DANH MỤC

Mobile / Fb / Zalo: 0912 842 224 | 0982 842 224

Cập nhật cổ phiếu MWG – Ước tính giá trị hợp lý của cổ phiếu là 150.200đ

Lượt xem: 682 - Ngày:
Chia sẻ

Nhận định KQKD – KQKD năm 2018 của MWG (Cổ phiếu MWG) sát kỳ vọng. Triển vọng tăng trưởng năm 2019 khả quan nhờ sự mở rộng của chuỗi điện máy và sự chuyển đổi cửa hàng ĐTDĐ sang cửa hàng điện máy. Triển vọng tăng trưởng dài hạn sẽ tùy thuộc vào chuỗi bách hóa và chuỗi này cũng đang dần đi đúng hướng. Tiếp tục duy trì đánh giá Khả quan.

Đồ thị cổ phiếu MWG phiên giao dịch ngày 21/02/2019. Nguồn: AmiBrokerĐồ thị cổ phiếu MWG phiên giao dịch ngày 21/02/2019. Nguồn: AmiBroker

MWG đã công bố KQKD năm 2018 với doanh thu đạt 86.516 tỷ đồng (tăng trưởng 30,4%) và LNST đạt 2.880 tỷ đồng (tăng trưởng 30,5%). Động lực tăng trưởng chính là sự mở rộng liên tục của chuỗi điện máy.

Kết luận nhanh: Tiếp tục duy trì đánh giá Khả quan. Chúng tôi ước tính giá trị hợp lý của cổ phiếu MWG là 150.200đ dựa trên phương pháp chiết khấu dòng tiền DCF; tương đương P/E dự phóng năm 2019 là 19,1 lần. HSC dự báo LNST năm 2019 tăng trưởng 26,8%. Mảng ĐTDĐ đã bão hòa và tăng trưởng sẽ chủ yếu từ mảng điện máy và bách hóa. Và cả 2 mảng này đã có được những bước tiến đáng kể. Chuỗi điện máy hiện là động lực tăng trưởng trong khi tỷ suất lợi nhuận chuỗi bách hóa cũng tiếp tục được nâng cao.

Cơ cấu doanh thu theo từng chuỗi

Chuỗi ĐTDĐ không có sự tăng trưởng do một số cửa hàng ĐTDĐ lớn đã được chuyển thành cửa hàng điện máy – Trong năm 2018, doanh thu chuỗi ĐTDĐ đạt 34.610 tỷ đồng (giảm 0,3%). Doanh thu giảm nhẹ là do có 40 cửa hàng ĐTDĐ lớn đã được chuyển thành cửa hàng điện máy trong năm, theo đó giảm tổng số cửa hàng ĐTDĐ xuống còn 1.032 cửa hàng (giảm 3,7%). Doanh thu bình quân mỗi cửa hàng gần như không tăng trưởng do thị trường đã bão hòa. Thị phần chuỗi ĐTDĐ của MWG là khoảng 45% trong năm 2018, cải thiện một chút so với mức khoảng 43% trong năm 2017.

Doanh thu chuỗi điện máy tăng trưởng mạnh nhờ mở rộng liên tục – Trong năm 2018, chuỗi điện máy của MWG ghi nhận doanh thu là 47.634 tỷ đồng (tăng trưởng 56,2%). Doanh thu tăng trưởng chủ yếu nhờ số lượng cửa hàng tăng. Trong năm 2018, MWG đã chuyển 40 cửa hàng ĐTDĐ lớn thành cửa hàng điện máy, hợp nhất 35 cửa hàng TAG vào chuỗi điện máy và mở thêm 33 cửa hàng mới; đến cuối năm nâng tổng số cửa hàng điện máy lên 750 (tăng 16,8%). Tăng trưởng bình quân mỗi cửa hàng đạt khoảng 3,5%. Thị phần bán lẻ điện máy của MWG là khoảng 35% trong năm 2018, tăng từ mức khoảng 30% trong năm 2017.

Chuỗi bách hóa cho thấy sự cải thiện ấn tượng – Trong năm 2018, chuỗi bách hóa ghi nhận doanh thu 4.272 tỷ đồng (tăng trưởng 275,2%) nhờ đến cuối tháng 12 số lượng cửa hàng đã tăng lên 405 cửa hàng (tăng 43,1%).

  • Doanh thu bình quân mỗi cửa hàng bách hóa tăng 80% từ 577 triệu đồng/tháng trong năm 2017 lên 1.035 triệu đồng/tháng trong năm 2018.
  • Lợi nhuận gộp bình quân là 15,9% trong năm 2018; cải thiện mạnh so với mức 8,3% trong năm 2017.
  • Trong tháng 12/2018, chuỗi bách hóa đã đạt được điểm EBITDA hòa vốn cho một cửa hàng bình quân với doanh thu bình quân là 1.200 triệu đồng/tháng với tỷ suất lợi nhuận gộp là 18%. Tuy nhiên tỷ suất EBITDA bình quân mỗi cửa hàng vẫn âm do chi phí hoạt động tại các trung tâm phân phối bằng khoảng 2,5% doanh thu.

Hiệu quả của chuỗi bách hóa đã được cải thiện đáng kể trong năm 2018 nhờ MWG thực hiện những thay đổi mang tính chiến lược sau.

  • Vị trí mở cửa hàng bách hóa – Cửa hàng được mở tại con phố chính và đông đúc thay vì tại các hẻm của khu dân cư. Ban đầu, MWG dự kiến mở cửa hàng bách hóa mới tại các con hẻm nhỏ của các khu dân cư để hàng ngày khách hàng có thể đi bộ đến mua hàng. Tuy nhiên thông tin từ số liệu kinh doanh thực tế tại các cửa hàng cho thấy người nội trợ hàng ngày mua đồ trên đường từ nơi làm việc về nhà và ít khi ra cửa hàng sau khi đã về đến nhà. Điều này cho thấy địa điểm tối ưu để mở cửa hàng là các con đường chính đi đến các khu dân cư thay vì các con hẻm nằm trong khu dân cư. MWG đã đóng cửa hàng chục cửa hàng nằm trong các khu dân cư trong nửa đầu năm 2018.
  • Tiêu chuẩn hóa mô hình cửa hàng – và tập trung đa dạng hóa danh mục sản phẩm. Hoàn thiện mô hình tiêu chuẩn thực sự là một phần quan trọng trước khi MWG có thể mở rộng quy mô chuỗi cửa hàng bách hóa. Mô hình cửa hàng bách hóa tiêu chuẩn sẽ có cá tươi, thịt tươi, hoa quả và rau trong danh mục hàng hóa. Trong năm 2018, MWG đã chuyển đổi khoảng 200 cửa hàng theo mô hình cũ sang mô hình tiêu chuẩn. Công ty cũng đang đóng cửa một số cửa hàng theo mô hình cũ, đồng thời mở khoảng 100 cửa hàng theo mô hình tiêu chuẩn mới, đến cuối năm nâng tổng số cửa hàng lên 405 (tăng 43,1%) gồm có 365 cửa hàng tiêu chuẩn và 40 cửa hàng theo mô hình cũ. MWG sẽ tiếp tục chuyển đổi hoặc đóng những cửa hàng mô hình cũ trong Q1/2019.
  • Đánh giá hiệu quả hoạt động và đóng các cửa hàng kém hiệu quả – Đánh giá hiệu quả hoạt động các cửa hàng ở các khía cạnh doanh thu hàng tháng, sự cải thiện doanh thu, hàng hóa trưng bày, số lượng giao dịch hàng ngày… Và MWG đã đóng khoảng 100 cửa hàng kém hiệu quả, chủ yếu nằm tại các vị trí không tối ưu và những cửa hàng theo mô hình cũ không thể chuyển đổi sang mô hình tiêu chuẩn.

Tỷ suất lợi nhuận gộp được cải thiện – Trong năm 2018, lợi nhuận gộp đạt 15.292 tỷ đồng (tăng trưởng 37,3%) với tỷ suất lợi nhuận gộp đạt 17,7%; cải thiện đáng kể so với mức 16,8% trong năm 2017. Tỷ suất lợi nhuận gộp của cả 3 chuỗi đã có sự cải thiện.

Đối với mảng ĐTDĐ và điện máy, tỷ suất lợi nhuận gộp cải thiện nhờ MWG được hưởng hoa hồng tốt hơn từ nhà sản xuất nhờ thị phần trên cả thị trường ĐTDĐ và điện máy tăng.

Trong khi đó, ở chuỗi bách hóa, tỷ suất lợi nhuận gộp cải thiện nhờ MWG mua hàng trực tiếp từ nhà sản xuất thay vì nhà phân phối như trong năm 2017.

Tỷ lệ chi phí bán hàng & quản lý/doanh thu tăng – Chi phí bán hàng & quản lý là 14.421 tỷ đồng (tăng 36,6%) do tỷ lệ chi phí bán hàng & quản lý/doanh thu tăng từ 12,6% trong năm 2017 lên 13,2% vì những lý do sau.

  • Tỷ lệ chi phí bán hàng & quản lý/doanh thu chuỗi ĐTDĐ và điện máy tăng nhẹ từ 12,3% trong năm 2017 lên 12,4% trong năm 2018. Chúng tôi tin tưởng rằng nguyên nhân chính ở đây là MWG đã hợp nhất 35 cửa hàng của TAG vào chuỗi điện máy của mình và hiệu quả hoạt động tại các cửa hàng của TAG kém hơn so với các cửa hàng trong chuỗi điện máy của MWG.
  • Chuỗi bách hóa có tỷ lệ chi phí bán hàng & quản lý/doanh thu cao hơn, là 28,6% đã đóng góp nhiều hơn vào tổng doanh thu (4,9% trong năm 2018 so với 1,7% trong năm 2017).

Theo tính toán của HSC, tỷ lệ chi phí bán hàng & quản lý/doanh thu của chuỗi bách hóa giảm từ khoảng 33% trong năm 2017 xuống khoảng 28,6% trong năm 2018. Tuy nhiên điều này là do doanh thu chuỗi bách hóa tăng 257,2% trong kỳ mà không phải do Công ty có các biện pháp tiết kiệm chi phí.

Trên thực tế, chi phí thuê mặt bằng bình quân mỗi cửa hàng năm 2018 đã tăng khoảng 30% do MWG đóng các cửa hàng tại các hẻm trong khu dân cư và mở cửa hàng mới trên các con phố chính và đông đúc, đồng thời mở rộng ra các quận trung tâm hơn gồm Quận 7, Phú Nhuận và Gò Vấp.

Trong khi đó chi phí nhân viên mỗi cửa hàng cũng tăng khoảng 30% do MWG tăng số lượng nhân viên mỗi cửa hàng từ 7-8 nhân viên lên 12-13 nhân viên do số lượng giao dịch bình quân mỗi cửa hàng tăng từ khoảng 200 giao dịch/ngày trong năm 2017 lên 500 giao dịch/ngày trong năm 2018.

Lợi nhuận tài chính thuần âm – Lợi nhuận tài chính thuần âm 94,5 tỷ đồng thay vì dương 16,2 tỷ đồng như trong năm 2017. Trong đó, doanh thu HĐ tài chính đạt 255,9 tỷ đồng (tăng 18,9%) còn chi phí tài chính tăng 87,1% lên 436,6 tỷ đồng.

Chi phí tài chính tăng mạnh là do:

  1. Lãi  coupon cho trái phiếu mà MWG phát hành trong tháng 11/2017 để đầu tư mở rộng chuỗi bán lẻ là 1.135 tỷ đồng với lãi suất coupon là 6,55% cộng với phí bảo lãnh thanh toán là 1,5% mỗi năm.
  2. Lãi suất các khoản vay ngắn hạn của MWG tăng từ 3,3% năm 2017 lên 5,8% năm 2018.
  3. Trong khi đó nợ ngắn hạn chỉ tăng 3,4% nhờ tỷ lệ nợ ngắn hạn/doanh thu giảm từ 8,4% vào cuối năm 2017 xuống 6,7% vào cuối năm 2018. MWG đã giảm được tỷ lệ nợ ngắn hạn/doanh thu từ năm 2017 khi dòng tiền từ HĐKD chuyển từ âm sang dương chủ yếu nhờ tỷ lệ số cửa hàng mới mở/tổng số lượng cửa hàng giảm từ 0,91 trong năm 2016 xuống 0,61 năm 2017 và 0,1 trong năm 2018.

Lợi nhuận từ công ty liên doanh liên kết cũng âm do chuỗi dược phẩm lỗ – Tổng lỗ từ công ty liên doanh liên kết là 2,1 tỷ đồng do chuỗi bán lẻ An Khang lỗ trong năm 2018. Chuỗi An Khang là chuỗi bán lẻ dược phẩm với 8 cửa hàng tại thời điểm cuối năm 2018. MWG đã mua 49% cổ phần chuỗi này vào cuối tháng 12/2017. MWG dự kiến tham gia vào mảng bán lẻ dược phẩm bằng việc mua cổ phần chuỗi An Khang nhưng Công ty đã sớm nhận ra rằng bán lẻ dược phẩm là ngành kinh doanh khó khăn và quyết định không tập trung vào mảng này. Điều này có nghĩa là chuỗi bán lẻ dược phẩm sẽ không được mở rộng mạnh và Công ty sẽ không mua cổ phần kiểm soát tại chuỗi này.

Vòng quay hàng tồn kho giảm nhẹ – Trong năm 2018 vòng quay hàng tồn kho của MWG giảm xuống còn 4,8 lần từ 5,2 lần trong năm 2017. Chủ yếu bắt nguồn từ chuỗi điện máy có số ngày tồn kho cao hơn, đã đóng góp nhiều hơn vào tổng doanh thu. Theo MWG, hàng điện máy kích thước lớn có số ngày tồn kho 80-90 ngày, số ngày tồn kho hàng điện máy kích thước nhỏ là 60-70 ngày. Trong khi đó, số ngày tồn kho của ĐTDĐ và phụ kiện là khoảng 40-45 ngày.

Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt tăng – Trong năm 2018 chu kỳ chuyển đổi tiền mặt tăng lên 44,7 ngày từ 42,7 ngày trong năm 2017, chủ yếu từ số ngày tồn kho tăng như đề cập trên đây.

HSC dự báo LNST tăng trưởng 26,8% trong năm 2019 – Cho năm 2019, HSC dự báo MWG sẽ đạt doanh thu thuần 107.388 tỷ đồng (tăng trưởng 24,1%) và LNST đạt 3.653 tỷ đồng (tăng trưởng 26,8%). Các giả định của chúng tôi gồm:

  1. Đối với chuỗi TGDĐ, chúng tôi dự báo doanh thu đạt 35.699 tỷ đồng (tăng trưởng 3,1%). Giả định của chúng tôi là: (1) số lượng cửa hàng là 1.000 cửa hàng (giảm 3,1%); (2) tăng trưởng doanh thu bình quân mỗi cửa hàng là 6,8% và (3) thị phần của MWG sẽ giữ nguyên ở khoảng 45%.
  2. Đối với chuỗi điện máy, chúng tôi dự báo doanh thu đạt 60.859 tỷ đồng (tăng trưởng 27,8%). Giả định của chúng tôi là: (1) đến cuối năm số lượng cửa hàng sẽ tăng lên 900 cửa hàng (tăng 20,0%); (2) tăng trưởng doanh thu bình quân mỗi cửa hàng là 10% và (3) thị phần của MWG sẽ tăng tiếp từ 35% tại thời điểm cuối năm 2018 lên khoảng 38% vào cuối năm 2019.
  3. Đối với chuỗi Bách hóa xanh, chúng tôi dự báo doanh thu đạt 10.830 tỷ đồng (tăng trưởng 153,5%). Giả định của chúng tôi là đến cuối năm MWG sẽ mở thêm 295 cửa hàng mới, nâng số lượng cửa hàng Bách hóa xanh lên 700 cửa hàng trong khi đó doanh thu bình quân mỗi cửa hàng đạt 1.633 triệu đồng/tháng (tăng 60,0%).
  4. Chúng tôi ước tính lợi nhuận gộp đạt 19.303 tỷ đồng (tăng trưởng 26,2%). Chúng tôi cũng giả định tỷ suất lợi nhuận gộp tăng nhẹ từ 17,7% trong năm 2018 lên 18,0% trong năm 2019 nhờ tỷ suất lợi nhuận gộp của chuỗi Bách hóa xanh tăng từ 15,9% năm 2018 lên 20,0% năm 2019.
  5. Chúng tôi dự báo lỗ tài chính thuần là 108,4 tỷ đồng (tăng 14,7%) với tỷ lệ nợ ngắn hạn/doanh thu giảm xuống 5,5% từ 6,4% trong năm 2018.
  6. Chúng tôi giả định lỗ từ các công ty liên doanh là 3,0 tỷ đồng do chuỗi bán lẻ dược phẩm An Khang sẽ vẫn lỗ.
  7. Chúng tôi giả định tỷ lệ chi phí bán hàng & quản lý/doanh thu tăng nhẹ lên 13,5%, cao hơn so với mức 13,2% trong năm 2018, do chuỗi bách hóa xanh có tỷ lệ chi phí bán hàng & doanh thu cao hơn (là 23,3%) sẽ đóng góp doanh thu nhiều hơn.

Theo đó, EPS dự phóng 2019 là 7.862đ; tương đương P/E dự phóng 2019 là 11,1 lần.

Chuỗi TGDĐ sẽ tăng trưởng dưới 10% mỗi năm trong những năm tới – MWG đã xây dựng thành công và giữ vững vị thế dẫn đầu thị trường trong vài tháng qua, với 45% thị phần. Đồng thời, số lượng cửa hàng TGDĐ đã vượt mức tối ưu với nhiều cửa hàng mở mới dẫn đến sự chồng chéo. Tăng trưởng doanh thu bình quân mỗi cửa hàng âm trong năm 2017 cho thấy thực tế này. MWG hiện đang nỗ lực giảm số lượng cửa hàng TGDĐ về mức tối ưu bằng cách chuyển đổi một số cửa hàng sang mô hình điện máy. Do đó, tăng trưởng của chuỗi TGDĐ sẽ ở mức tương đương với tăng trưởng của thị trường điện thoại di động vốn đã bão hòa, là dưới 10%.

Chuỗi điện máy sẽ là động lực tăng trưởng chính trong 2-3 năm tới – Đến cuối năm 2018, thị phần bán lẻ điện máy của MWG là khoảng 35%. Tuy nhiên, thị trường điện máy vẫn khá phân mảnh với các chuỗi bán lẻ điện máy khác chiếm tổng cộng khoảng 25% thị phần trong khi đó các cửa hàng nhỏ chiếm khoảng 40%. Chúng tôi tin rằng tiềm năng cho MWG để mở rộng và củng cố phân khúc này trong 2-3 năm tới vẫn rất lớn, đến khi thị phần tăng lên khoảng 40-41% và tổng số cửa hàng tăng lên khoảng 950 cửa hàng, tương tự như quá trình mở rộng ở mảng TGDĐ.

Triển vọng dài hạn phụ thuộc vào chuỗi bách hóa xanh – Chuỗi TGDĐ không còn đóng góp doanh thu chủ chốt và như đã đề cập trên đây, chuỗi Điện máy sẽ là động lực tăng trưởng chính trong 3 năm tới. Sau đó, MWG kỳ vọng chuỗi bách hóa xanh sẽ nhanh chóng bù đắp phần sụt giảm trong tăng trưởng sau khi chuỗi Điện máy đạt mức tối ưu về số lượng cửa hàng cũng như thị phần.

Chuỗi bách hóa xanh cho thấy tiềm năng lớn – Theo số liệu của Tổng cục thống kê, thị trường bách hóa của Việt Nam có giá trị khoảng 60 tỷ USD/năm, với tốc độ tăng trưởng tương đương GDP. Trong đó, khoảng 70% giá trị thị trường là tiêu thụ ở khu vực đô thị và 30% còn lại là tiêu thụ tại khu vực nông thôn. Thị trường bách hóa cũng rất manh mún, với các kênh bán lẻ hiện tại chiếm khoảng 5% tổng thị phần, trong khi đó các kênh bán hàng truyền thống như chợ truyền thống, chiếm khoảng 95% thị trường. Với mức GDP trên đầu người hiện tại cùng với những đặc trưng về dân số tại khu vực đô thị của Việt Nam, chúng tôi tin rằng các kênh bán lẻ hiện tại sẽ nhanh chóng mở rộng và gia tăng thị phần lên khoảng 30-40% ở khu vực đô thị, tương đương 20-28% thị trường chung từ mức 5% hiện tại.

Chuỗi bách hóa xanh đang hoạt động rất tốt – MWG đang vận hành rất tốt chuỗi bách hóa xanh hoàn toàn mới xét về hệ thống ERP, vị trí cửa hàng, mô hình bày bán và hàng hóa tồn kho sau quá trình thử nghiệm và sửa lỗi tập trung. Tăng trưởng doanh thu mỗi cửa hàng đạt mức ấn tượng trong năm 2018, là 80% và đây là bằng chứng cho thấy tiềm năng của mảng kinh doanh mới này.

  1. Mức độ chấp nhận cao từ dân cư trong khu vực đô thị đối với các mô hình bán lẻ bách hóa hiện tại, và
  2. MWG đã được những bước thành công ban đầu trong bán lẻ hàng tạp hóa.

Tuy nhiên vẫn còn những điều chưa chắc chắn – MWG có 423 cửa hàng bách hóa tính đến tháng 2/2019, gồm 360 cửa hàng tại TPHCM và 63 cửa hàng tại các tỉnh khác gồm Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Long An,  Bến Tre, Cần Thơ, Tiền Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh và Tây Ninh. Trong khi kết quả hoạt động hiện cho thấy bức tranh sáng sủa ở mảng này như tăng trưởng doanh thu mỗi cửa hàng tốt, tỷ suất lợi nhuận gộp tăng, hệ thống cửa hàng mở rộng, thì chúng tôi vẫn nhận thấy những điểm lo ngại tiềm ẩn.

  1. Việc mở rộng tại TPHCM sẽ gặp nhiều thách thức hơn ban đầu – Cạnh tranh gia tăng khi Saigon Coop, đơn vị bán lẻ hàng tạp hóa có kinh nghiệm và thương hiệu được nhận diện rộng rãi đã ra mắt chuỗi bán lẻ Coop Food với mô hình tương tự, danh mục hàng hóa tương tự, tại các vị trí tương tự với chất lượng dịch vụ tương đương vào cuối năm 2018. Giá thuê cửa hàng và chi phí nhân công tăng cũng là những vấn đề mà MWG phải đối mặt trong quá trình mở rộng hệ thống cửa hàng tại TPHCM.
  2. Việc mở rộng tại các tỉnh khác thậm chí còn khó khăn hơn – Trước hết, chiến lược giá với tiêu chí “rẻ hơn chợ truyền thống” của MWG có thể sẽ không áp dụng được ở các tỉnh là khu vực sản xuất nông phẩm chủ chốt như trái cây, rau củ, hải sản, thịt lợn, thịt gà và trứng do MWG phải mua từ trung gian trong khi đó người nông dân có thể trực tiếp mang nông phẩm đến chợ để bán. Không có ưu thế cạnh tranh về giá sẽ khó để các cửa hàng bách hóa của MWG thu hút người tiêu dùng đến mua hàng thường xuyên. Tiếp đến là khó khăn trong công tác hậu cần. Tại các tỉnh khác, các khu vực dân cư đông đúc không nằm liền kề. Do đó, khoảng cách bình quân giữa trung tâm phân phối của MWG đến các cửa hàng có thể lớn hơn gấp 3-5 lần so với ở TPHCM, cụ thể khoảng cách có thể lên tới 20-30 km tại các tỉnh khác so với chỉ 6-7 km tại TPHCM. Đây sẽ là gánh nặng lớn đối hệ thống hậu cần của MWG, không chỉ về chi phí vận chuyển mà còn về nhân lực, công suất dự trữ, số lượng tồn kho và thời gian vận chuyển. Khi đó MWG sẽ phải đối mặt với tình thế tiến thoái lưỡng nan. Hoặc là có trung tâm phân phối  để đảm bảo nguồn cung đầy đủ cho các cửa hàng theo đúng yêu cầu và đúng thời điểm, và trung tâm này khó đạt được hiệu quả hoạt động tối ưu. Hoặc là không xây dựng trung tâm phân phối mà phụ thuộc vào các đơn vị phân phối cho cung cấp hàng hóa đến cửa hàng, từ đó tiết kiệm chi phí nhưng đánh đổi là khó đảm bảo thời gian giao hàng.

Chuỗi bách hóa xanh có thể đóng góp đáng kể trong năm 2021 là sớm nhất – Theo mô hình của mình, chúng tôi dự báo chuỗi bách hóa xanh sẽ cho EBITDA dương ở cấp độ chuỗi trong năm 2019. Chúng tôi cũng dự báo chuỗi bách hóa sẽ đóng góp đáng kể, khoảng 15,6% lợi nhuận trước thuế và lãi vay của MWG trong năm 2021, nếu hoạt động của chuỗi bán lẻ hoàn thiện ở tất cả các khía cạnh, gồm mở rộng cửa hàng, tăng trưởng doanh thu mỗi cửa hàng, cải thiện tỷ suất lợi nhuận gộp và hiệu quả hoạt động. Dự báo và giả định của chúng tôi như sau.

Định giá – Theo mô hình DCF, chúng tôi ước tính giá trị hợp lý của cổ phiếu là 150.200đ/cp, tương đương P/E dự phóng 2019 là 19,1 lần.

Cũng theo mô hình DCF, chúng tôi giả định WACC là 12,4% và tốc độ tăng trưởng dài hạn là 6,0%. Chúng tôi giả định tăng trưởng doanh thu với tăng trưởng với tốc độ kép hàng năm là 14,5% và LNST là 14,5% trong giai đoạn 2018-2028.

Giả định chính trong mô hình DCF của chúng tôi như sau.

Tốc độ tăng trưởng dài hạn là 6,0% và được hỗ trợ bởi:

  • Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam dự báo đạt 6%; và
  • Doanh thu và lợi nhuận tăng trưởng trên 6% với: (1) thị trường điện thoại di động đã bão hòa sẽ tăng trưởng 9-10%, (2) thị trường điện máy sẽ tăng trưởng khoảng 7-8% trong trường hợp bão hòa, và (3) thị trường bách hóa sẽ tăng trưởng tương đương với GDP.

Quan điểm đầu tư – Tiếp tục đánh giá Khả quan. Theo mô hình DCF, HSC ước tính giá trị hợp lý của cổ phiếu là 150.200đ. MWG đã hoàn thành mục tiêu chứng mình tính khả thi của mô hình bách hóa đồng thời hoàn thiện mô hình tiêu chuẩn cho mở rộng. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần khắc phục thông qua quá trình thử nghiệm và sửa lỗi như lựa chọn vị trí cửa hàng và danh mục hàng hóa, và hậu cần ở các tỉnh. Đây đơn giản là quy trình chung cho mảng bán lẻ và không thể cắt bỏ bất kỳ giai đoạn nào. Chuỗi Bách hóa xanh sẽ đạt điểm hòa vốn vào tháng 12/2018 nhưng có thể phải đến 2020 chuỗi này mới đóng góp lợi nhuận đáng kể. HSC luôn cho rằng MWG cuối cùng sẽ thành công trong kế hoạch xây dựng chuỗi Bách hóa xanh trên phạm vi cả nước. Mặc dù quá trình mở rộng từ TPHCM ra cả nước sẽ gặp phải những thách thức lớn ở hoạt động hậu cần.

Nguồn: HSC

 

BÌNH LUẬN()

CÁC TIN LIÊN QUAN

Đối tác

Gọi ngay
Messenger
Zalo chát
Mở tài khoản
Góp ý