DANH MỤC

Mobile / Fb / Zalo: 0912 842 224 | 0982 842 224

Cập nhật cổ phiếu HPG – Khuyến nghị mua vào với giá mục tiêu 67.500 đồng/cp

Lượt xem: 9,727 - Ngày:
Chia sẻ

Tăng trưởng mạnh + định giá hấp dẫn = Mua vào mạnh

HSC lần lượt tăng 10,5% và 8,3% dự báo lợi nhuận thuần năm 2021 và 2022 lên 20,5 nghìn tỷ đồng (tăng trưởng 52,3% so với năm 2020) và 23,2 nghìn tỷ đồng (tăng trưởng 13,1% so với năm 2021). Điều này phản ánh xu hướng tăng giá thép gần đây. Chúng tôi cũng đưa ra dự báo cho năm 2023 với lợi nhuận thuần đạt 25,4 nghìn tỷ đồng (tăng trưởng 9,6% so với năm 2022). Mặc dù hiện định giá đã cao hơn một chút so với bình quân quá khứ, HSC cho rằng với tốc độ CAGR 16,7% của lợi nhuận thuần giai đoạn 2021-2025, cổ phiếu HPG xứng đáng được định giá lại ở một mặt bằng cao hơn. Chúng tôi nâng giá mục tiêu đối với cổ phiếu HPG lên 67.500đ (từ 56.600đ) sau khi nâng dự báo lợi nhuận và đưa dự án DQSC 2 vào mô hình. DQSC 2 sẽ đóng vai trò là động lực tăng trưởng chính cho HPG sau năm 2023. Với tiềm năng tăng giá 39,2% tại giá mục tiêu mới, HSC tiếp tục khuyến nghị Mua vào mạnh cổ phiếu HPG.Cổ phiếu HPG 

Đồ thị cổ phiếu HPG phiên giao dịch ngày 07/04/2021. Nguồn: AmiBroker

Xem xét lại dự báo lợi nhuận sau khi giá thép tăng mạnh

HSC nâng dự báo lợi nhuận năm 2021-2022 để phản ánh xu hướng giá thép tăng. Giá bán đối với thép dài đã tăng bình quân 3% và thép dẹt tăng 26,7% so với đầu năm.

Bảng 1: Giá thép xây dựng của HPG, đồng/kg Cổ phiếu HPG

Bảng 2: Giá HRC của HPG, USD/tấn Cổ phiếu HPG

Theo đó, chúng tôi lần lượt nâng 10,5% và 8,3% dự báo lợi nhuận thuần năm 2021 và 2022 lên 20,5 nghìn tỷ đồng (tăng trưởng 52,3%) và 23,2 nghìn tỷ đồng (tăng trưởng 13,1%). Chúng tôi cũng đưa ra dự báo cho năm 2023 với lợi nhuận thuần đạt 25,4 nghìn tỷ đồng (tăng trưởng 9,6%).

Với dự báo mới, HSC tin rằng Cổ phiếu HPG sẽ vượt 12,9% kế hoạch doanh thu thuần đề ra cho năm 2021 là 120 nghìn tỷ đồng (tăng trưởng 33,2%) và vượt 13,8% kế hoạch lợi nhuận thuần là 18 nghìn tỷ đồng (tăng trưởng 33,8%).

Đưa dự án DQSC 2 vào mô hình dự báo

Bảng 3: Công suất của HPG, bao gồm DQSC 2, tấn/năm Cổ phiếu HPG

Dự án DQSC 1 đang hoạt động trơn tru với hiệu suất hoạt động cao. Như trình bầy trong Bảng 3, công suất sản xuất năm 2021 sẽ tiếp tục tăng, chủ yếu ở sản phẩm thép dài và HRC.

Thông tin cụ thể như sau:

  • Cơ sở Hải Dương sẽ hoàn tất nâng cấp trong năm 2021 – từ đó nâng công suất sản xuất thép thô lên 2,5 triệu tấn/năm từ 2,2 triệu tấn/năm hiện nay. Trong năm 2020, công suất cán thép xây dựng đã tăng lên 2,5 triệu tấn/năm từ 2 triệu tấn/năm.
  • Công suất cán thép xây dựng tại DQSC 1 sẽ tăng lên 3 triệu tấn/năm (vào cuối năm 2021) từ 2 triệu tấn/năm hiện nay. Tổng mức đầu tư ước tính là 1,4- 1,5 nghìn tỷ đồng từ nguồn vốn tự có. Công suất HRC hiện là 3-3,5 triệu tấn/năm
  • Trong mô hình của mình, HSC kỳ vọng các cơ sở sản xuất hiện tại sẽ hoạt động hết công suất vào cuối năm 2023. Do đó, sau năm 2023, DQSC 2 sẽ là động lực tăng trưởng chính. Theo tài liệu họp ĐHCĐTN, HPG sẽ trình kế hoạch điều chỉnh cho dự án DQSC 2. Cụ thể như sau:
  • Tổng mức đầu tư sẽ tăng lên 70 nghìn tỷ đồng từ 50 nghìn tỷ đồng trước đây vì Công ty tăng cường đầu tư vào công nghệ.
  • Nâng công suất lên 5,6 triệu tấn thép/năm từ 5 triệu tấn, gồm 4,6 triệu tấn thép dẹt (HRC) và 1 triệu tấn thép dài chất lượng cao.

HPG sẽ đẩy nhanh quá trình xây dựng DQSC 2 và đặt mục tiêu đưa DQSC 2 bắt đầu đi vào xây dựng từ đầu năm sau, sớm hơn 1 năm so với kế hoạch ban đầu. Tổng mức đầu tư được điều chỉnh tăng đáng kể và trong khi công suất dự án cũng được nâng lên, HSC được biết HPG dự kiến chủ yếu đầu tư vào công nghệ tiên tiến để sản xuất HRC.

Sản phẩm HRC chất lượng cao có thể được bán với giá cao và đem lại tỷ suất lợi nhuận cao cho HPG. Thời gian xây dựng ước tính là 36 tháng và nhà máy dự kiến bắt đầu đi vào hoạt động vào đầu năm 2025.

Duy trì khuyến nghị Mua vào, nâng 19% giá mục tiêu lên 67.500đ

HSC nâng 19,3% giá mục tiêu lên 67.500đ (tiềm năng tăng giá 39,2%) từ 56.600đ trước đây. Chúng tôi sử dụng DCF làm phương pháp định giá chính cho HPG.

Hiện P/E dự phóng năm 2021 là 8,3 lần; cao hơn một chút so với bình quân P/E dự phóng 1 năm trong quá khứ là 7,4 lần (bình quân 4 năm) (Biểu đồ 4). Tuy nhiên, định giá của cổ phiếu HPG vẫn rẻ hơn so với các doanh nghiệp cùng ngành (Bảng 5). P/E dự phóng năm 2021 của cổ phiếu HPG thấp hơn 21,7% so với bình quân P/E các doanh nghiệp cùng ngành là 10,6 lần.

HSC tin rằng cổ phiếu HPG xứng đáng tiếp tục được định giá lại ở mặt bằng cao hơn nhờ triển vọng tăng trưởng lợi nhuận mạnh mẽ dựa trên xu hướng đầu tư mạnh cho cơ sở hạ tầng và xây dựng nói chung tại Việt Nam cộng với công suất dự án DQSC tăng. Tại giá mục tiêu, P/E dự phóng năm 2021 là 11,5 lần và năm 2022 là 10,2 lần so với mức bình quân các doanh nghiệp cùng ngành là 10,6 lần và 10,2 lần.

Bảng 4: P/E dự phóng trung bình 1 năm của HPG Cổ phiếu HPG

Bảng 5: So sánh các công ty cùng ngànhCổ phiếu HPG

Bảng 6: Định giá HPG Cổ phiếu HPG

Rủi ro đầu tư

HSC nhận thấy có một rủi ro không đạt dự báo và hai rủi ro vượt dự báo:

  • Rủi ro không đạt dự báo: Khả năng giá thép giảm mạnh. Nhu cầu cao đối với các nguyên vật liệu xây dựng, dưới sự ảnh hưởng của các gói kích thích kinh tế tại Trung Quốc đã đẩy giá nguyên liệu đầu vào sản xuất thép tăng, từ đó kéo theo cả giá thành phẩm tăng trong vài tháng vừa qua. Giá toàn bộ sản phẩm thép (từ thép dài đến thép dẹt) tăng lên mức kỷ lục của 13 năm và đang trên đà chạm đến đỉnh lịch sử. Do đó, có khả năng giá thép điều chỉnh mạnh.

Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng giá thép nếu giảm sẽ được bù đắp nhờ giá đầu vào giảm. Ngoài ra, nhờ đứng đầu trong lĩnh vực thép xây dựng, HPG có lợi thế về giá bán so với các đối thủ cạnh tranh khác – Công ty có thị phần lớn nhất tại thị trường trong nước (và thị phần đang tăng lên) cộng với có lợi thế quy mô lớn hơn hẳn so với các doanh nghiệp thép khác tại Việt Nam. Điều này sẽ giúp giữ vững tỷ suất lợi nhuận của các sản phẩm thép dài của HPG. Về mảng HRC, HSC được biết HPG ký hợp đồng kỳ hạn với khách hàng trong nước, và giá bán một phần được xác định dựa trên giá nguyên liệu đầu vào tại thời điểm thỏa thuận hợp đồng. Nhờ đó, HPG có thể giữ ổn định được tỷ suất lợi nhuận của mình ở sản phẩm HRC.

Trong giai đoạn 2012-2015, khi giá sản phẩm chẳng hạn như HRC giảm từ 700 USD/tấn vào năm 2012 xuống dưới 300 USD/tấn vào cuối năm 2015 và giá sắt cũng giảm đáng kể từ 155 USD/tấn vào năm 2013 xuống dưới 40 USD/tấn vào cuối năm 2015), lợi nhuận thuần của HPG vẫn tăng trưởng mạnh trong khoảng thời gian này với tốc độ CAGR giai đoạn 2021-2015 đạt 51,9% nhờ kỹ năng quản trị hàng tồn kho tuyệt vời, sự năng động trong tìm kiếm thị trường xuất khẩu để bán sản phẩm với tỷ suất lợi nhuận tốt, quy mô sản xuất mở rộng mạnh mẽ và vị thế đứng đầu trên thị trường trong nước.

  • Rủi ro vượt dự báo số 1: Khả năng ghi nhận lợi nhuận không thường xuyên từ bán mảng nội thất.

Lợi nhuận từ thoái vốn có thể coi là rủi ro kết quả vượt dự báo trong năm 2021 và là một động lực tích cực tiềm năng cho giá cổ phiếu.

HPG đã có kế hoạch thoái vốn CTCP Nội thất Hòa Phát (HPG nắm 99,6% cổ phần) để tập trung vào 4 mảng chính gồm: Sắt thép, Tôn mạ & Ống thép, Nông nghiệp và Bất động sản.

Tuy nhiên, thông tin cụ thể và thời gian thoái vốn cũng như giá trị thoái chưa được công bố. HSC tin rằng lợi nhuận từ thoái vốn sẽ không ảnh hưởng nhiều đến HPG vì công ty nội thất chỉ có vốn điều lệ 400 tỷ đồng với doanh thu và lợi nhuận thuần hàng năm lần lượt là 4.000 tỷ đồng và 400 tỷ đồng. CTCP Nội thất Hòa Phát chỉ đóng góp 2-3% doanh thu và lợi nhuận thuần của Tập đoàn mỗi năm.

  • Rủi ro vượt dự báo số 2: Kế hoạch kinh doanh mới nhằm phát triển chuỗi giá trị

Do thiếu thông tin về kế hoạch mở rộng sang lĩnh vực kinh doanh mới, nên HSC chưa đưa chiến lược này vào mô hình dự báo và đây có thể coi là một rủi ro khiến kết quả thực hiện vượt dự báo trong dài hạn. HPG có khả năng M&A:

  • Các mỏ khoáng sản tại Australia: HPG gần đây đã công bố ý định đầu tư vào ngành khai khoáng tại Australia. Theo HSC, việc mua mỏ khoáng sản có thể giúp nâng khả năng chủ động nguồn sắt và/hoặc than, giúp HPG kiểm soát được nguồn và chi phí đầu vào. Từ đó giúp nâng cao tỷ suất lợi nhuận trong tương lai. HPG đã mua 4 triệu tấn quặng sắt và 3,5 triệu tấn than từ Australia trong năm nay.
  • Sản xuất vỏ container rỗng: Vào cuối tháng 2/2021, HPG thông báo kế hoạch sản xuất 500.000 TEU vỏ container/năm trong bối cảnh chi phí bị đội lên cao do tính trạng thiếu vỏ container rỗng gần đây. HPG sẽ sử dụng 1 triệu tấn HRC tự sản xuất làm đầu vào sản xuất vỏ container. Dự kiến HPG sẽ sản xuất được vỏ container rỗng vào Q2/2022.
  • Mua tàu vận tải biển nhằm giảm chi phí vận tải: Tại thời điểm cuối tháng 2/2021, HPG đã mua 2 tàu trọng tải 900.000 tấn để phục vụ nhu cầu vận chuyển quặng sắt và than phục vụ nhu cầu nội bộ. Việc mua các tàu chở hàng rời có lẽ đánh dấu sự kiện bắt đầu xây dựng một đội tàu cho phép HPG tham gia vào ngành vận tải biển. Mục tiêu là giảm chi phí vận tải cho toàn bộ Tập đoàn.

Vốn đầu tư cho các kế hoạch trên sẽ không là vấn đề lớn đối với Cổ phiếu HPG ở thời điểm hiện tại. Công ty có thể sử dụng nguồn vốn tự có để thực hiện các kế hoạch đầu tư trên

Đà tăng trưởng mạnh tiếp tục được duy trì

Vào cuối tháng 3/2021, giá thép tại Trung Quốc ở đỉnh của 12 năm với giá HRC là 806 tấn/USD (tăng 15% từ đầu năm) và giá thép thanh là 744 USD/tấn (tăng 12,6% so với đầu năm). Tại thị trường Việt Nam, giá HRC cho đơn hàng giao vào tháng 5 đạt mức cao kỷ lục là 763 USD/tấn (tăng 8,2% so với đầu năm và tăng 88,3% so với cùng kỳ). Giá thép xây dựng cũng tăng 3% so với đầu năm và tăng 29,2% so với cùng kỳ. Nhờ nền kinh tế thế giới hồi phục mạnh mẽ, nhu cầu đối với các sản phẩm thép tiếp tục tăng. HSC tin rằng giá thép tăng sẽ có lợi cho các doanh nghiệp sản xuất thép, đặc biệt là các doanh nghiệp đầu ngành có lợi thế về quy mô sản xuất. Chính phủ Trung Quốc đang xem xét giảm mức hoàn thuế cho thép xuất khẩu từ 13% hiện nay về 0%. Theo đó, giá thép (chẳng hạn HRC và thép dài) sẽ tiếp tục tăng.

Giá than cốc giảm giúp tỷ suất lợi nhuận tăng

Quặng sắt và than cốc là đầu vào chính để sản xuất thép. Thông thường, quặng sắt và than cốc chiếm khoảng 30-40% (mỗi loại) trong chi phí sản xuất trên mỗi đơn vị sản phẩm. Do đó, giá những đầu vào này tăng mạnh sẽ ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận của HPG.

Theo Biểu đồ 8 và 9, giá quặng sắt hiện ở mức cao, là 155 USD/tấn (tăng 92,9% so với cùng kỳ và bằng đầu năm) nhưng giá than cốc đã giảm chỉ còn 116 USD/tấn (giảm 15,8% so với đầu năm và giảm 19,3% so với cùng kỳ). Giá than cốc giảm cộng với giá bán thép xây dựng và HRC tăng đã bù đắp vào sự tăng giá các nguyên liệu đầu vào chính là quặng sắt và thép phế.

Biểu đồ 7: Giá HRC tại Việt Nam, USD/tấn Cổ phiếu HPG

Biểu đồ 8: Giá quặng sắt 62% CFR, USD/tấn Cổ phiếu HPG

Biểu đồ 9: Giá than cốc, USD/tấn Cổ phiếu HPG

Biểu đồ 10: Giá thép phế liệu, USD/tấn Cổ phiếu HPG

Mua mỏ khoáng sản mới tại Austraila sẽ cải thiện chuỗi giá trị

HPG dự kiến mua lại mỏ khoáng sản tại Australia để sản xuất và cung cấp quặng sắt sử dụng sản xuất nội bộ. Theo chúng tôi, đây là động thái mang tính chiến lược vì sẽ giúp HPG nâng được giá trị của chuỗi sản xuất.

Với sản lượng sản xuất các sản phẩm thép 8 triệu tấn/năm, HPG cần 13-14 triệu tấn quặng sắt mỗi năm. Nguồn cung cấp nội bộ và trong nước là hạn chế (chỉ đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu), nên Công ty phụ thuộc nhiều vào nguồn nhập khẩu có giá cao hơn so với giá mua từ nguồn trong nước.

Theo HSC, việc mua mỏ khoáng sản có thể giúp nâng khả năng chủ động nguồn sắt và/hoặc than, giúp HPG kiểm soát được nguồn và chi phí đầu vào. Từ đó giúp nâng cao tỷ suất lợi nhuận trong tương lai. HPG đã mua 4 triệu tấn quặng sắt và 3,5 triệu tấn than từ Australia trong năm nay.

Hiện vì thiếu thông tin về kế hoạch đầu tư mua mỏ, nên HSC chưa đưa yếu tố này vào mô hình của mình. Tuy nhiên việc mua mỏ khoáng sản tại Australia có thể là một rủi ro vượt dự báo.

Lợi thế cạnh tranh của HPG so với các đối thủ cạnh tranh

Như trình bày trong Biểu đồ 11-12, giá thép thanh của HPG thấp hơn giá thép thanh của Trung Quốc kể từ cuối năm 2016. Với công suất và quy mô sản xuất được nâng cao, HPG có thể cạnh tranh trực tiếp với các nhà sản xuất Trung Quốc trên thị trường thế giới nhờ áp dụng công nghệ hiện đại, lợi thế về quy mô và khả năng quản trị chi phí tốt.

HPG đang nâng tỷ trọng xuất khẩu trong tổng doanh thu. Vào năm ngoái, sản lượng thép xây dựng xuất khẩu chiếm 15,9% trong tổng sản lượng thép xây dựng (tăng từ 9,6% trong năm 2019). Trong 2 tháng đầu năm 2021, tỷ trọng xuất khẩu tiếp tục tăng lên 17,9%. Chúng tôi được biết giá xuất khẩu hiện cao hơn giá trong nước nên tỷ trọng xuất khẩu dự kiến sẽ tăng tiếp theo thời gian.

Chính phủ Trung Quốc đang xem xét giảm mức hoàn thuế xuất khẩu cho các nhà xuất khẩu thép bao gồm cả HRC và thép thanh từ 13% hiện nay về 0%. Động thái này diễn ra trong bối cảnh nhu cầu nội địa tăng cao vì chi tiêu cho xây dựng cơ sở hạ tầng tăng mạnh hậu Covid-19 cộng với sản lượng sản xuất trong nước (từ những cơ sở sản xuất có công nghệ lạc hậu) giảm vì vấn đề môi trường. Do vậy, chính phủ Trung Quốc đã tìm cách giảm lượng thép xuất khẩu và ưu tiên nhu cầu trong nước. Trung Quốc là nước xuất thép chính của thế giới nên sản lượng xuất khẩu thép của nước này giảm sẽ làm hụt nguồn cung trên thị trường thế giới. Theo đó, chúng tôi tin rằng khi Trung Quốc quyết định cắt giảm mức hoàn thuế xuất khẩu, giá thép thế giới (HRC và thép thanh) sẽ tăng trong ngắn hạn. Và xu hướng tăng giá thép xuất phát từ quyết định trên của chính phủ Trung Quốc sẽ ảnh hưởng tích cực đến hoạt động sản xuất của sản phẩm HRC và thép dài của HPG.

Biểu đồ 11: Giá thép cây của HPG và của Trrung Quốc, USD/tấn Cổ phiếu HPG

Biểu đồ 12: Chênh lệch giữa giá thép cây HPG so với giá thép cây Trung Quốc, % Cổ phiếu HPG

Dự báo mới

HSC nâng dự báo cho năm 2021 và 2022 để phản ánh xu hướng tăng giá thép. Theo đó, HSC lần lượt tăng 10,5% và 8,3% dự báo lợi nhuận thuần năm 2021 và 2022 lên 20,5 nghìn tỷ đồng (tăng trưởng 52,3% so với năm 2020) và 23,2 nghìn tỷ đồng (tăng trưởng 13,1% so với năm 2021). HSC điều chỉnh tăng dự báo lợi nhuận chủ yếu vì tăng giả định giá thép dài (thép xây dựng) và thép dẹt (HRC). Chúng tôi cũng đưa ra dự báo cho năm 2023 với lợi nhuận thuần đạt 25,4 nghìn tỷ đồng (tăng trưởng 9,6% so với năm 2022). Lợi nhuận thuần dự báo trong giai đoạn 2020-2023 tăng trưởng với tốc độ CAGR là 23,6%. EPS dựa trên dự báo mới của chúng tôi lần lượt cao hơn 12,6%; 14,2% và 16,1% cho năm 2021, 2022 và 2023 so với bình quân thị trường.

Những thay đổi trong dự báo và giả định chủ chốt của HSC được trình bày trong Bảng 13-21. Những giả định chính trong dự báo được trình bày dưới đây:

Bảng 13: Điều chỉnh dự báo, (tỷ đồng) Cổ phiếu HPG

Bảng 14: Giả định sản lượng tiêu thụ, tấn Cổ phiếu HPG

Bảng 15: Tăng trưởng sản lượng tiêu thụ (%) Cổ phiếu HPG

Dự báo sản lượng tiêu thụ:

  • Về sản phẩm thép dài, chúng tôi dự báo HPG sẽ tiêu thụ được 4 triệu tấn thép (tăng trưởng 17,9% so với năm 2020) thép xây dựng trong năm nay nhưng sản lượng phôi thép sẽ giảm 42,8% so với năm 2020 xuống chỉ còn 1 triệu tấn do hạn chế về công suất. Tổng sản lượng thép dài tiêu thụ đạt 5 triệu tấn (giảm 2,7% so với năm 2020).

Tuy nhiên, nhờ tỷ trọng đóng góp từ thép xây dựng tăng nên tỷ suất lợi nhuận sẽ được nâng cao. Cho năm 2022 và 2023, HSC dự báo sản lượng thép dài lần lượt đạt 5,2 triệu tấn (tăng trưởng 2,8% so với năm 2021) và 5,5 triệu tấn (tăng trưởng 6,7% so với năm 2022) với cơ cấu sản phẩm nói chung hiệu quả hơn (tỷ trọng đóng góp từ thép xây dựng trong tổng sản lượng tiêu thụ tăng) nhờ công suất cán tại DQSC 1 tăng. Điều này sẽ thể hiện rõ vào cuối năm 2021.

  • Về sản phẩm thép dẹt, HSC dự báo HPG sẽ tiêu thụ được 2,7 triệu tấn (tăng trưởng 293,6% so với năm 2020) HRC trong năm nay. Cho năm 2022 và 2023, HSC dự báo sản lượng thép HRC lần lượt đạt 3,5 triệu tấn (tăng trưởng 29,6% so với năm 2021) và 4 triệu tấn (tăng trưởng 14,3% so với năm 2022).
  • Về sản phẩm ống thép và tôn mạ, HSC giả định trong giai đoạn 2021-2023, sản lượng ống thép tiêu thụ sẽ tăng trưởng 10%/năm và đạt 1,1 triệu tấn vào năm 2023. Công suất tôn mạ sẽ đạt công suất thiết kế tối đa là 400.000 tấn vào năm 2022 (tăng trưởng 33,3% so với năm 2021) từ 300.000 tấn (tăng trưởng 81,8%) trong năm nay. Sản lượng tôn mạ tiêu thụ trong năm 2023 sẽ giữ nguyên ở 400.000 tấn.

Bảng 16: Giả định giá bán bình quân, triệu đồng/tấn Cổ phiếu HPG

Bảng 17: Tăng trưởng giá bán bình quân, % Cổ phiếu HPG

Dự báo giá bán bình quân: Chúng tôi dự báo giá bán bình quân năm 2021 sẽ tăng mạnh trong bối cảnh giá thép thế giới tăng. Theo đó, HSC giả định giá bán bình quân thép xây dựng sẽ đạt 13,7 triệu đồng/tấn (tăng trưởng 22% so với năm 2020) trong năm 2021 và tăng 1% trong 2 năm tiếp theo. Lưu ý là giá thép xây dựng hiện là 14,5 triệu đồng/tấn. Giá bán bình quân sản phẩm HRC trong năm 2021 giả định là 15,4 triệu đồng/tấn (tăng trưởng 25% so với năm 2020) và sẽ ổn định trong 2 năm sau đó. Hiện giá HRC trên thị trường trong nước đang ở mức cao, là 17,5-18 triệu đồng/tấn.

Bảng 18: Tỷ suất lợi nhuận qua các nămCổ phiếu HPG

Tỷ suất lợi nhuận vẫn ở mức cao trong năm nay nhưng sẽ chịu áp lực giảm trong 2 năm tiếp theo – HSC dự báo tỷ suất lợi nhuận gộp năm 2021 sẽ ở mức cao là 20,8% so với mức 21% trong năm ngoái do tỷ suất lợi nhuận mảng nông nghiệp giảm (do giá thịt heo giảm). Tuy nhiên, chúng tôi thận trọng về biên lợi nhuận trong 2 năm tới với tỷ suất lợi nhuận gộp năm 2022 dự báo đạt 19,9% và năm 2023 dự báo đạt 19,2%; thấp hơn so với nền cao trong năm 2021.

Bảng 19: Dự báo lợi nhuận, (tỷ đồng) Cổ phiếu HPG

Bảng 20: Tăng trưởng lợi nhuận, % Cổ phiếu HPG

Bảng 21: Giả định KQKD mảng nông nghiệp, (tỷ đồng) Cổ phiếu HPG

Về mảng nông nghiệp – Cho năm 2021, HSC dự báo doanh thu thuần đạt 12,7 nghìn tỷ đồng (tăng trưởng 20% so với năm 2020) nhưng lợi nhuận thuần giảm 9,4% so với năm ngoái còn 1.520 tỷ đồng do giá thịt giảm. Cho năm 2022-2023, chúng tôi dự báo HPG sẽ duy trì được đà tăng trưởng ổn định của doanh thu và lợi nhuận.

Tỷ lệ chi phí bán hàng & quản lý/doanh thu đi ngang trong giai đoạn 2021-2023 – Tỷ lệ chi phí bán hàng & quản lý/doanh thu sẽ ở vào 2-2,1% trong 3 năm tới.

Dự báo lỗ tài chính: HSC dự báo lỗ tài chính trong năm 2021 sẽ tăng lên 2.618 tỷ đồng (từ 1.833 triệu đồng trong năm ngoái). Điều này chủ yếu là do chi phí lãi vay tăng 37,9% so với năm ngoái. Cho năm 2022 và 2023, HSC dự báo lỗi tài chính lần lượt là 2.603 tỷ đồng (giữ nguyên so với năm trước) và 2.500 tỷ đồng (giảm 4% so với năm 2022). Điều này phản ánh chi phí lãi vay được vốn hóa của DQSC 2 trong năm 2022 và 2023.

Dự báo lợi nhuận: Tóm lại, HSC dự báo LNTT và lợi nhuận thuần năm 2021 lần lượt đạt 22,9 nghìn tỷ đồng (tăng trưởng 48,8% so với năm 2020) và 20,5 nghìn tỷ đồng (tăng trưởng 52,3% so với năm 2020). Cho năm 2022 và 2023, chúng tôi kỳ vọng LNTT và lợi nhuận thuần vẫn tăng trưởng bền vững.

HSC dự báo LNTT và lợi nhuận thuần năm 2022 lần lượt đạt 25,6 nghìn tỷ đồng (tăng trưởng 11,8% so với năm 2021) và 23,2 nghìn tỷ đồng (tăng trưởng 13,1% so với năm 2021); còn LNTT và lợi nhuận thuần năm 2023 lần lượt đạt 27,7 nghìn tỷ đồng (tăng trưởng 8,4% so với năm 2022) và 25,4 nghìn tỷ đồng (tăng trưởng 9,6% so với năm 2022).

Dự báo EPS: Dựa trên số lượng cổ phiếu lưu hành hiện tại: EPS năm 2021, 2022 và 2023 dự báo lần lượt đạt 5.874đ, 6.643đ và 7.283đ.

Kế hoạch năm 2021 – lợi nhuận thuần tăng trưởng 33,8%

HPG đã đề ra kế hoạch kinh doanh tăng trưởng mạnh cho năm 2021 với doanh thu thuần đạt 120 nghìn tỷ đồng (tăng trưởng 33,2%) và lợi nhuận thuần đạt 18 nghìn tỷ đồng (tăng trưởng 33,8%). HPG đặt mục tiêu sản lượng thép dài tiêu thụ đạt 5 triệu tấn và HRC đạt 2,7 triệu tấn. Kế hoạch sản lượng tiêu thụ của HPG cho năm nay sát với giả định của HSC.

Bảng 22: Kế hoạch năm 2021, (tỷ đồng) Cổ phiếu HPG

Định giá và khuyến nghị

HSC nâng 19,3% giá mục tiêu đối với Cổ phiếu HPG lên 67.500đ (từ 56.600đ) chủ yếu vì nâng dự báo lợi nhuận và đưa dự án DQSC 2 vào mô hình; tương đương tiềm năng tăng giá 39,2%. Với vị thế đầu ngành thép, năng lực quản trị mạnh và dòng tiền ổn định, HSC duy trì khuyến nghị Mua vào đối với cổ phiếu HPG. Tại giá mục tiêu, P/E dự phóng năm 2021 là 11,5 lần và năm 2022 là 10,2 lần so với mức bình quân các doanh nghiệp cùng ngành là 10,6 lần và 10,2 lần.

Phương pháp định giá

HSC sử dụng DCF làm phương pháp chính để tính giá mục tiêu cho HPG. Những giả định chính của chúng tôi được trình bày dưới đây:

  • Giữ nguyên giả định lãi suất phi rủi ro tại 3% và tốc độ tăng trưởng dài hạn tại 2% nhờ triển vọng dài hạn tích cực.
  • Theo đó, chi phí vốn bình quân WACC để tính giá mục tiêu là 11,1%.
  • Lần lượt điều chỉnh tăng 10,5% và 8,3% dự báo lợi nhuận thuần năm 2021 và 2022 để phản ánh điều kiện hoạt động kinh doanh hiện tại.

Thông tin chi tiết về giả định định giá và phân tích độ nhạy được trình bày trong Bảng 24-27 ở cuối báo cáo.

Định giá rẻ so với các doanh nghiệp cùng ngành

Hiện P/E dự phóng năm 2021 và 2022 lần lượt là 8,3 và 7,3 lần; cao hơn một chút so với bình quân P/E dự phóng 1 năm trong quá khứ là 7,4 lần (bình quân 4 năm) nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với các doanh nghiệp cùng ngành là 10,6 lần và 10,2 lần.

Chính sách cổ tức tiền mặt

Do cần vốn đầu tư lớn cho DQSC 2, HSC hạ giả định mức chi trả cổ tức tiền mặt xuống 500đ/cp (lợi suất cổ tức 1,1%) từ giả định trước đây là 1.000-2.000đ/cp.

Bảng 23: Chính sách cổ tức tiền mặt, (đồng) Cổ phiếu HPG

Bảng 24: Tính toán FCFF, (tỷ đồng) Cổ phiếu HPG

Bảng 25: Tính toán WACC, (%) Cổ phiếu HPG

Bảng 26: Định giá DCF, (tỷ đồng) Cổ phiếu HPG

Bảng 27: Phân tích độ nhạy đối với tốc độ tăng trưởng dài hạnCổ phiếu HPG

Nguồn: HSC

BÌNH LUẬN()

CÁC TIN LIÊN QUAN

Đối tác

Gọi ngay
Messenger
Zalo chát
Mở tài khoản
Góp ý