhà của TCB là từ hệ sinh thái này, với 11.000 khách hàng vay mua nhà với tỷ trọng là 64%. Chuỗi giá trị này đóng góp 8% vào tổng tiền gửi không kỳ hạn và 24% tổng lãi thuần hoạt động dịch vụ của TCB. Lãi thuần hoạt động dịch vụ từ hệ sinh thái này chủ yếu là phí dịch vụ phát hành và phân phối trái phiếu doanh nghiệp.

Chất lượng tài sản vượt trội sau khi Ngân hàng liên tục tái cơ cấu tài sản kể từ năm 2011 – Cách tốt nhất để thấy điều này là nhin vào những chỉ báo sau:

– Chi phí dự phóng tăng với tốc độ gộp bình quân là 80,4% trong giai đoạn 2011-2015. Đây là chi phí dự phòng cho vay khách hàng, dự phòng trái phiếu VAMC và dự phòng nợ bán cho các công ty quản lý tài sản. TCB đã bán nợ cho VAMC và nhận tại tổng cộng 3.741 tỷ đồng trái phiếu từ năm 2013 đến 2015, và đã bán tổng cộng 8.937 tỷ đồng dư nợ cho các công ty quản lý tài sản trong năm 2012. Khoản nợ bán cho các công ty quản lý tài sản được hạch toán là phải thu từ bán các khoản cho vay cho công ty quản lý tài sản trong tài sản khác. Tổng trái phiếu VAMC và các khoản cho vay bán cho công ty quản lý tài sản là 12.678 tỷ đồng, tương đương 18,5% tổng dư nợ cho vay năm 2012, được coi là tài sản có vấn đề ngoài nợ xấu. Và TCB đã tích cực trích lập dự phòng cho các khoản này.
– Kết quả của giai đoạn tích cực tái cơ cấu trên là tổng nợ xấu thuần và tài sản có vấn đề giảm từ mức đỉnh 10,8 nghìn tỷ đồng vào năm 2013 xuống còn 2,09 nghìn tỷ đồng tại thời điểm cuối năm 2017, bằng 1,3% tổng dư nợ của TCB trong năm 2017.
– Lãi dự thu cũng giảm từ 4% xuống còn 1,55% tài sản sinh lãi trong giai đoạn 2012-2017.
– Tổng cộng 10.566 tỷ đồng nợ xấu, tương đương 15,48% tổng dư nợ năm 2012 đã được xóa trong giai đoạn 2012-2017.
– Quá trình này đương nhiên đã ảnh hưởng đến lợi nhuận của TCB với LNTT giảm với tốc độ gộp bình quân năm là 16,65% trong giai đoạn 2011-2015.

Nhờ tích cực trích lập dự phòng và xóa nợ xấu, tính tại thời điểm cuối năm 2017, các hệ số về chất lượng tài sản của TCB là như sau:

– Tỷ lệ nợ xấu công bố là 1,61%; thuộc nhóm ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu thấp nhất.
– Trích lập hết cho trái phiếu VAMC. TCB là ngân hàng thứ 2 hoàn thành trích lập cho trái phiếu VAMC.
– Hệ số LLR tăng từ 50% lên 73% trong giai đoạn 2011-2017.

Dư nợ cho vay chuyển dịch về kỳ hạn ngắn kể từ năm 2015 – Tỷ trọng cho vay kỳ hạn ngắn tăng từ 27,2% cuối năm 2015 lên 41,9% cuối Q1/2018.

• Cho vay kỳ hạn ngắn tăng trưởng với tốc độ gộp bình quân năm là 43,4%.
• Cho vay trung hạn giảm với tốc độ gộp bình quân năm là 3,6%.
• Cho vay kỳ hạn dài tăng trưởng với tốc độ gộp bình quân năm là 19%.

Để phục vụ cả khối khách hàng doanh nghiệp và DNNVV, TCB đã chuyển hướng sang cho vay ngắn hạn vốn lưu động, từ đó dành phần nhiều hơn nguồn cho vay dài hạn để cho vay mua nhà. Chiến lược này giúp giảm bớt rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản trong khi nâng cao được tỷ suất lợi nhuận.

Cho vay doanh nghiệp lớn tăng nhanh nhất, tiếp theo là cho vay khách hàng cá nhân – Cho vay doanh nghiệp lớn tăng trưởng với tốc độ gộp bình quân năm là 35,1%; còn cho vay khối DNNVV chỉ tăng trưởng với tốc độ gộp bình quân năm là 11,4%. Trong khi đó cho vay khách hàng cá nhân tăng trưởng với tốc độ gộp bình quân năm là 30% trong giai đoạn 2013-2017. Trong năm 2016, dư nợ cho vay khối DNNVV giảm do TCB chủ động điều chỉnh lại danh mục khách hàng DNNVV, loại bỏ những khách hàng chất lượng thấp, do tỷ lệ nợ xấu gộp từ khối khách hàng DNNVV (gồm cả trái phiếu VAMC) là 10,5% trong giai đoạn 2015-2016. Cao hơn nhiều tỷ lệ nợ xấu từ khối khách hàng doanh nghiệp và khối khách hàng cá nhân.

TCB có tỷ trọng cho vay lĩnh vực BĐS và xây dựng cao – chiếm 20,2% tổng dư nợ tại thời điểm Q1/2018. Trong khi đó cho vay lĩnh vực thương mại, chế biến chế tạo chiếm 19,2%; cho vay các lĩnh vực khác chiếm 21,1%; còn lại 39,4% là cho vay khách hàng cá nhân.

Dư nợ cho vay khách hàng cá nhân tại thời điểm cuối năm 2017 gồm cho vay mua nhà (chiếm 69,3%), cho vay mua ô tô (chiếm 7,3%), cho vay thẻ tín dụng (chiếm 4%) và cho vay khác (chiếm 19%). Nếu tính cả cho vay mua nhà, thì cho vay lĩnh vực BĐS và xây dựng của TCB xấp xỉ 47,5% tổng dư nợ, cao hơn so với hầu hết các ngân hàng khác.

Cho vay mua nhà tăng trưởng với tốc độ gộp bình quân năm là 23,7% trong giai đoạn 2015-2017 với thị phần tại thời điểm cuối năm 2017 là 16%. Năm 2017, số lượng khách hàng có giao dịch vay mua nhà tăng trưởng với tốc độ gộp bình quân năm là 16,4%; nhưng dư nợ cho phân khúc khách hàng cao cấp và trung cao cấp không tăng. Trong khi đó dư nợ cho vay mua nhà khách hàng bình dân tăng 31%. Chúng tôi cho rằng xu hướng này là do Vingroup mở rộng sang phân khúc nhà ở trung cấp và bình dân.

Tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn cao – TCB đã nâng đáng kể tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn, từ chỉ 12,8% trong năm 2012 lên 24,1% vào cuối năm 2017; chỉ đứng sau MBB, VCB, LPB và cao hơn nhiều mức bình quân các ngân hàng niêm yết là 17%. Khách hàng cá nhân đóng góp 70,8% tiền gửi còn khách hàng doanh nghiệp & DNNVV đóng góp 29,2%, theo đó tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn cao là bằng chứng rõ ràng cho thấy thành công của chiến lược “hệ sinh thái”.

Tỷ lệ NIM cao – Tỷ lệ NIM của TCB là 4,13% vào năm 2016, cao nhất trong số các NHTMCP (không tính VPB và HDB vì 2 ngân hàng này có mảng tài chính tiêu dùng). Trong năm 2017, tỷ lệ NIM của TCB giảm nhẹ xuống còn 4,06% trong khi tỷ lệ NIM bình quân của các ngân hàng tăng 0,16%. Tỷ trọng cho vay ngắn hạn trong tổng dư nợ của TCB tăng đáng kể có thể là nguyên nhân ở đây.

TCB có tỷ trong lãi thuần hoạt động dịch vụ trong tổng thu nhập hoạt động trong năm 2017 lớn nhất. Ở đây chúng tôi không tính đến STB và SCB do tỷ trọng lãi thuần hoạt động dịch vụ cao bất thường của hai ngân hàng này là do thu nhập lãi thuần hoạt động và tổng thu nhập hoạt động thấp. Trong năm 2017, TCB, STB, VPB, và SHB đều ký kết hợp tác độc quyền với các công ty bảo hiểm nhân thọ và nhận về khoản phí đại lý lớn. Cụ thể TCB ghi nhận 1.446 tỷ đồng cho khoản phí này. Nếu không bao gồm khoản phí đại lý phát sinh một lần trên, lãi thuần hoạt động dịch vụ đã điều chỉnh của TCB là 2.366 tỷ đồng, xếp thứ 3 trong hệ thống ngân hàng và là ngân hàng có tỷ trọng lãi thuần hoạt động dịch vụ trong tổng thu nhập hoạt động lớn nhất, là 15,9% trong khi tỷ trọng này ở hầu hết các ngân hàng khác là dưới 10%.

Lãi thuần hoạt động dịch vụ tăng trưởng với tốc độ trung bình gộp năm là 33% trong ba năm qua và đóng góp chính cho dòng thu nhập này gồm:

(1) Hoa hồng bảo hiểm.
(2) Phí phân phối và phát hành trái phiếu doanh nghiệp.
(3) Dịch vụ ngân hàng giao dịch (thanh toán, dịch vụ tài khoản, tiền mặt, …).

Hoa hồng bán bảo hiểm tăng trưởng với tốc độ trung bình gộp năm 269% trong giai đoạn 2015 – 2017 và đóng góp 16,7% lãi thuần hoạt động dịch vụ của Ngân hàng trong năm 2017 (đã điều chỉnh loại trừ khoản phí đại lý bảo hiểm). Theo TCB (nguồn: báo cáo tư vấn), với 26% thị phần, TCB hiện dẫn đầu về kênh phân phối bảo hiểm nhân thọ qua ngân hàng (bancassurance). Sở hữu nguồn khách hàng có thu nhập cao rõ ràng là một lợi thế cạnh tranh của TCB. Thị trường bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam đã tăng trưởng vượt trội với tốc độ khoảng 30% trong những năm gần đây. Tại các nước Châu Á như Thái Lan, Indonesia, Singapo và Hong Kong, đóng góp từ kênh bancassurance dao động từ 30%-50% tổng bảo hiểm đã phân phối. Trong khi đó, tại Việt Nam, chúng tôi ước tính tỷ trọng này là 1% trong năm 2013 và đã tăng lên 10% trong năm 2017.

TCB cũng dẫn đầu về tư vấn phát hành và môi giới trái phiếu doanh nghiệp – Nghiệp vụ phân phối và phát hành trái phiếu doanh nghiệp được thực hiện bởi Techcombank Securities (với 100% sở hữu của TCB). Vào cuối năm 2017, TCBS nắm 42% thị phần tư vấn phát hành trái phiếu doanh nghiệp và 82,3% thị phần môi giới trái phiếu doanh nghiệp. Kể từ năm 2015, do chủ động hướng chuyển dịch cho vay doanh nghiệp lớn và các DNNVV thiên về các khoản vay vốn lưu động ngắn hạn, TCB đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn của khách hàng doanh nghiệp thông qua hoạt động dịch vụ thu phí tư vấn phát hành trái phiếu. Hướng đi khác biệt này giúp giảm rủi ro tín dụng đồng thời cải thiện thanh khoản của Ngân hàng. Do Ngân hàng phân phối phần lớn trái phiếu trung và dài hạn này cho khách hàng cá nhân.

Phí dịch vụ thanh toán tăng trưởng với tốc độ trung bình gộp năm là 19,3% trong giai đoạn 2012-2017 – Tỷ trọng nguồn thu nhập này trong lãi thuần hoạt động dịch vụ giảm từ khoảng 60% trước năm 2015 xuống 32% trong năm 2017 do có TCB có thêm nhiều dịch vụ và sản phẩm mới như bảo hiểm nhân thọ và trái phiếu doanh nghiệp. Tuy nhiên, Khối ngân hàng giao dịch của TCB vẫn cho thấy hiệu quả hoạt động tốt nhất trong toàn ngành. Chúng tôi sử dụng tỷ lệ phí dịch vụ thanh toán và quản lý tiền mặt trên cho vay khách hàng để đánh giá khả năng thu phí từ các dịch vụ tài trợ thương mại, dịch vụ tài khoản và kiều hối của các ngân hàng. Và TCB là Ngân hàng có khả năng thu phí dịch vụ thanh toán hiệu quả nhất trong hai năm 2016 và 2017.

TCB giới thiệu chiến dịch Big Zero Fee miễn phí giao dịch qua kênh điện thoại và online, bao gồm cả chuyển khoản tới các ngân hàng nội địa khác, với mục tiêu xây dựng hình ảnh ngân hàng “chi phí thấp” để mở rộng thâm nhập vào phân khúc khách hàng trung lưu ở các đô thị. Do đó, chúng tôi nhận thấy phí quản lý tiền mặt từ khối khách hàng cá nhân giảm hơn 50%. Tuy nhiên, tổng phí ngân hàng giao dịch vẫn tăng 15%.

Thu nhập phí không phải là thước đo duy nhất đánh giá hiệu quả của hoạt động ngân hàng giao dịch. CASA tăng là một kết quả khác cho thấy sự hiệu quả của các dịch vụ ngân hàng giao dịch và CASA của TCB cũng tăng mạnh trong thời gian qua.

Hiệu quả hoạt động tốt giúp TCB trở thành một trong những ngân hàng đầu ngành – Với hệ số CIR chỉ là 28,7% hay 32,2% nếu điều chỉnh loại trừ khoản thu nhập không thường xuyên. Hệ số CIR của TCB thấp hơn nhiều so với bình quân các ngân hàng khác trong năm 2017, là 43,9%. Tổng thu nhập hoạt động trên mỗi nhân viên cũng tăng mạnh trong những năm qua, tăng gần gấp đôi từ khoảng 958 tỷ đồng lên 1.864 tỷ đồng trong giai đoạn 2014-2017. Trong khi đó, chi phí hoạt động trên mỗi nhân viên chỉ tăng trung bình 5%/năm trong cùng giai đoạn.

Ngân hàng sinh lời tốt nhất trong năm 2017 – tính trên cả hai tỷ lệ ROA và ROE. TCB và VPB cạnh tranh sát sao cho vị trí dẫn đầu về khả năng sinh lời, tuy nhiên chúng tôi lưu ý rằng khoảng 50% LNTT của VPB là từ công ty con tài chính tiêu dùng với nhiều rủi ro kèm theo. Sau khi điều chỉnh loại bỏ khoản phí đại lý bảo hiểm của TCB và bao gồm VPB để so sánh, hệ số ROA và ROE của TCB lần lượt là 2,1% và 22,7%, cao nhất trong ngành.

Vốn hóa cao với hệ số CAR là 16,5% sau bán cổ phiếu quỹ – Hệ số CAR vào cuối Q1/2018 là 14,48%, cao hơn nhiều so với mức tối thiểu bắt buộc là 9% (đối với Basel 1). Vốn cấp 1 của Ngân hàng trong Q1 tăng thêm 15.073 tỷ đồng, chủ yếu nhờ bán 93,24 triệu cổ phiếu quỹ (8% tổng số cổ phiếu đang lưu hành) cho hai quỹ do Warburg Pincus quản lý, tăng thặng dư vốn cổ phần thêm 13.024 tỷ đồng và 2.049 tỷ đồng LNST của Q1. Chúng tôi ước tính hệ số CAR hiện tại của TCB là 16,5% sau bán cổ phiếu quỹ, và dự báo hệ số này sẽ tăng lên 19,24% vào cuối năm 2018 với giả định Ngân hàng không trả cổ tức tiền mặt. Mức CAR và nguồn vốn hiện tại (thậm chí tính theo tiêu chuẩn Basel 2) là đủ để Ngân hàng tiếp tục tăng trưởng trong ba năm tới.

Mô hình lợi nhuận của HSC cho năm 2018 – 2019 – Chúng tôi dự báo TCB sẽ tiếp tục cho KQKD tốt

Quan điểm đầu tư và định giá của chúng tôi dựa trên sự tin tưởng mô hình ngân hàng toàn diện của TCB sẽ đảm bảo mức tăng trưởng tốt trong tương lai với:

– Chất lượng tài sản tốt
– Nguồn khách hàng lớn
– Lãi thuần hoạt động dịch vụ tốt và đa dạng
– Các hệ số an toàn được kiểm soát tốt
– Hệ số CAR cao

Trong 3 năm tới (2018 – 2020), chúng tôi dự báo các chỉ số quan trọng của TCB như sau (lưu ý chúng tôi loại trừ khoản phí đại lý bảo hiểm và lợi nhuận từ thoái vốn trong năm 2017).

– Cho vay khách hàng tăng trưởng với tốc độ trung bình gộp năm là 20,7% lên 282 nghìn tỷ đồng.
– Tiền gửi khách hàng tăng trưởng với tốc độ trung bình gộp năm là 20% lên 310 nghìn tỷ đồng.
– Tổng tài sản tăng trưởng với tốc độ trung bình gộp năm là 18,3%.
– Tỷ lệ NIM tăng 0,93% lên 4,74%.
– Thu nhập lãi thuần tăng trưởng với tốc độ trung bình gộp năm là 26,8% lên 18.219 tỷ đồng.
– Tổng thu nhập ngoài lãi tăng trưởng với tốc độ trung bình gộp năm là 24,2% lên 10.320 tỷ đồng, với lãi thuần hoạt động dịch vụ tăng trưởng với tốc độ trung bình gộp năm 36,1% lên 5.965 tỷ đồng.
– Tổng thu nhập hoạt động tăng trưởng với tốc độ trung bình gộp năm là 25,2% lên 28.532 tỷ đồng.
– Chi phí hoạt động tăng với tốc độ trung bình gộp năm là 16,5%.
– Chi phí dự phòng giảm với tốc độ trung bình gộp năm là -3,9%.
– LNTT tăng trưởng với tốc độ trung bình gộp năm là 42,1% lên 17.894 tỷ đồng.
– ROAA tăng từ 2,55% trong năm 2017 lên 3,49% năm 2020, trong khi đó ROAE giảm từ 27,71% năm 2017 (trước tăng vốn) xuống 19,7% trong năm 2020 với giả định Ngân hàng không trả cổ tức tiền mặt trong giai đoạn này.

Tăng trưởng tín dụng trên mức bình quân, với động lực tăng đến từ cho vay mua nhà – Trong mô hình của mình, chúng tôi giả định trong giai đoạn 2018-2020, tín dụng tăng trưởng trung bình gộp 20,7%/năm, so với mức bình quân ngành là 18%. Dự báo của chúng tôi thận trọng hơn so với kế hoạch của TCB với tăng trưởng tín dụng 23% cho hai năm 2018 và 2019. Nhu cầu lớn đối với các khoản vay mua nhà, đặc biệt là ở phân khúc bình dân sẽ là động lực chính cho tăng trưởng tín dụng của TCB, tuy nhiên sẽ bị ảnh hưởng bởi yêu cầu kiểm soát rủi ro thanh quản khi mà hệ số LDR của Ngân hàng vào cuối năm 2017 đã là 76,6%, chỉ thấp hơn một chút so với mức tối đa cho phép là 80%. Trong khi đó tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn của TCB vào cuối năm 2017 là 43% và cần giảm xuống 40% vào cuối năm 2018.

Chúng tôi giải định dư nợ cho vay mua nhà của TCB sẽ tăng trưởng trung bình gộp 30% lên 98,4 nghìn tỷ đồng, và chiếm 35% tổng dư nợ của Ngân hàng trong năm 2020. Nhu cầu đối với các khoản vay mua nhà nhìn chung vẫn là động lực quan trọng cho tăng trưởng tín dụng. Theo NFSC, cho vay tiêu dùng trong năm 2017 đã tăng trưởng 65% (tương đương 18% tổng tín dụng) so với mức tăng trưởng 50,2% năm 2016 (tương đương 12,3% tổng tín dụng). Trong đó, cho vay mua nhà và nâng cấp nhà chiếm hơn 50% cho vay tiêu dùng. Định nghĩa về cho vay tiêu dùng ở đây được mở rộng và bao gồm cả cho vay mua nhà có đảm bảo và cho vay mua xe.

TCB với thị phần cho vay mua nhà là 16% (so với thị phần tín dụng chung là khoảng 2,8%) và mối quan hệ lâu năm với Vingroup, doanh nghiệp phát triển BĐS đầu ngành, sẽ hưởng lợi nhiều hơn so với các ngân hàng khác từ sự tăng trưởng của thị trường nhà ở trung cấp.

Tỷ lệ NIM được cải thiện nhờ CASA tăng và tỷ trọng cho vay mua nhà lớn hơn – Chúng tôi giả định tỷ lệ CASA sẽ tăng dần lên 35%, giảm chi phí tiền gửi 0,20% trong khi đó tỷ trọng cho vay mua nhà lớn hơn sẽ giúp cải thiện lợi suất cho vay, tăng 0,9% đến năm 2020 với sự hỗ trợ từ nền tảng ngân hàng giao dịch vượt trội.

Lãi thuần hoạt động dịch vụ dự báo tăng trưởng với tốc độ trung bình gộp năm là 36,1% – Chủ yếu nhờ;

– Phí đại lý bảo hiểm tăng trưởng với tốc độ trung bình gộp năm là 30% với giả định phí bảo hiểm nhân thọ sẽ tiếp tăng trung bình khoảng 30%.
– Phí phân phối và phát hành trái phiếu doanh nghiệp tăng trưởng với tốc độ trung bình gộp năm là 50% với dự báo nhu cầu lớn từ cả người phát hành và NĐT đối với trái phiếu tuy nhiên quy mô thị trường trái phiếu của Việt Nam còn bé so với thị trường cổ phiếu.
– Dịch vụ thanh toán và dịch vụ tài khoản tăng trưởng với tốc độ trung bình gộp năm là 20% và dịch thẻ và các dịch vụ khác tăng trưởng với tốc độ trung bình gộp năm là 30%.

Chi phí dự phòng dự báo giảm trong 3 năm tới dựa trên:

– Tỷ lệ nợ xấu thấp, là 1,61% vào cuối năm 2017.
– Đã xử lý toàn bộ trái phiếu VAMC kể từ cuối Q2/2017.
– Phần phải thu chưa trích lập dự phòng còn lại từ các khoản nợ đã bán cho AMC chỉ là 641 tỷ đồng (0,4% dư nợ năm 2017).

KQKD Q1/2018 thoạt nhìn rất ấn tượng với LNTT tăng 93,9% so với cùng kỳ, nhưng là nhờ đóng góp từ lợi nhuận thoái vốn không thường xuyên.

Cho vay khách hàng chỉ tăng 1,92% so với đầu năm lên 163.948 tỷ đồng so với mức tăng trưởng tín dụng tòan ngành là 3,56% và 4% bình quân 22 ngân hàng đầu ngành. Nếu tính cả đầu tư trái phiếu doanh nghiệp, tổng tín dụng của Ngân hàng đạt 184.210 tỷ đồng (tăng 0,91% so với đầu năm).

Theo kỳ hạn, tăng trưởng tín dụng vẫn nghiêng về ngắn hạn, cho thấy các khoản vay vốn lưu động cho khách hàng doanh nghiệp và các DNNVV là động lực tăng trưởng cho vay chính.

• Cho vay ngắn hạn tăng 8,3% so với đầu năm, tăng 81,8% so với cùng kỳ đạt 68.652 tỷ đồng (tương đương 41,9% tổng dư nợ so với tỷ trọng 27,4% trong Q1/2017).
• Trong khi đó cho vay trung hạn giảm 1,9% so với đầu năm, hay giảm 25% so với cùng kỳ là 42.064 tỷ đồng (tương đương 25,7% tổng dư nợ so với tỷ trọng 40,7% trong Q1/2017).
• Và cho vay dài hạn giảm 2,4% so với đầu năm nhưng tăng 21,1% so với cùng kỳ lên 52.233 tỷ đồng (tương đương 32,5% tổng dư nợ so với tỷ trọng 31,9% trong Q1/2017).

Cơ cấu cho vay theo khách hàng;

• Cho vay các DNNN giảm 11,9% so với đầu năm, là 7.479 tỷ đồng (tương đương 4,6% tổng dư nợ trong khi tỷ trọng này vào cuối năm 2017 là 5,3%).
• Cho vay doanh nghiệp khối tư nhân tăng 5,1% so với đầu năm đạt 89.883 tỷ đồng (tương đương 54,8% tổng dư nợ trong khi tỷ trọng này vào cuối năm 2017 là 53,2%).
• Cho vay cá nhân gần nhu không đổi (giảm nhẹ 0,2% so với đầu năm) là 64.777 tỷ đồng (tương đương 39,4% tổng dư nợ trong khi tỷ trọng này vào cuối năm 2017 là 40,3%).

Theo ngành, chúng tôi nhận thấy biến động trái chiều ở một số ngành chính, cụ thể;

• Cho vay BĐS tăng 30% so với đầu năm và cho vay xây dựng tăng 9,9% so với đầu năm, đồng thời tỷ trọng cho vay đối với hai ngành này cũng tăng lên 20,2% tổng dư nợ (cuối năm 2017 là 16,4%).
• Trong khi đó, cho vay ngành sản xuất và chế biến giảm 11,1% so với đầu năm và cho vay các ngành thương mại bán buôn, bán lẻ giảm 7,4% so với đầu năm, tỷ trọng cho vay các ngành này trong tổng dư nợ cũng giảm xuống 19,2% (năm 2017 là 21,6%).

Tiền gửi khách hàng tăng 6,1% so với đầu năm đạt 181.391 tỷ đồng (sau khi giảm 1,43% trong năm 2017). Nếu bao gồm cả 20.074 tỷ đồng (tăng 13,8% so với cùng kỳ) giá trị giấy tờ có giá, tổng tiền gửi khách hàng trong Q1 năm nay là 201.465 tỷ đồng (tăng 6,8% so với đầu năm).

Theo kỳ hạn;

• Tiền gửi không kỳ hạn (CASA) giảm nhẹ 1,9% so với đầu năm xuống 42.018 tỷ đồng (tương đương 23,2% tổng tiền gửi khách hàng so với tỷ trọng 24,1% vào cuối năm 2017 và 20,3% vào cuối Q1/2017).
• Trong khi đó tiền gửi có kỳ hạn tăng 7,4% so với đầu năm đạt 139.372 tỷ đồng. Cụ thể hơn, tiền gửi kỳ hạn 3 đến 12 tháng tăng mạnh nhất, tăng 31,4% so với đầu năm trong khi đó tiền gửi kỳ hạn 1 đến 5 năm giảm 26,8% so với đầu năm. Do đó, kỳ hạn trung bình tiền gửi khách hàng thực tế giảm.

Hệ số LDR thuần giảm xuống 90,4% từ 94,1% vào cuối năm 2017.

Tỷ lệ NIM không đổi ở mức 4,05%, với lợi suất gộp giảm nhẹ 0,16% xuống 7,93% và chi phí huy động cũng giảm nhẹ 0,06% xuống 4,19% và hệ số LDR giảm.

Cụ thể lợi suất ở các tài sản sinh lãi như sau:

• Tổng tài sản sinh lãi tăng 17,3% với cùng kỳ, trong đó tỷ trọng cho vay khách hàng tăng lên 64,4% (Q1/2017 là 63,8%), tỷ trọng cho vay và tiền gửi liên ngân hàng tăng lên 12,7% (Q1/2017 là 9,9%) trong khi đó tỷ trọng đầu tư trái phiếu giảm xuống 22,6% (Q1/2017 là 26,3%).

• Lợi suất cho vay khách hàng giảm 0,17% xuống 8,89% và chúng tôi cho rằng nguyên nhân là do tỷ trọng cho vay ngắn hạn tăng. Trong khi đó, lợi suất tiền gửi liên ngân hàng cũng giảm 1,62% so với cùng kỳ xuống 2,67% theo xu hướng giảm chung của lãi suất liên ngân hàng trong năm qua. Lợi suất đầu tư trái phiếu trái của Ngân hàng tăng 0,35% mặc dù trong bối cảnh lợi suất trái phiếu giảm. Chúng tôi cho rằng đây có thể là nhờ kỳ hạn trái phiếu đầu tư của TCB dài hơn và tỷ trọng đầu tư trái phiếu doanh nghiệp lớn hơn (chiếm 35% tổng danh mục trái phiếu so với mức 26% trong Q1/2017).

Cụ thể chi phí huy động ở các nguồn huy động như sau:

• Tổng nguồn vốn chịu lãi tăng 10,9% với cùng kỳ, với tỷ trọng tiền gửi khách hàng giảm xuống 79,3% (86,8% trong Q1/2017), trong khi đó tỷ trọng huy động liên ngân hàng tăng lên 11,1% (8,2% trong Q1/2017) và tỷ trọng các giấy tờ có giá tăng lên 8,8% (5,0% trong Q1/2017).

• Chi phí huy động giảm 0,04% xuống 4,1% và chi phí huy động liên ngân hàng và cho vay khách giảm 3,57% xuống 2,71%. Trong khi đó chi phí huy động giấy tờ có giá tăng 1,35% lên 7,49%.

Theo đó, thu nhập lãi thuần tăng 16,6% so với cùng kỳ lên 2.547 tỷ đồng.

Thu nhập ngoài lãi tăng 41,7% so với cùng kỳ đạt 2.113 tỷ đồng và đóng góp 45,3% tổng thu nhập hoạt động (Q1/2017 là 40,6%). Đây là tỷ trong thu nhập ngoài lãi cao nhất trong số các ngân hàng lớn, tuy nhiên một phần là nhờ đóng góp từ lợi nhuận thoái vốn trong cả hai quý.

• Lãi thuần hoạt động dịch vụ giảm 9,9% so với cùng kỳ là 492 tỷ đồng, với tổng thu nhập hoạt động dịch vụ tăng nhẹ 2,6% so với cùng kỳ trong khi đó chi phí hoạt động dịch vụ tăng mạnh 73% so với cùng kỳ. Cơ cấu thu nhập hoạt động dịch vụ như sau;

– Dịch vụ thanh toán và dịch vụ tài khoản đạt 367 tỷ đồng (tăng 15,8% so với cùng kỳ).
– Hoa hồng bảo hiểm đạt 100,4 tỷ đồng (giảm 13,1% so với cùng kỳ).
– Thu nhập từ tư vấn, phát hành và môi giới là 75 tỷ đồng (tăng 60% so với cùng kỳ).
– Dịch vụ thể và các dịch vụ khác là 102,7 tỷ đồng (tăng 38,6% so với cùng kỳ).

• Lãi thuần hoat động kinh doanh ngoại hối đạt 45,3 tỷ đồng (giảm 49% so với cùng kỳ).
• Lãi thuần mua bán chứng khoán kinh doanh và đầu tư đạt 452,4 tỷ đồng (tăng 68,8% so với cùng kỳ). Với lợi suất trái phiếu giảm về mức kỷ lục trong Q1, nhiều ngân hàng đã ghi nhận lợi nhuận tốt từ danh mục trái phiếu.
• Thu nhập khác là 229,3 tỷ đồng (giảm 1,7% so với cùng kỳ).
• Và lãi thuần từ góp vốn, đầu tư dài hạn đạt 894,4 tỷ đồng (tăng 151,8% so với cùng kỳ), phần lớn là lợi nhuận từ bán toàn bộ cổ phần (100%) tại Techcom Finance.

Theo đó, tổng thu nhập hoạt động tăng 26,8% so với cùng kỳ đạt 4.660 tỷ đồng, với thu nhập lãi thuần đóng góp 54,7% và thu nhập ngoài lãi đóng góp 45,3%.

Chi phí hoạt động được kiểm soát khá tốt và chỉ tăng 17,3% so với cùng kỳ lên 1.267 tỷ đồng. Chi phí nhân viên tăng 19,8% lên 726,8 tỷ đồng (chiếm 57% tổng chi phí hoạt động) do số lượng nhân viên tăng 11,2%. Hệ số CIR chỉ là 27,2% (là 29,4% trong Q1/2017 và 27,8% trong năm 2017).

Chi phí dự phòng giảm mạnh 35,1% so với cùng kỳ xuống 824 tỷ đồng. Chi phí dự phòng cho vay khách hàng là 1.584 tỷ đồng (trong đó 114 tỷ đồng là dự phòng chung và 1.471 tỷ đồng là dự phòng cụ thể). TCB hoàn nhập 756 tỷ đồng dự phòng cho số nợ xấu đã bán trước đó.

Tỷ lệ nợ xấu là 1,87%, tăng từ 1,61% vào cuối năm 2017, sau khi xử lý 1.136 tỷ đồng nợ xấu trong Q1. Dư nợ xấu hình thành mới là 3.068,4 tỷ đồng (tăng 18,8% so với đầu năm).

– Nợ nhóm 2 chiếm 1,7% tổng dư nợ (tăng 20,1% so với đầu năm lên 2.802 tỷ đồng).
– Nợ nhóm 3 chiếm 0,27% tổng dư nợ (giảm 22,7% với đầu năm xuống 444,6 tỷ đồng).
– Nợ nhóm 4 chiếm 0,57% tổng dư nợ (tăng 103,4% so với đầu năm lên 926,7 tỷ đồng).
– Nợ nhóm 5 chiếm 1,04% tổng dư nợ (tăng 1,9% so với đầu năm lên 1.697,2 tỷ đồng).

Theo đó, LNTT Q1 là 2.569 tỷ đồng (tăng 93,9% so với cùng kỳ). Nếu loại trừ khoản lợi nhuận từ thoái vốn đầu tư (894 tỷ đồng lợi nhuận từ bán toàn bộ Techcom Finance trong Q1/2018, và 355 tỷ đồng lợi nhuận từ bán cổ phần tại HVN trong Q1/21017), LNTT của mảng kinh doanh cốt lõi trong Q1 sẽ là 1.674 tỷ đồng (tăng 72,7% so với cùng kỳ).

Kết luận đầu tư – Chúng tôi đưa ra đánh giá lần đầu cho Cổ phiếu TCB là Mua vào với giá trị hợp lý ước tính là 125.000đ; tương đương P/B là 2,68 lần, cao hơn 20% so với mức bình quân các ngân hàng tương đương trong nước. Giá trị hợp lý cũng cao hơn 36% so với thị giá hiện tại.

Nguồn: Research HSC

BÌNH LUẬN()

CÁC TIN LIÊN QUAN

Đối tác