DANH MỤC

Mobile / Fb / Zalo: 0912 842 224 | 0982 842 224

Cập nhật cổ phiếu MBB – Khuyến nghị MUA với giá mục tiêu 34.200đ

Lượt xem: 857 - Ngày:
Chia sẻ

Nhận định KQKD – LNTT 9 tháng đầu năm của MBB tăng 50,3% so với cùng kỳ. Triển vọng tương lai rất khả quan. Tiếp tục duy trì đánh giá MUA VÀO. NHTMCP Quân Đội (Cổ phiếu MBB ) đã công bố KQKD 9 tháng đầu năm với LNTT tăng 50,3% so với cùng kỳ đạt 6.015 tỷ đồng, nhờ thu nhập lãi thuần tăng 30,8% và thu nhập ngoài lãi tăng 66,5% so với cùng kỳ. Ngân hàng đã hoàn thành 88,5% kế hoạch LNTT cả năm, là 6.800 tỷ đồng (tăng trưởng 47,3%).

Đồ thị cổ phiếu MBB phiên giao dịch ngày 23/10/2018. Nguồn: AmiBrokerĐồ thị cổ phiếu MBB phiên giao dịch ngày 23/10/2018. Nguồn: AmiBroker

Kết luận nhanh. Tiếp tục đánh giá MUA VÀO. Chúng tôi ước tính giá trị hợp lý của cổ phiếu là 34.200đ, tương đương P/B dự phóng 2018 là 2,3 lần. HSC dự báo LNTT năm 2018 tăng trưởng 64,4% đạt 7.586 tỷ đồng. Trong khi đó cho năm 2019, chúng tôi dự báo LNTT tăng trưởng 21,4%. Ngân hàng hứa hẹn mức tăng trưởng ấn tượng trong năm nay và năm sau dù NHNN có động thái kiểm soát tăng trưởng tín dụng nghiêm ngặt hơn. Các mảng kinh doanh mới như tài chính tiêu dùng và bảo hiểm nhân thọ đang cho kết quả tốt và đóng góp đáng kể vào tăng trưởng lợi nhuận của Ngân hàng trong những tháng đầu năm. Từ năm sau, chúng tôi dự báo tốc độ tăng trưởng của Ngân hàng sẽ trở lại mức ổn định dài hạn nhưng vẫn cao hơn nhiều so với tăng trưởng của nhiều ngân hàng khác. 

Cho vay khách hàng hợp nhất tăng 11,2% so với đầu năm đạt 204.885 tỷ đồng, gồm;

  • 198.675 tỷ đồng (tăng 10,2% so với đầu năm) từ Ngân hàng mẹ.
  • 2.544 tỷ đồng (giảm 2,4% so với đầu năm) từ MBS (cho vay chứng khoán).
  • Khoảng 3.800 tỷ đồng (tăng 120% so với đầu năm) từ MCredit.

Tuy nhiên, xét riêng trong Q3, chúng tôi nhận thấy cho vay khách hàng của ngân hàng mẹ giảm 0,7% so với quý liền trước, cho vay chứng khoán MBS tăng 17,8% so với quý liền trước và cho vay khách hàng của MCredit cũng tăng khoảng 46% so với quý liền trước. Theo đó, cho vay khách hàng hợp nhất trong Q3 nhìn chung không tăng.

Trong cơ cấu cho vay theo khách hàng, cho vay khách hàng cá nhân là động lực tăng trưởng chính. Cụ thể:

  • Cho vay khách hàng cá nhân tăng 22,8% so với đầu năm đạt 73.791 tỷ đồng (chiếm 36% tổng dự nợ, so với Q3/2017 là 32,6%).
  • Cho vay khách hàng FDI tăng 19,4% so với đầu năm đạt 6.694 tỷ đồng (chiếm 3,3% tổng dự nợ, so với Q3/2017 là 3%).
  • Cho vay DNNN tăng 10,5% so với đầu năm đạt 25.325 tỷ đồng  (chiếm 12,4% tổng dự nợ, so với Q3/2017 là 14,5%).
  • Cho vay doanh nghiệp tư nhân (bao gồm cả DNVVN) chỉ tăng 4,5% so với đầu năm đạt 92.267 tỷ đồng (chiếm 45% tổng dự nợ, so với Q3/2017 là 47,9%).

Trong cơ cấu cho vay theo kỳ hạn, cho vay thiên hơn về kỳ hạn ngắn. Cụ thể:

  • Cho vay kỳ hạn ngắn tăng 11,9% so với đầu năm (giảm 2,6% so với quý liền trước) đạt 102.921 tỷ đồng (chiếm 50,2% tổng dự nợ, so với Q3/2017 là 49,7%).
  • Cho vay trung dài hạn tăng 10,6% so với đầu năm đạt 101.963 tỷ đồng (chiếm 49,8% tổng dự nợ, so với Q3/2017 là 50,3%).

Trong cơ cấu cho vay theo lĩnh vực, MBB có tỷ trọng cho vay cao ở các lĩnh vực sau:

  • Cho vay cá nhân và kinh doanh hộ gia đình tăng 18% so với đầu năm, chiếm 26,8% tổng dư nợ.
  • Cho vay bán buôn bán lẻ, sửa chữa ô tô xe máy tăng 12% so với đầu năm, chiếm 24,1% tổng dư nợ.
  • Cho vay ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và sản xuất tăng 12,5% so với đầu năm, chiếm 16,8% tổng dư nợ.
  • Trong khi đó cho vay lĩnh vực BĐS giảm 6,1% so với đầu năm, chỉ còn chiếm 2,5% tổng dư nợ, so với Q3/2017 là 3,6%.

Về cơ cấu cho vay theo loại tiền;

  • Cho vay bằng tiền đồng tăng 13,4% so với đầu năm và đạt 181.656 tỷ đồng, chiếm 88,7% dư nợ ( so với Q3/2017 là 87,1%).
  • Cho vay bằng USD và các ngoại tệ khác giảm 3,4% so với cùng kỳ và đạt 23.229 tỷ đồng, chiếm 11,3% dư nợ (so với Q3/2017 là 12,9%).

Huy động khách hàng chỉ tăng 5,7% so với đầu năm (giảm 0,92% so với quý liền trước) – đạt 232.638 tỷ đồng.

Cơ cấu huy động theo kỳ hạn như sau;

  • Tiền gửi không kỳ hạn tăng 15,3% so với đầu năm, tăng 4,8% so với quý liền trước và đạt 91.567 tỷ đồng.
  • Trái lại, tiền gửi có kỳ hạn tăng 2,9% so với đầu năm nhưng giảm 4,6% so với quý liền trước và đạt 136.634 tỷ đồng.

Theo đó, tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn đã tăng từ 39,7% cuối năm 2017 lên 41,3%. Và đây là tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn cao nhất trong số các NHTM.

Cơ cấu huy động theo khách hàng như sau:

  • Tiền gửi từ khách hàng cá nhân tăng 11,0% so với đầu năm, đạt 102.814 tỷ đồng (chiếm 44,2% tổng huy động khách hàng).
  • Trong khi đó tiền gửi từ khách hàng doanh nghiệp tăng 1,8% so với đầu năm, đạt 129.824 tỷ đồng (chiếm 55,8% tổng huy động khách hàng).

Cơ cấu huy động theo loại tiền như sau:

  • Tiền gửi bằng tiền đồng tăng 7,5% so với đầu năm và đạt 207.856 tỷ đồng (chiếm 89,3% tổng tiền gửi).
  • Tiền gửi bằng USD giảm 7,6% so với đầu năm và đạt 24.783 tỷ đồng (chiếm 10,7% tổng tiền gửi).

Hệ số LDR thuần tăng lên 88,1% – từ 83,3% cuối Q3/2017. MBB tiếp tục tận dụng lợi thế LDR thấp trước đây để đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng trong khi kiểm soát tăng trưởng huy động nhằm cải thiện tỷ lệ NIM. Tuy nhiên hệ số LDR đang tăng dần lên mức trần cho phép.

Tỷ lệ NIM tăng 0,35% lên 4,67% – nhờ lợi suất gộp tăng 0,35% so với cùng kỳ trong khi chi phí huy động không đổi cộng với hệ số LDR tăng.

Cụ thể lợi suất ở các tài sản sinh lãi như sau:

  • Lợi suất cho vay khách hàng tăng 0,78% lên 9,45%. Chúng tôi cho rằng đây là kết quả từ sự tăng trưởng mạnh mẽ của cho vay khách hàng cá nhân và cho vay tiêu dùng với lợi suất cao hơn.
  • Lợi suất trái phiếu cũng tăng 0,2% lên 6,71%.
  • Trái lại lợi suất gửi tiền liên ngân hàng giảm 1,46% xuống 1,94%; trở về mức bình thường.

Cụ thể chi phí huy động ở các nguồn huy động như sau:

  • Chi phí huy động từ tiền gửi khách hàng không đổi ở mức 3,44%. Đây là mức chi phí huy động tiền gửi khách hàng thấp thứ hai trong số các NHTM (chỉ thấp hơn 0,2-0,3% so với VCB) nhờ tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn cao.
  • Chi phí huy động từ giấy tờ có giá tăng 0,91% lên 9,41%.
  • Trong khi đó chi phí vay vốn từ thị trường liên ngân hàng và các nguồn khác rẻ hơn, với lãi suất bình quân giảm 0,35% còn 5,66%.

Thu nhập lãi thuần tăng mạnh 30,8% so với cùng kỳ – đạt 10.430 tỷ đồng, chủ yếu nhờ tỷ lệ NIM được cải thiện.

Các dòng thu nhập ngoài lãi đều tăng trưởng mạnh – Tổng thu nhập ngoài lãi tăng 66,5% so với cùng kỳ đạt 3.393,6 tỷ đồng nhờ:

  • Lãi thuần hoạt động dịch vụ đạt 1.688 tỷ đồng (tăng 62,9% so với cùng kỳ) với đóng góp chính từ:

–     Dịch vụ thanh toán và tiền mặt đạt 468 tỷ đồng (tăng 36,3% so với cùng kỳ).

–     Hoạt động kinh doanh bảo hiểm đạt 860 tỷ đồng (tăng 220,6% so với cùng kỳ).

  • Lãi thuần hoạt động kinh doanh ngoại hối đạt 302 tỷ đồng (tăng 121,6% so với cùng kỳ).
  • Lãi thuần mua bán chứng khoán kinh doanh và đầu tư đạt 281,5 tỷ đồng (tăng 70% so với cùng kỳ).
  • Và lợi nhuận khác đạt 1.079 tỷ đồng (tăng 67,8% so với cùng kỳ), với thu nhập từ thu hồi nợ xấu đạt 882,4 tỷ đồng (tăng 51,7% so với cùng kỳ) và lợi nhuận đóng góp từ mảng BĐS là 126 tỷ đồng (tăng gấp 7,7 lần so với cùng kỳ).
  • Lãi thuần từ góp vốn, đầu tư dài hạn đạt 42,7 tỷ đồng (giảm 25,3% so với cùng kỳ).

Và theo đó tổng thu nhập hoạt động tăng 38,1% so với cùng kỳ đạt 13.823 tỷ đồng với 75,5% từ thu nhập lãi thuần và 24,5% từ thu nhập ngoài lãi.

Chi phí hoạt động tăng 38% so với cùng kỳ – lên 5.518 tỷ đồng. Hệ số CIR giảm xuống 39,9% từ 43,3% trong năm 2017. Xét riêng Ngân hàng mẹ, hệ số CIR cũng giảm từ 36,7% trong năm 2017 xuống 34,5%. Chi phí nhân viên tăng 50% so với cùng kỳ lên 3.153 tỷ đồng (chiếm 57,1% tổng chi phí hoạt động) với số lượng nhân viên tăng 19,3% và lương bình quân tháng tăng 26% so với cùng kỳ.

Tổng lợi nhuận hoạt động trước trích lập dự phòng là 8.306 tỷ đồng, tăng 39,9% so với cùng kỳ.

Chi phí dự phòng tăng 18,3% lên 2.291 tỷ đồng, gồm 2.144 tỷ đồng dự phòng cụ thể và 170,3 tỷ đồng dự phòng chung cho vay khách hàng.

Tỷ lệ nợ xấu là 1,57%, tăng so với mức 1,2% vào cuối năm 2017, sau khi đã xử lý 1.020,4 tỷ đồng nợ xấu trong 9 tháng đầu năm. Dư nợ xấu là 3.218,4 tỷ đồng (tăng 45,1% so với đầu năm) và tổng nợ xấu hình thành mới trong 9 tháng đầu năm là 2.021 tỷ đồng (tăng 46,4% so với cùng kỳ). Trong khi đó, hệ số LLR là 106%, tăng từ mức 96% vào cuối năm 2017.

–     Nợ nhóm 2 chiếm 1,62% tổng dư nợ (tăng 4,8% so với đầu năm lên 3.327 tỷ đồng).

–     Nợ nhóm 3 chiếm 0,38% tổng dư nợ (tăng 6,2% so với đầu năm lên 781 tỷ đồng).

–     Nợ nhóm 4 chiếm 0,55% tổng dư nợ (tăng 67,3% so với đầu năm lên 1.118 tỷ đồng).

–     Nợ nhóm 5 chiếm 0,64% tổng dư nợ (tăng 62,1% so với đầu năm lên 1.319 tỷ đồng).

Theo đó LNTT đạt 6.015 tỷ đồng (tăng 50,3% so với cùng kỳ).

Cho năm 2018, HSC dự báo LNTT tăng trưởng 64,4% đạt 7.586 tỷ đồng – Giả định chính của chúng tôi là:

  • Chúng tôi hiện giả định tín dụng tăng trưởng 15,9% đạt 213.500 tỷ đồng trước định hướng tăng trưởng tín dụng thận trọng từ NHNN.
  • Chúng tôi cũng giả định huy động tăng trưởng 9,2% đạt 240.428 tỷ đồng.
  • Chúng tôi ước tính tỷ lệ NIM sẽ cải thiện, tăng 0,3% lên 4,71%.
  • Chúng tôi dự báo thu nhập lãi thuần tăng trưởng 28% và đạt 14.363 tỷ đồng.
  • Và dự báo thu nhập ngoài lãi tăng trưởng 62,4% đạt 4.300 tỷ đồng.
  • Chúng tôi ước tính chi phí hoạt động tăng 40% lên 8.406 tỷ đồng.
  • Giả định tổng chi phí dự phòng trích lập là 2.671 tỷ đồng (giảm 17,9%).
  • Ước tính tỷ lệ nợ xấu tại thời điểm cuối năm 2018 là 1,2% sau khi xóa 1.708 tỷ đồng nợ xấu (tương đương 0,8% dư nợ cho vay).

Theo đó chúng tôi dự báo LNTT đạt 7.586 tỷ đồng, tăng trưởng 64,4%. EPS đạt 2.656đ; BVPS là 14.866đ, với P/B dự phóng là 1,44 lần.

Cho năm 2019, HSC dự báo LNTT tăng trưởng 21,4% đạt 9.849 tỷ đồng – Giả định chính của chúng tôi là:

  • Chúng tôi hiện giả định tín dụng tăng trưởng 17% đạt 249.795 tỷ đồng.
  • Chúng tôi cũng giả định huy động tăng trưởng 13% đạt 271.683 tỷ đồng.
  • Chúng tôi ước tính tỷ lệ NIM cải thiện, tăng 0,3% lên 5,01%.
  • Chúng tôi dự báo thu nhập lãi thuần tăng trưởng 19,4% và đạt 17.149 tỷ đồng.
  • Và dự báo thu nhập ngoài lãi tăng trưởng 23,5% đạt 5.309 tỷ đồng.
  • Chúng tôi ước tính chi phí hoạt động tăng 27,4% lên 10.711 tỷ đồng.
  • Giả định tổng chi phí dự phòng trích lập là 2.537 tỷ đồng (giảm 5%).
  • Ước tính tỷ lệ nợ xấu tại thời điểm cuối năm 2019 là 1,2% sau khi xóa 1.873 tỷ đồng nợ xấu (tương đương 0,75% dư nợ cho vay).

Theo đó chúng tôi dự báo LNTT đạt 9.211 tỷ đồng, tăng trưởng 21,4%. EPS đạt 3.222đ; BVPS là 17.258đ, với P/B dự phóng là 1,24 lần

MBB sẽ tiếp tục tăng trưởng trên mức bình quân nhờ cơ cấu tài sản ưu việt và bộ máy lãnh đạo năng động – MBB hiện sở hữu 3% thị phần cho vay. Ngân hàng có thế mạnh trong cho vay khách hàng cá nhân và cho vay các DNNVV được hỗ trợ từ nguồn huy động chi phí thấp nhờ tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn cao nhất trong ngành, khoảng 40%. MBB vẫn luôn nghiêm ngặt trong các quy trình cho vay và xử lý nợ xấu khá nhanh. Do đó, các hệ số an toàn của Ngân hàng luôn được đảm bảo, tạo điều kiện cho tín dụng tăng mạnh hơn so với hầu hết các ngân hàng đối thủ. Và với chi phí dự phòng của ngân hàng mẹ sẽ không tăng mạnh, thì tăng trưởng tín dụng sẽ chuyển thành lợi nhuận.

Hai mảng kinh doanh mới; MCredit và MBAL đánh dấu sự mở rộng của MBB vào mảng tài chính tiêu dùng và bảo hiểm nhân thọ. Mặc dù bắt đầu phát triển hai mảng này muộn hơn, MBB có lợi thế khi sở hữu nguồn khách hàng trung thành và do đó cùng với ngân hàng mẹ, hai mảng kinh doanh này sẽ tiếp tục phát triển tốt. MBB đang dần trở thành một ngân hàng đa năng cung cấp cả dịch vụ bảo hiểm và tài chính tiêu dùng. Điều này mang lại cho MBB vị trí dẫn đầu trong số các NHTMCP cung cấp các dịch vụ tài chính toàn diện cho khách hàng.

Trong trung đến dài hạn, HSC dự báo:

  • Dư nợ của MBB sẽ tăng trưởng với tốc độ trung bình gộp năm là 17,3% trong 3 năm tới, với dự nợ của ngân hàng mẹ tăng khoảng 16-17% và của MCredit tăng 40-50% mỗi năm.
  • Trong khi đó hệ số LDR sẽ tăng từ 84% lên 93%.
  • Tỷ lệ NIM sẽ tăng 0,94% lên 5,26% trong giai đoạn này.
  • Thu nhập lãi thuần sẽ tăng trưởng với tốc độ trung bình gộp năm là 22,4% trong 3 năm tới.
  • Trong khi đó thu nhập ngoài lãi sẽ tăng trưởng với tốc độ trung bình gộp năm là 35,2% trong 3 năm tới.
  • Và LNTT của MBB sẽ tăng trưởng với tốc độ trung bình gộp năm là 32,9% trong 3 năm tới.

VCB nhiều khả năng sẽ bán số cổ phần còn lại tại MBB trực tiếp trên sàn – Trong phiên đấu giá diễn ra tuần trước, VCB mới bán thành công 10.000 cổ phiếu trong tổng số 53,4 triệu cổ phiếu MBB. Mặc dù đây là kết quả khá thất vọng nhưng không phải là điều bất ngờ khi mà điều kiện giá đấu thành công không được thấp hơn cả giá khởi điểm và giá đóng cửa trên sàn vào ngày đấu giá, khiến phiên đấu kém hấp dẫn hơn với các NĐT. Đối với số cổ phần còn lại tại MBB, VCB nhiều khả năng sẽ bán trực tiếp trên sàn với giá bán không thấp hơn 19.641đ/cp (giá khởi điểm đấu giá), tuy nhiên thời gian vẫn chưa xác định. Do đó, việc thoái vốn của VCB vẫn chưa hoàn tất và cổ phiếu MBB vẫn chịu áp lực.

Quan điểm đầu tư – Tiếp tục đánh giá MUA VÀO. Chúng tôi ước tính giá trị hợp lý của Cổ phiếu MBB là 34.200đ, tương đương P/B dự phóng là 2,3 lần. Trong khi đó P/B bình quân ngành hiện là 1.95 lần. KQKD năm 2017 vượt trội với triển vọng năm 2018 vẫn rất khả quan. Ngân hàng tiếp tục mở rộng mảng ngân hàng bán lẻ với cả cho vay và huy động từ khách hàng cá nhân tăng mạnh. Theo đó chi phí tăng lên nhưng được bù đắp phần nào nhờ lợi suất cho vay tăng, đặc biệt là từ mảng tài chính tiêu dùng. MBB vẫn là một trong những ngân hàng có nền tảng căn bản tốt nhất nhờ tỷ lệ LDR tốt, hệ số CAR cao, và chất lượng tài sản tốt.

Nguồn: HSC

BÌNH LUẬN()

CÁC TIN LIÊN QUAN

Đối tác

0912 842 224 Mở tài khoản CK