DANH MỤC

Mobile / Fb / Zalo: 0912 842 224 | 0982 842 224

Cập nhật cổ phiếu PVT – Đánh giá Khả quan

Lượt xem: 578 - Ngày:
Chia sẻ

Tổng công ty Cổ phần Vận tải Dầu khí (Cổ phiếu PVT) đã công bố KQKD 6 tháng đầu năm với doanh thu đạt 4.074 tỷ đồng (tăng 5,1% so với cùng kỳ) và LNST đạt 438 tỷ đồng (tăng 12,9% so với cùng kỳ).

Đồ thị cổ phiếu PVT phiên giao dịch ngày 20/08/2019. Nguồn: AmiBrokerĐồ thị cổ phiếu PVT phiên giao dịch ngày 20/08/2019. Nguồn: AmiBroker

Doanh thu sát với kỳ vọng của chúng tôi trong khi LNST cao hơn 11,2% so với kỳ vọng của chúng tôi (là 394 tỷ đồng, tăng 1,5% so với cùng kỳ). Doanh thu tăng trưởng nhờ công suất chuyên chở tăng, giá vận chuyển tăng cộng với nhu cầu cao hơn từ nhà máy lọc dầu Nghi Sơn như chúng tôi đã dự báo. Tuy nhiên LNST gây bất ngờ đối với chúng tôi nhờ chi phí được kiểm soát hiệu quả hơn ở toàn bộ các hoạt động của Công ty.

Kết luận nhanh: Duy trì đánh giá Khả quan. Chúng tôi ước tính giá trị hợp lý của cổ phiếu PVT là 21.800đ; dựa trên so sánh với P/E các doanh nghiệp cùng ngành trong khu vực. Tại giá trị hợp lý, P/E dự phóng năm 2019 là 9,1 lần. HSC điều chỉnh tăng 6,6% dự báo LNST năm 2019, theo đó LNST năm 2019 tăng trưởng 8,1% thay vì tăng trưởng 1,5% như dự báo trước đây của chúng tôi.

Cho năm 2020, HSC dự báo LNST tăng trưởng 13,2%. Trong 2 năm tới, chúng tôi vẫn kỳ vọng lợi nhuận của PVT vẫn tăng trưởng nhờ nhu cầu gia tăng từ nhà máy lọc dầu Nghi Sơn và các nhà máy nhiệt điện mới đi vào hoạt động, cũng như phí vận chuyển của tất cả các tàu biển tăng nhờ có quy định mới của Tổ chức hàng hải quốc tế (IMO) về giới hạn hàm lượng lưu huỳnh, có hiệu lực vào ngày 1/1/2020.

Bảng 1: PVT – KQKD 6 tháng đầu năm

PVT – KQKD 6 tháng đầu năm

Tăng trưởng doanh thu dịch vụ vận tải nhờ vào sự mở rộng công suất chuyển chở của đội tàu và nhu cầu mới từ nhà máy lọc dầu Nghi Sơn – Doanh thu dịch vụ vận tải đạt khoảng 2.394 tỷ đồng (tăng 17,9% so với cùng kỳ), lợi nhuận gộp đạt 393 tỷ đồng (tăng 38,1% so với cùng kỳ). Tỷ suất lợi nhuận gộp đạt 16,4% trong khi 6 tháng đầu năm 2018 là 14%.

Doanh thu tăng nhờ có thêm 7 tàu mới đi vào hoạt động trong giai đoạn tháng 6/2018 – tháng 6/2019, cùng với nhu cầu mới từ nhà máy lọc dầu Nghi Sơn. Bảy tàu đi vào hoạt động đã nâng công suất chuyển chở thêm khoảng 15%. Tất cả những tàu chở dầu mới đều ký được hợp đồng toàn thời gian, cụ thể:

  • 1 tàu chở dầu (PVT Hera) đi vào hoạt động vào tháng 6/2018 thay thế tàu cũ PVT Hercules (sau đó được thanh lý).
  • 4 tàu chở LPG đi vào hoạt động gồm 3 tàu đi vào hoạt động trong 6 tháng cuối năm 2018 và 1 tàu đi vào hoạt động vào 6 tháng đầu năm 2019.
  • 1 tàu chở hàng dời (PVT Sapphire) đi vào hoạt động vào tháng 11/2018.
  • 1 tàu chở dầu (PVT Apollo) đi vào hoạt động vào tháng 6/2019; nâng thêm công suất chở dầu của PVT.

Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn bắt đầu đi vào hoạt động trong nửa cuối 2018 và PVT sau đó đã ký được hợp đồng cung cấp dịch vụ:

(1) chở dầu (tàu VLCC) cho Nghi Sơn, và

(2) chở các sản phẩm dầu mỏ (tương đương 30% sản lượng của nhà máy lọc dầu Nghi Sơn).

Việc Công ty có thêm tàu và nhà máy lọc dầu Nghi Sơn đi vào hoạt động đã giúp khối lượng chuyển chở dầu thô và sản phẩm dầu mỏ của PVT tăng khoảng 25%.

Tỷ suất lợi nhuận mảng vận tải cũng được cải, chủ yếu thiện nhờ:

  • Giá vận chuyển tất cả các tàu tăng sau khi IMO có quy định mới – Theo quy định mới của IMO về giới hạn hàm lượng lưu huỳnh, thì từ tháng 1/2020; giới hạn lưu huỳnh trong nhiên liệu được sử dụng trên tàu hoạt động ngoài khu vực kiểm soát khí thải được chỉ định sẽ giảm xuống 0,5% m/m (khối lượng theo khối lượng) so với mức 3,5% hiện giờ.

Chỉ có những tàu được lắp đặt hệ thống làm sạch khí thải, còn được gọi là “máy lọc khí” mới được phép tiếp tục sử dụng nhiên liệu có hàm lượng lưu huỳnh cao. Chủ tàu có thể lựa chọn sử dụng các nguồn nhiên liệu sạch khác như LNG. Nếu không tuân thủ các quy định quốc tế, chủ tàu sẽ bị phạt hoặc bị bắt giữ tàu, từ đó có thể làm phát sinh những yêu cầu cần thiết chẳng hạn như mua bảo hiểm.

Quy định sẽ do các cảng và quốc gia cấp phép thực thi thay vì IMO. Quy định yêu cầu chủ tàu phải ngừng hoạt động tàu cũ và/hoặc đầu tư lắp đặt hệ thống làm sạch khí thải cho tàu trẻ. Do vậy, nguồn cung tàu vận tải sẽ kém đi trong khi chi phí đầu tư của chủ tàu sẽ tăng lên, và điều này làm tăng phí vận chuyển với tất cả tàu trên toàn thế giới.

PVT đang hưởng lợi từ xu hướng tăng phí vận chuyển vì tất cả các tàu sẽ phải tuân thủ quy định mới. Công ty đã bắt đầu đầu tư mới đội tàu trong năm 2017; nghĩa là bán các tàu cũ không tuân thủ quy định và mua tàu mới tuân thủ quy định ngay khi Ủy ban bảo vệ môi trường biển của IMO xác nhận sẽ triển khai thực hiện quy định về giới hạn hàm lượng lưu huỳnh 0,5% m/m trên toàn thế giới.

  • Mảng vận tải LPG với tỷ suất lợi nhuận cao đang đóng góp nhiều hơn vào lợi nhuận của mảng vận tải nói chung – Theo PVT, tỷ suất lợi nhuận gộp mỗi mảng vận tải thành phần trong mảng dịch vụ vận tải nói chung như sau.
  • Vận tải dầu thô: 13%
  • Vận tải sản phẩm dầu: 12,5%
  • Vận tải LPG: 21%
  • Vận tải than: 13,3% (năm 2018 là 6,7%)

Do PVT có 4 tàu chở LPG mới đi vào hoạt động trong khoảng thời gian từ tháng 6/2018 – tháng 6/2019, nên đóng góp của mảng vận tải này vào mảng vận tải nói chung trong 6 tháng dầu năm 2019 cao hơn trong 6 tháng đầu năm 2018. Điều này giúp tỷ suất lợi nhuận nói chung mảng vận tải tăng lên. Tuy nhiên, tỷ suất lợi nhuận thay đổi theo thời gian, tùy thuộc vào phí vận chuyển và công suất hoạt động của đội tàu của PVT.

  •  Tỷ suất lợi nhuận của mảng vận tải than cũng tăng nhờ có tàu chở hàng dời mới đi vào hoạt động – Vào tháng 11/2018, PVT đã dùng tàu chở hàng dời mới là Supramax PVT Sapphire để vận chuyển than nhập khẩu từ Indonesia và Australia về nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân. PVT Sapphire do PVT sở hữu nên có tỷ suất lợi nhuận gộp cao hơn của những tàu khác. Tỷ suất lợi nhuận này cũng thay đổi theo thời gian, tùy thuộc vào phí vận chuyển và công suất hoạt động của đội tàu của PVT. Tuy nhiên, như chúng tôi được biết từ PVT, tỷ suất lợi nhuận gộp mảng vận chuyển than có tàu thuộc sở hữu của PVT sẽ luôn cao hơn các doanh nghiệp có tàu thuê ngoài.

Bảng 2: PVT – doanh thu 6 tháng đầu năm

PVT – doanh thu 6 tháng đầu năm

Doanh thu dịch vụ kĩ thuật dầu khí ngoài khơi giảm do nhu cầu chế tạo ngoài khơi tăng – Doanh thu mảng này đạt khoảng 502 tỷ đồng (tăng 13,3% so với cùng kỳ) trong 6 tháng đầu năm 2019, với lợi nhuận gộp chỉ đạt 162 tỷ đồng (giảm 1,2% so với cùng kỳ). Tỷ suất lợi nhuận gộp đạt 32,2% (6 tháng đầu năm 2018 là 32,4%). Cả doanh thu và lợi nhuận gộp thấp hơn 1% so với kỳ vọng của chúng tôi. Chúng tôi kỳ vọng doanh thu đạt 509 tỷ đồng (tăng 15% so với cùng kỳ) và lợi nhuận gộp đạt 163 tỷ đồng (giảm 0,4% so với cùng kỳ). Trong khi đó tỷ suất lợi nhuận gộp đạt 32,2% cao hơn một chút so với dự báo của chúng tôi là 32%.

Dịch vụ kĩ thuật dầu khí ngoài khơi gồm dịch vụ tàu FPSO/FSO, tàu hỗ trợ ngoài khơi, khảo sát hàng hải, chế tạo, vận chuyển, lắp đặt, bảo dưỡng và sửa chữa cũng như cung ứng thuyền viên.

Trong 6 tháng đầu năm 2019, tăng trưởng nhờ vào sự tăng mạnh của nhu cầu chế tạo ngoài khơi và khảo sát hàng hải. Và điều này là do hoạt động thăm dò khai thác ngoài khơi gia tăng. Tuy nhiên tỷ suất lợi nhuận gộp giảm chủ yếu do tàu FSO Đại Hùng Queen đã ngừng hoạt động để chuyển đổi thành tàu FPSO theo yêu cầu của PVEP-POC, hiện đang thuê tàu FSO. Thời gian chuyển đổi là khoảng 90 ngày và PVEP-POC chỉ trả phí thuê cho PVT bằng 90-95% mức bình thường.

Sau khi quá trình chuyển đổi hoàn tất, tàu FPSO Đại Hùng Queen sẽ tiếp tục làm việc cho PVEP-POC theo hợp đồng kỳ hạn 10 năm (2015-2025). Giá cho thuê tàu FPSO Đại Hùng Queen sẽ cao hơn trước đây do chi phí hoạt động tăng. Chi phí hoạt động tàu FPSO luôn cao hơn tàu FSO, chủ yếu do chi phí cho hoạt động chế xuất dầu.

Bảng 3: PVT – Lợi nhuận gộp 6 tháng đầu năm

PVT - Lợi nhuận gộp 6 tháng đầu năm

Doanh thu thương mại giảm – Doanh thu đạt 1.102 tỷ đồng (giảm 20,9% so với cùng kỳ) và lợi nhuận gộp đạt 3 tỷ đồng (giảm 65,6% so với cùng kỳ). Tỷ suất lợi nhuận gộp đạt 0,3% (6 tháng đầu năm 2018 là 0,7%).

Ở mảng này, PVT chủ yếu kinh doanh khí hóa lỏng, dầu nhiên liệu, phân bón và các sản phẩm liên quan khi tàu nhàn rỗi. Mục đích là nhằm bù đắp chi phí nhiên liệu khi tàu quay về trong tình trạng trống hàng. Do vậy doanh thu mảng này thường biến động mạnh và tỷ suất lợi nhuận thấp.

Doanh thu cung cấp dịch vụ khác tăng – Doanh thu đạt 76 tỷ đồng (tăng 652% so với cùng kỳ) và lợi nhuận gộp đạt 20 tỷ đồng (tăng 1.892% so với cùng kỳ). Tỷ suất lợi nhuận gộp đạt 25,9% (6 tháng đầu năm 2018 là 9,8%).

Tốc độ tăng trưởng và sự cải thiện của tỷ suất lợi nhuận không phản ánh đúng thực trạng kinh doanh vì thông thường 95% doanh thu mảng này được hạch toán vào 6 tháng cuối năm. Do vậy doanh thu 6 tháng đầu năm thường thấp. Vì vậy chỉ cần giá trị thay đổi một chút (chẳng hạn do hạch toán sớm một hợp đồng) thì có thể khiến doanh thu lợi nhuận & tỷ suất lợi nhuận 6 tháng đầu năm biến động mạnh. Nếu tính cả năm, chúng tôi kỳ vọng tốc độ tăng trưởng 10% và tỷ suất lợi nhuận gộp 14%.

Mảng này gồm: (1) hoạt động cảng, cho thuê cầu cảng, sân bãi, nhà kho và văn phòng, (2) dịch vụ tàu kéo, (3) xử lý thiết bị, cung cấp nhiên liệu, nước sách và dầu nhờn, (4) dịch vụ môi giới tàu biển, (5) sửa chữa và bảo dưỡng tàu và (6) cung ứng thuyền viên cho các tàu.

Bảng 4: PVT – Tỷ suất lợi nhuận gộp 6 tháng đầu năm

PVT – Tỷ suất lợi nhuận gộp 6 tháng đầu năm

Chi phí bán hàng & quản lý giảm 2,8% – Chi phí bán hàng & quản lý là 100 tỷ đồng (giảm 2,8% so với cùng kỳ), thấp hơn khoảng 23,1% so với dự báo của chúng tôi là 130 tỷ đồng (tăng 26,2% so với cùng kỳ). Tỷ lệ chi phí bán hàng & quản lý/doanh thu là 2,4%; thấp hơn mức 2,6% trong 6 tháng đầu năm 2018 và thấp hơn nhiều kỳ vọng của chúng tôi là 3,2%.

Chúng tôi dự báo chi phí hoạt động tăng vì giả định những tàu mới đi vào hoạt động cùng với việc chuyển đổi tàu FSO Đại Hùng Queen sẽ làm tăng chi phí bán hàng & quản lý. Tuy nhiên PVT đã làm tốt hơn kỳ vọng với những biện pháp cắt giảm chi phí.

Vay nợ tăng do PVT tăng vay nợ để đầu tư tàu mới và phục vụ nhu cầu vốn lưu động – Tại ngày 30/6/2019, vay nợ dài hạn của PVT là 2.573 tỷ đồng (tăng 16,3% so với cùng kỳ) trong khi vay nợ ngắn hạn là 721 tỷ đồng (tăng 28,1% so với cùng kỳ). Vay nợ dài hạn tăng do PVT tăng vay nợ để đầu tư tàu mới, trong khi vay nợ ngắn hạn tăng chủ yếu để phục vụ nhu cầu vốn lưu động tăng lên của PVT khi tàu mới đi vào hoạt động: chi phí nhiên liệu, phụ tùng và các chi phí trả trước khác.

Tiền mua tàu mới một phần từ lợi nhuận chưa phân phối của PVT và một phần từ vay nợ. Tuy nhiên, tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu chỉ tăng nhẹ từ 0,577 lần trong năm 2017 lên 0,58 lần trong năm 2018 và 0,59 lần trong năm 2019 khi PVT giảm tỷ lệ lợi nhuận trả cổ tức từ 66,3% năm 2017 xuống còn 45,8% năm 2018 và sẽ giảm còn 41,7% năm 2019.

Với một công ty vận tải biển như PVT, tỷ lệ nợ/vổn chủ sở hữu tốt nhất là dưới 1 lần. Tuy nhiên do việc phát hành cổ phiếu để tăng vốn khó khăn (vì cổ đông kiểm soát với 51% cổ phần là PVN không muốn đầu tư thêm vốn vào PVT), nên giảm tỷ lệ lợi nhuận trả cổ tức và tăng vay nợ là lựa chọn tốt nhất ở thời điểm hiện tại để đầu tư tàu mới.

Cùng với vay nợ tăng, chi phí lãi vay cũng tăng 25% so với cùng kỳ trong 6 tháng đầu năm 2019, là 72 tỷ đồng. Theo tính toán của chúng tôi, trong 6 tháng đầu năm 2019, lãi suất vay ngắn hạn của PVT khaongr 6% (6 tháng đầu năm 2018 là 5,5%) trong khi lãi suất vay dài hạn là khoảng 4,2% (6 tháng đầu năm 2018 là 3,8%). PVT đã vay dài hạn chủ yếu từ PVN và hưởng lãi suất ưu đãi. Trong khi đó vay ngắn hạn là từ các NHTM nên lãi suất vay ngắn hạn bằng lãi suất thị trường.

Bảng 5: PVT – Dự báo xu hướng doanh thu

PVT – Dự báo xu hướng doanh thu

Chúng tôi giữ nguyên dự báo doanh thu năm 2019 đạt 8.267 tỷ đồng (tăng trưởng 9,9%), đồng thời điều chỉnh tăng 6,6% dự báo LNST lên 844 tỷ đồng (tăng trưởng 8,2%) từ dự báo trước đây là 792 tỷ đồng (tăng trưởng 1,5%).

  • Chúng tôi dự báo doanh thu dịch vụ vận tải đạt 5.369 tỷ đồng (tăng trưởng 25%) nhờ đội tàu được mở rộng và giá vận chuyển của tất cả các tàu tăng. Lợi nhuận gộp dự báo đạt 913 tỷ đồng (tăng trưởng 27,7%); tỷ suất lợi nhuận gộp đạt 17%; cao hơn mức 16% trong năm 2018.
  • Chúng tôi dự báo doanh thu dịch vụ kỹ thuật dầu khí ngoài khơi đạt 815 tỷ đồng (tăng trưởng 16%) nhờ nhu cầu tăng lên sau khi hoạt động thăm dò khai thác dầu khí ngoài khơi tại Việt Nam gia tăng. Lợi nhuận gộp dự báo đạt 261 tỷ đồng (giảm 16,6%); tỷ suất lợi nhuận gộp đạt 32%; thấp hơn mức 44,5% năm 2018 vì:

(1) tỷ suất lợi nhuận dịch vụ ngoài dịch vụ tàu FSO/FPSO thấp hơn dịch vụ FSO/FPSO, và

(2) dịch vụ FSO/FPSO có tỷ suất lợ nhuận thấp hơn bình thường do tàu PSO Đại Hùng Queen trong quá trình  chuyển đổi diễn ra 90 ngày.

  • Chúng tôi dự báo doanh thu mảng thương mại đạt 1.723 tỷ đồng (giảm 22%) và lợi nhuận gộp đạt 9 tỷ đồng (giảm 31,7%). Tỷ suất lợi nhuận gộp đạt 0,5% (năm 2018 là 0,6%).
  • Chúng tôi dự báo doanh thu các dịch vụ khác đạt 361 tỷ đồng (tăng trưởng 10%) và lợi nhuận gộp đạt 51 tỷ đồng (giảm 7%). Tỷ suất lợi nhuận gộp đạt 14% (thấp hơn năm 2018 là 16,6%). Do mảng này gồm nhiều dịch vụ khác nhau có tỷ suất lợi nhuận gộp thay đổi từ 5% đến 25%, nên chúng tôi dự báo một cách thuận trọng và kết quả thực hiện dễ dàng đạt được.
  • Với tỷ lệ chi phí bán hàng & quản lý/doanh thu trong 6 tháng đầu năm 2019, chúng tôi điều chỉnh giảm tỷ lệ này cho cả năm 2019 xuống 3,3% (năm 2018 là 3,4%). Trong dự báo trước đây, tỷ lệ này là 3,9%.

Chúng tôi dự báo EPS năm 2019 đạt 2.395đ (tăng 9,7%); tương đương P/E dự phóng tại thị giá hiện tại là 7,3 lần; nghĩa là hấp dẫn theo quan điểm của chúng tôi.

Bảng 6: PVT – Dự báo xu hướng lợi nhuận gộp

PVT – Dự báo xu hướng lợi nhuận gộp

HSC dự báo LNST năm 2020 tăng trưởng 13,2% nhờ tàu mới đi vào hoạt động và phí vận chuyển tàu biển tăng – Cho năm 2020, chúng tôi dự báo tổng doanh thu đạt 9.726 tỷ đồng (tăng trưởng 12,2%) và LNST đạt 955 tỷ đồng (tăng trưởng 13,2%) với những giả định chính như sau:

  • Chúng tôi dự báo doanh thu dịch vụ vận tải đạt 6.174 tỷ đồng (tăng trưởng 15%) nhờ đội tàu được mở rộng và giá vận chuyển của tất cả các tàu tăng. Lợi nhuận gộp dự báo đạt 1.080 tỷ đồng (tăng trưởng 18,4%); tỷ suất lợi nhuận gộp đạt 17,5%; cao hơn mức 17% trong năm 2019.
  • Chúng tôi dự báo doanh thu dịch vụ kỹ thuật dầu khí ngoài khơi đạt 896 tỷ đồng (tăng trưởng 10%) nhờ nhu cầu tăng lên sau khi hoạt động thăm dò khai thác dầu khí ngoài khơi tại Việt Nam gia tăng. Lợi nhuận gộp dự báo đạt 287 tỷ đồng (tăng trưởng 10%); tỷ suất lợi nhuận gộp đạt 32%; bằng năm 2019.
  • Chúng tôi dự báo doanh thu mảng thương mại đạt 1.809 tỷ đồng (tăng 5%) và lợi nhuận gộp đạt 9 tỷ đồng (tăng 5%). Tỷ suất lợi nhuận gộp đạt 0,5% (bằng năm 2019).
  • Chúng tôi dự báo doanh thu các dịch vụ khác đạt 397 tỷ đồng (tăng 10%) và lợi nhuận gộp đạt 56 tỷ đồng (tăng 10%). Tỷ suất lợi nhuận gộp đạt 14% (bằng năm 2019).
  • Chúng tôi dự báo tỷ lệ chi phí bán hàng & quản lý/doanh thu là 3,4; cao hơn một chút mức 3,3% năm 2019.

Chúng tôi dự báo EPS năm 2020 đạt 2.712đ (tăng 13,2%); tương đương P/E dự phóng tại thị giá hiện tại là 6,3 lần; nghĩa là hấp dẫn theo quan điểm của chúng tôi.

Bảng 7: Định giá – Phương pháp so sánh P/E

Định giá – Phương pháp so sánh P/E

Giá trị hợp lý theo ước tính của chúng tôi cho PVT là 21.800đ dựa trên phương pháp so sánh P/E với các doanh nghiệp cùng ngành trong nước với hệ số chính là P/E trượt 12 tháng. Lý do chính mà chúng tôi sử dụng hệ số P/E trượt 12 tháng vì chúng tôi không có mô hình dự báo cho các doanh nghiệp cùng ngành được chọn để so sánh nên chúng tôi không có dự báo cho năm 2019.

Chúng tôi chọn ra 6 doanh nghiệp vận tải biển để so sánh với PVT và thấy ở mức giá hiện tại định giá P/E trượt của PVT rẻ hơn bình quân doanh nghiệp cùng ngành, trong khi P/B của PVT tương đương các doanh nghiệp cùng ngành. Tuy nhiên, chúng tôi lưu ý rằng tỷ lệ khả năng sinh lời của PVT tốt hơn so với mức bình quân so sánh, và trong số các doanh nghiệp cùng ngành so sánh với PVT, các doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuận hoạt động và tỷ suất lợi nhuận gộp cao hơn được định giá ở mức P/E và P/B cao hơn.

Do vậy chúng tôi cho rằng PVT xứng đáng có mức P/E bằng mức bình quân ngành, từ đó chúng tôi ước tính giá trị hợp lý của cổ phiếu PVT là 21.800đ; tương đương cao hơn 26,7% so với thị giá hiện tại.

Triển vọng dài hạn tích cực, nhờ như cầu và phí vận chuyển đội tàu tăng – PVT là doanh nghiệp đầu ngành vận tải biển tại Việt Nam, và Công ty sẽ hưởng lợi chính từ công suất nhiệt điện mới của PVN đi vào hoạt động từ nay đến năm 2022.

Công suất mới này bao gồm Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1, Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải 3&4 và Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 4. Chúng tôi dự báo các nhà máy mới này sẽ giúp tăng nhu cầu đối với vận chuyển hàng khô của PVT khoảng 200% như trong bảng dưới đây.

Bảng 8: PVT – Nhu cầu dịch vụ vận tải

PVT – Nhu cầu dịch vụ vận tải

Trong khi đó, phí vận chuyển các loại tàu hàng hải đang ngày càng tăng trên toàn cầu bởi ngày giới hạn phát thải lưu huỳnh của IMO có hiệu lực đang sắp đến. Như chúng tôi được biết giá cước theo ngày cho các tuyến quốc tế của PVT (Trung Đông – Việt Nam, và vận chuyển dầu thô cho Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn) tăng từ mức khoảng 25.000 – 27.000 USD/ngày trong 6 tháng đầu năm 2019 lên khoảng 30.000 USD/ngày hiện tại, và có thể sẽ tiếp tục tăng trong năm 2020 vì nhiều tàu cũ chưa được thay mới sẽ ngừng hoạt động vào ngày 1/1/2020.

PVT hưởng phí vận chuyển tàu tăng nhờ tất cả tàu của Công ty tuân thủ quy định về phát thải lưu huỳnh. Công ty đã thay mới đội tàu kể từ năm 2017, tức là bán tàu cũ không tuân thủ và mua tàu mới tuân thủ quy định, ngay sau khi Tổ chức Hàng hải quốc tế IMO xác nhận sẽ thực thi các tiêu chuẩn khí thải vào ngày 1/1/2020 toàn cầu với giới hạn hàm lượng lưu huỳnh là 0,5%.

Nhu cầu tăng mạnh vốn đầu tư cơ bản – Trong mô hình lợi nhuận, chúng tôi dự báo doanh thu tăng trưởng với tốc độ gộp bình quân khoảng 10%, và lợi nhuận tăng trưởng với tốc độ gộp bình quân khoảng 9,8% trong giai đoạn năm 2018-2021, nhờ nhu cầu tăng từ gia tăng công suất nhà máy lọc dầu và nhiệt điện mới.

Tuy nhiên, chúng tôi dự báo nhu cầu vốn đầu tư cơ bản sẽ khoảng 300 – 350 triệu USD trong giai đoạn này. Công suất vận chuyển mới sẽ được tăng thêm, và các tàu cũ sẽ được thay thế.

PVT hiện có 28 tàu trong đội tàu, bao gồm 4 tàu vận chuyển dầu thô nhỏ (418.106 DWT), 9 tàu chở xăng dầu (157.365 DWT), 13 tàu chở LPG (42,503 DWT) và 2 tàu chở hàng rời (83,133 DWT). Chúng tôi dự báo trong tương lai Công ty cần mở rộng đội tàu, cụ thể như sau.

  • 1 tàu VLCC chở dầu thô với công suất 250.000 DWT
  • 1 tàu Aframax công suất 100.000 DWT
  • 4 tàu chở xăng dầu với công suất 15.000 – 20.000 DWT/tàu
  • 1 tàu VLCC công suất 20.000 DWT
  • 2 tàu chở hàng rời công suất 50.000 – 80.000 DWT/tàu

PVT sẽ phải huy động vốn bằng cách tăng vay nợ, đồng thời giảm tỷ lệ chi trả cổ tức. Như chúng tôi được biết, phát hành cổ phiếu mới để tăng vốn là khó khăn đối với PVT vì PVN – cổ đông kiểm soát với tỷ lệ sở hữu 51%, không muốn đầu tư thêm vào PVT. Mặt khác, PVN muốn giảm tỷ lệ sở hữu tại PVT từ 51% xuống còn 36% vào năm 2020 hoặc 2021, mặc dù hiện tại chúng tôi không có thông tin chi tiết về kế hoạch thoái vốn của PVN. Do đó, giảm tỷ lệ chi trả, cùng với việc tăng vay nợ, là phương án tốt nhất cho PVT đầu tư vào các tàu mới.

Tiếp tục duy trì đánh giá Khả quan. Chúng tôi ước tính giá trị hợp lý của cổ phiếu PVT là 21.800đ; tương đương P/E dự phóng năm 2019 là 9,1 lần dựa trên phương pháp định giá so sánh P/E.

Chúng tôi coi PVT là doanh nghiệp đầu ngành vận tải biển tại Việt Nam với 100% thị phần chuyển chở dầu thô, 80% thị phần chuyên chở LPG và 30% thị phần vận chuyển sản phẩm xăng dầu.

So với các doanh nghiệp khác trong ngành dầu khí, PVT có mô hình kinh doanh ổn định hơn và duy trì được khả năng sinh lời tốt trong lúc giá dầu biến động vài năm qua. Công ty có cơ hội tăng trưởng tốt trong ngắn và trung hạn nhờ nhu cầu tăng lên đáng kể từ các nhà máy lọc dầu mới và các nhà máy nhiệt điện chạy than cũng như tăng phí vận chuyển tàu hàng hải.

Nguồn: HSC

 

BÌNH LUẬN()

CÁC TIN LIÊN QUAN

Đối tác

0912 842 224 Mở tài khoản CK