DANH MỤC

Mobile / Zalo / Viber: 0912 842 224

Cập nhật cổ phiếu HDB – KQKD hợp nhất 9 tháng đầu năm sát kì vọng

Lượt xem: 149 - Ngày:
Chia sẻ

Nhận định KQKD – HDBank (Khả quan) đã công bố KQKD hợp nhất 9 tháng đầu năm sát kì vọng cho cả ngân hàng mẹ và HD Saison. Ngân hàng Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh (Cổ phiếu HDBđã hoàn thành 73% kế hoạch hợp nhất cả năm và 69% dự báo cả năm của HSC cho ngân hàng sau M&A. Ngân hàng mẹ đóng góp 78,6% tổng LNTT (2.264 tỷ đồng, tăng 32,1% so với cùng kỳ), trong khi HD Saison đóng góp 21,4% (617 tỷ đồng, tăng 76,8%). Cho vay khách hàng tạm thời bị hạn chế trong quý 3 tại ngân hàng mẹ trước khi HDB được cấp hạn mức tín dụng cao hơn từ NHNN. Triển vọng tương lai vẫn tích cực.

Đồ thị cổ phiếu HDB phiên giao dịch ngày 02/11/2018. Nguồn: AmiBrokerĐồ thị cổ phiếu HDB phiên giao dịch ngày 02/11/2018. Nguồn: AmiBroker

Kết luận nhanh: Lặp lại đánh giá Khả quan với giá trị hợp lý năm 2018 là 39.700 đồng (tương đương P/B dự phóng là 2,5 lần trong năm 2018) dựa trên dự báo của HSC với LNTT của Ngân hàng sau M&A đạt 4.161 tỷ đồng. Chúng tôi dự báo trong trường hợp khả quan nhất, HDBank và PG Bank sẽ hoàn tất việc sáp nhập trước tháng 12/2018. Do đó, chúng tôi giữ nguyên dự báo HDB Group sẽ đóng góp 3.946 tỷ đồng LNTT (tăng trưởng 63,3%) và PG Bank sẽ đóng góp 214 tỷ đồng LNTT (tăng trưởng 112%). Cho năm 2019, HSC dự báo LNTT tăng trưởng 47,1 % lên 6.120 tỷ đồng. Ngân hàng sau sáp nhập có thể cho thấy sự hợp nhất ở tất cả các lĩnh vực kinh doanh và mạng lưới cho vay cá nhân & DNNVV sẽ bắt đầu tăng trưởng thu nhập kể từ năm sau.

HDB công bố LNTT hợp nhất tăng 50,8% so với cùn kỳ đạt 2.883 tỷ đồng – nhờ cho vay khách hàng tăng 15,7% so với đầu năm, đạt 120,90 nghìn tỷ đồng và huy động khách hàng tăng 7,9% so với đầu năm đạt 129,96 nghìn tỷ đồng. Tỷ lệ NIM giảm nhẹ 0,06% còn 4,07% chủ yếu do tỷ lệ NIM của HD Saison giảm. Thu nhập lãi thuần tăng 18,5% so với cùng kỳ đạt 5.484 tỷ đồng. Tổng thu nhập ngoài lãi cũng tăng 33,8% so với cùng kỳ đat 1.298 tỷ đồng. Trong khi đó, cả chi phí hoạt động và chi phí dự phòng đều được kiểm soát tốt, lần lượt tăng 10,96% so với cùng kì (lên 3.257 tỷ đồng) và giảm 14,71% so với cùng kì (xuống 641 tỷ đồng). Theo đó, LNTT đạt 2.883 tỷ đồng, với đóng góp từ ngân hàng mẹ và HD Saison như đã nêu ở trên.

Cho vay khách hàng tăng 15,69% so với đầu năm đạt 120,90 nghìn tỷ đồng, với:

  • Cho vay khách hàng của Ngân hàng mẹ tăng 16,6% so với đầu năm, đạt 110,82 nghìn tỷ đồng, và
  • Cho vay khách hàng ở HD Saison tăng 6,6% so với đầu năm đạt 10,07 nghìn tỷ đồng.

Cho vay khách hàng của Ngân hàng mẹ không tăng trong Q3 do NHNN quy định hạn mức tăng trưởng tín dụng ở các ngân hàng. HDBank được NHNN cho phép tăng trưởng tín dụng 15% không tính đến các khoản cho vay các dự án điện. Đến cuối Q2 năm nay, Ngân hàng đã sử dụng toàn bộ hạn mức này (tăng trưởng tín dụng 6 tháng đầu năm là 16,2%) và do đó buộc phải tạm dừng cho vay trước khi được cấp hạn mức cao hơn từ NHNN. Chúng tôi kỳ vọng HDB sẽ được nhận hạn mức tăng trưởng tín dụng mới là khoảng 25% cho năm nay sau khi sáp nhập với PGB (thương vụ này đã được NHNN phê duyệt về nguyên tắc).

Đối với HDBank, cơ cấu cho vay theo kỳ hạn như sau;

  • Cho vay kỳ hạn ngắn tăng 21,9% so với đầu năm đạt 63,12 nghìn tỷ đồng, đóng góp 57% vào tổng dư nợ (tại thời điểm cuối năm 2017 là 54,5%).
  • Cho vay trung dài hạn tăng 10,2% so với đầu năm đạt 47,69 nghìn tỷ đồng, đóng góp 43,0% vào tổng dư nợ (tại thời điểm cuối năm 2017 là 45,5%).

Cơ cấu cho vay theo loại tiền

  • Cho vay tiền đồng tăng 14,8% so với đầu năm đạt 100,55 nghìn tỷ đồng.
  • Cho vay bằng USD tăng 38,1% so với đầu năm đạt 10,27 nghìn tỷ đồng.

Trong BCTC 9 tháng được công bố, không có thông tin về cơ cấu cho vay theo ngành nghề và đối tượng khách hàng. Tuy nhiên, HDB là ngân hàng có tên tuổi trong cho vay khách hàng cá nhân và các DNNVV, đặc biệt là cho vay kinh doanh hộ gia đình liên quan tới lĩnh vực nông nghiệp.

Đối với HD Saison, cho vay khách hàng tăng 6,6% so với đầu năm đạt 10,07 nghìn tỷ đồng – Tuy nhiên, HDB cũng đã xử lý 524 tỷ đồng nợ xấu trong 9 tháng đầu  năm nay. Do đó, tính cả phần nợ xấu đã xử lý, cho vay khách hàng tăng 12,15 % so với đầu năm.

Cơ cấu cho vay theo kỳ hạn 

  • Cho vay ngắn hạn tăng 12,6% so với đầu năm lên 4,85 nghìn tỷ đồng, đóng góp 48,0% tổng dư nợ (tại thời điểm cuối năm 2017 là 45,5%).
  • Cho vay trung hạn gần như không đổi, tăng 1,56% so với đầu năm đạt 5,23 nghìn tỷ đồng, đóng góp 52,0% vào tổng dư nợ (tại thời điểm cuối năm 2017 là 54,5%).

Tất cả các khoản vay ở HD Saison là bằng tiền đồng. 

Tiền gửi khách hàng cũng tăng 7,9% so với đầu năm đạt 129,96 nghìn tỷ đồng – Hoàn toàn là từ Ngân hàng mẹ. Đà tăng trưởng của tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn của HDB đang giảm dần do giảm thiểu nguồn tiền gửi nhàn rỗi từ một số khách hàng lớn.

Cơ cấu tiền gửi theo kỳ hạn –

  • Tiền gửi có kỳ hạn tăng 12,9% so với đầu năm đạt 118,86 nghìn tỷ đồng, đóng góp 91,4% vào tổng vốn huy động.
  • Tiền gửi không kỳ hạn giảm 27,2% so với đầu năm đạt 11,19 nghìn tỷ đồng, đóng góp 8,6% vào tổng vốn huy động.

Cơ cấu tiền gửi theo loại tiền:

  • Tiền gửi bằng tiền đồng tăng 9,6% so với đầu năm đạt 127,93 nghìn tỷ đồng, đóng góp 98,4% vào tổng huy động khách hàng.
  • Tiền gửi bằng USD giảm 45,9% so với đầu năm đạt 2,1 nghìn tỷ đồng, đóng góp 1,6% vào tổng vốn huy động.

Theo đó, hệ số LDR thuần của Ngân hàng mẹ giảm về 85% vào cuối tháng 9 sau khi chạm mức cao nhất là 90% vào cuối Q1/2018 (và tại thời điểm cuối năm 2017 là 79%). Chúng tôi cho rằng HDB cũng phải kiểm soát hệ số LDR ở mức an toàn hơn do rủi ro thanh khoản toàn ngành sẽ gia tăng vào cuối năm.

Tỷ lệ NIM hợp nhất giảm nhẹ 0,06% so với cùng kỳ nhưng không đổi so với đầu năm, là 4,07% – với lợi suất gộp giảm 0,13% so với cùng kỳ xuống 9,06% và chi phí huy động bình quân cũng giảm 0,49% so với cùng kỳ xuống 5,18%. Trong đó, tỷ lệ NIM của Ngân hàng mẹ tăng 0,15% so với cùng kỳ lên 2,56% và tỷ lệ NIM của HD Saison có thể đã giảm nhẹ.

Đối với Ngân hàng mẹ, trong các tài sản sinh lãi, lợi suất gộp giảm 0,38% xuống 7,29% do lợi suất cho vay giảm 0,66% so với cùng kỳ xuống 9,19% và lợi suất trái phiếu cũng giảm 0,65% còn 5,3%. HDB đã bán phần lớn trái phiếu có lợi suất cao trong 9 tháng đầu năm và ghi nhận lợi nhuận. Do đó, phần trái phiếu còn lại trên doanh mục có lợi suất thấp hơn. Cho vay khách hàng đóng góp 62,7% tổng tài sản sinh lãi (cùng kỳ năm ngoái là 57,8%). Trong khi đó, tỷ trọng trái phiếu đầu tư giảm xuống 23,5% (năm ngoái là 28,2%).

Về nguồn huy động, chi phí huy động bình quân giảm 0,31% xuống còn 4,86%. Trong đó, chi phí huy động tiền gửi khách hàng giảm 0,22% xuống còn 5,10% (với lãi suất tiền gửi tăng trở lại từ Q3/2018 sau khi giảm trong 6 tháng đầu năm). Chi phí phát hành giấy tờ có giá cũng giảm mạnh 0,79% xuống còn 7,41%. Trong tổng vốn huy động chịu lãi, tỷ trọng tiền gửi khách hàng giảm từ 77% xuống 75%.

Theo đó, thu nhập lãi thuần hợp nhất tăng 18,45% so với cùng kỳ đạt 5.484 tỷ đồng. Trong đó, thu nhập lãi thuần của Ngân hàng mẹ tăng 28,5% so với cùng kỳ đạt 3.274 tỷ đồng nhờ tổng tài sản sinh lãi tăng 16,5% so với cùng kỳ lên 176,68 nghìn tỷ đồng. Theo đó, thu nhập lãi thuần của HD Saison tăng 6,7% so với cùng kỳ đạt 2.207 tỷ đồng.

Tổng thu nhập ngoài lãi tăng tốt 33,8% so với cùng kỳ đạt 1.298 tỷ đồng – Tuy nhiên, thu nhập ngoài lãi ở Ngân hàng mẹ giảm nhẹ 8,6% so với cùng kỳ, là 952 tỷ đồng, trong khi đó ở HD Saison tăng gấp 10 lần so với cùng kỳ đạt 341 tỷ đồng.

Thu nhập ngoài lãi ở Ngân hàng mẹ cũng giảm – do lãi thuần mua bán chứng khoán kinh doanh và đầu tư cũng như thu nhập từ góp vốn/mua cổ phần tại VJC giảm. Trong năm ngoái, HDBank ghi nhận lãi thuần từ mua bán chứng khoán đầu tư và kinh doanh rất cao nhờ bán trái phiếu Chính phủ có lợi suất cao. Tuy nhiên, từ Q3 năm nay, Ngân hàng không còn nhiều trái phiếu có lợi suất cao nữa. Do đó tổng thu nhập ngoài lãi giảm nhẹ mặc dù các dòng thu nhập khác vẫn tăng tốt. Cụ thể:

  • Lãi thuần hoạt động dịch vụ tăng 24,5% so với cùng kỳ đạt 121 tỷ đồng;
  • Lãi thuần HĐ kinh doanh ngoại hối giảm nhẹ 5,2% so với cùng kỳ còn 146 tỷ đồng;
  • Lãi thuần từ mua bán chứng khoán đầu tư và kinh doanh giảm 9,7% so với cùng kỳ xuống 461 tỷ đồng;
  • Thu nhập khác tăng 41,3% so với cùng kỳ đạt 121 tỷ đồng và 50% thu nhập này là từ thu hồi nợ (69 tỷ đồng, tăng 4,66% so với cùng kỳ); trong khi đó
  • Thu nhập từ góp vốn/mua cổ phần giảm 47,2% so với cùng kỳ và đạt 102 tỷ đồng, là cổ tức tiền mặt mà HDB được nhận từ sở hữu gần 5% cổ phần tại VJC.

Trong khi đó, HD Saison cũng ghi nhận lãi thuần hoạt động dịch vụ rất tốt nhờ hoa hồng bảo hiểm từ các sản phẩm bảo hiểm tín dụng áp dụng cho tất cả các khoản vay mới trong năm nay. Do đó, tổng thu nhập hoạt động hợp nhất đạt 6.782 tỷ đồng (tăng 21,12% so với cùng kỳ).

Chi phí hoạt động hợp nhất tăng 10,96% so với cùng kỳ lên 3.257 tỷ đồng, với;

  • Chi phí hoạt động của HDBank tăng 20,2% so với cùng kỳ lên 1.864 tỷ đồng, và
  • Chi phí hoạt động của HD Saison tăng 1,07% so với cùng kỳ lên 1.386 tỷ đồng.

Ở Ngân hàng mẹ 

  • Chi phí liên quan đến nhân viên tăng 35,3% so với cùng kỳ lên 913 tỷ đồng do tổng số nhân viên tăng 15,4% so với cùng kỳ lên 5.980 người. Lương bình quân/tháng/người tăng từ 15 triệu đồng lên 17,8 triệu đồng.
  • Chi phí tài sản tăng 12,5% so với cùng kỳ lên 332 tỷ đồng. HDB đã mở thêm 43 chi nhánh/phòng giao dịch mới trong 12 tháng qua (tăng 16,3% so với cùng kỳ). Tuy nhiên, phần lớn các chi nhánh mới này là ở các tỉnh lẻ và khu vực ngoại thành với chi phí cố định thấp hơn, nhờ vậy chi phí tài sản chỉ tăng nhẹ;
  • Chi phí quản lý tăng 17,6% so với cùng kỳ lên 541 tỷ đồng.
  • Phí bảo hiểm tiền gửi tăng 5,0% so với cùng kỳ lên 84,95 tỷ đồng do tiền gửi khách hàng tăng 10,1% so với cùng kỳ.

Ở HD Saison;

  • Chi phí hoạt động gần như không tăng, là 1.386 tỷ đồng với số lượng nhân viên giảm 0,36% so với cùng kỳ xuống 7.882 nhân viên.

Hệ số CIR hợp nhất là 48% (cuối Q3/2017 là 52,4%). Cụ thể –

  • Hệ số CIR của Ngân hàng mẹ là 44% (năm ngoái là 43%); trong khi đó
  • Hệ số CIR của HD Saison là 54,0% (năm ngoái là 64,0%).

Chi phí dự phòng hợp nhất giảm 14,7% so với cùng kỳ xuống 641 tỷ đồng.

  • Chi phí dự phòng của HDB giảm mạnh 69,8% so với cùng kỳ xuống còn 98 tỷ đồng.
  • HD Saison kiểm soát chi phí dự phòng ở mức 543 tỷ đồng (tăng 27,3% so với cùng kỳ).

Cụ thể ở HDB 

  • Trong 9 tháng đầu năm, HDB chỉ trích lập 9,6 tỷ đồng dự phòng cụ thể và 134 tỷ đồng dự phòng chung. Tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ở mức rất thấp, chỉ là 1,07% (cuối năm 2017 là 1,10% với 141 tỷ đồng nợ xấu hình thành mới). Nợ nhóm 2 chỉ chiếm 0,98% tổng dư nợ (cuối năm 2017 là 1,31%) và dư nợ nhóm này giảm 151 tỷ đồng. Như vậy, HDBank hầu như không phát sinh nợ xấu mới trong 9 tháng đầu năm nay, dù cho vay khách hàng tăng 16,5% so với đầu năm. Xu hướng này khá trái ngược với ở các ngân hàng khác. Có vẻ như đây là kết quả từ thay đổi cơ cấu cho vay với trọng điểm là vào cho vay chuỗi giá trị nông nghiệp và chế biến thức ăn thay vì cho vay tiêu dùng và mua nhà.
  • Mệnh giá trái phiếu VAMC mà HDB nắm giữ là 1.508 tỷ đồng với dự phòng lũy kế là 791 tỷ đồng. Do đó, giá trị trái phiếu VAMC thuần tương đương 0,65% tổng dư nợ. Tuy nhiên, trong 9 tháng đầu năm, HDB không trích lập dự phòng cho số trái phiếu VAMC còn lại (khoảng 300 tỷ đồng nếu Ngân hàng không thu hồi lại). HDB dự kiến sẽ xóa toàn bộ trái phiếu VAMC trong năm sau.
  • Hệ số LLR là 85% vào cuối Q3/2018 (cuối năm 2017 là 82,5%).

Đối với HD Saison

  • Chi phí tín dụng ổn định ở mức 7,5% (năm ngoái là 6,8%). Trong khi đó, chi phí tín dụng của FE Credit, công ty tài dùng lớn nhất ở Việt Nam là 12,2% trong 9 tháng đầu năm. Như vậy, chi phí tín dụng của HD Saison thấp hơn nhiều nhờ chính sách cho vay thận trọng hơn.
  • Tỷ lệ nợ xấu ở HD Saison là 6,24% (cuối năm ngoái là 5,74%). Nợ nhóm 2 tăng nhẹ từ 6,03% lên 6,48%. Như vậy dư nợ nhóm 2- 5 của HD Saison đã tăng thêm 195 tỷ đồng.
  • Hệ số LLR là 52% (năm ngoái là 56%) và của FE Credit là 40%.

Theo đó, LNTT hợp nhất là 2.883 tỷ đồng (tăng 50,9% so với cùng kỳ) và hoàn thành 73% kế hoạch cả năm của Ngân hàng, là 3.933 tỷ đồng trước M&A. Chỉ số CAR theo Basel 1 là 13,6% vào cuối năm Q3/2018.

Do NHNN đã chấp thuận về mặt nguyên tắc kế hoạch sáp nhập giữa HDBank và PGBank vào ngày 10/9/2018 nên HSC đã điều chỉnh tăng dự báo LNTT từ 3.959 tỷ đồng (tăng trưởng 63,8%) lên 4.161 tỷ đồng (tăng trưởng 72,2%) với giả thiết là HDB và PGB có thể hoàn thành thương vụ sáp nhập trong năm nay. Nếu không kịp, chúng tôi sẽ giữ nguyên dự báo về LNTT của HDB là 3.959 tỷ đồng. Dự báo mới của chúng tôi đã bao gồm cả đóng góp từ PGBank (LNTT của PGBank trong 6 tháng đầu năm là 98 tỷ đồng). Chúng tôi kỳ vọng tăng trưởng tín dụng của HDB sẽ cao hơn sau khi sáp nhập. Hiện chúng tôi vẫn sử dụng các số liệu so sánh so với cùng kỳ là số liệu của HDBank trước khi sáp nhập (không bao gồm PGBank). Giả định mới của chúng tôi như sau:

  1. Chúng tôi kỳ vọng cho vay khách hàng của Ngân hàng mẹ HDB là 25% (đạt 118 nghìn tỷ đồng) và của PGB là 11,6% (đạt 23 nghìn tỷ đồng). Chúng tôi giảm dự báo cho vay khách hàng của HDSaison từ 15% xuống còn 10% đạt 10,39 nghìn tỷ đồng khi quan sát thấy mức tăng trưởng chậm trong 9 tháng đầu năm.
  2. Chúng tôi cũng dự báo huy động khách hàng tăng trưởng 10,4% đạt 158 nghìn tỷ đồng. Trong đó HDB tăng trưởng 10% đạt 132 nghìn tỷ đồng và PGB tăng trưởng 12,6% đạt 25,75 nghìn tỷ đồng. Toàn bộ tăng trưởng huy động của HDB xuất phát từ Ngân hàng mẹ HDBank.
  3. Theo đó hệ số LDR thuần sau khi sáp nhập sẽ là 90,0% (dự báo trước đây của chúng tôi là 84,9% và của năm 2017 là 78,8%).
  4. Chúng tôi cũng dự báo tỷ lệ NIM sẽ tăng lên 4,51% (năm 2017 là 4,06%). Trong đó tỷ lệ NIM của Ngân hàng mẹ HDBank sẽ tăng lên 3,09% từ 2,43% trong năm 2017. Tỷ lệ NIM của HDSaison sẽ giảm nhẹ xuống còn 28% trong năm 2018 sau khi hoàn tất đưa các sản phẩm mới như đã công bố ra thị trường.
  5. Theo đó thu nhập lãi thuần hợp nhất tăng trưởng 42,3% đạt 9.071 tỷ đồng (dự báo ban đầu của chúng tôi tăng trưởng 32,1% đạt 8.421 tỷ đồng).
  6. Chúng tôi điều chỉnh dự báo ban đầu cho thu nhập ngoài lãi hợp nhất từ mức tăng trưởng 34% (đạt 1.544 tỷ đồng) lên 1.818 tỷ đồng, chủ yếu nhờ gần 300 tỷ đồng thu nhập ngoài lãi do PGBank đóng góp.
  7. Chúng tôi giả định tổng chi phí hoạt động tăng 23,5% lên 5.056 tỷ đồng, trong đó PGBank đóng góp 513 tỷ đồng chi phí.
  8. Theo đó hệ số CIR hợp nhất sẽ giảm xuống còn 46,4% trong năm 2018 từ mức 54,4% trong năm 2017.
  9. Chúng tôi điều chỉnh tăng dự báo chi phí dự phòng ban đầu là 1.302 tỷ đồng (tăng 28,1%) lên 1.672 tỷ đồng (tăng 64,5%). Trong đó PGBank đóng góp 405 tỷ đồng chi phí dự phòng.
  10. Theo đó chúng tôi nâng dự báo LNTT hợp nhất từ 3.946 tỷ đồng (tăng trưởng 63,3%) lên 4.161 tỷ đồng (tăng trưởng 72,2%).
  11. HDBank dự kiến phát hành cổ phiếu ESOP (khoảng 2% vốn điều lệ tại thời điểm cuối năm 2017). Kế hoạch này đã được thông qua tại ĐHCĐTN gần đây nhưng vẫn chưa được thực hiện trong 9 tháng đầu năm 2018.

Theo đó, chúng tôi ước tính BVPS sau khi sáp nhập là 15.852đ (sau khi mua lại cổ phiếu quỹ theo phương án trong đề án M&A). EPS là 2.950đ. ROAE là 19% còn ROAA là 1,55% (so với 20% và 1,6% trong dự báo ban đầu). Tại thị giá hiện tại, P/B dự phóng là 2,07 lần và P/E là 13,3 lần.

Cho năm 2019, HSC dự báo LNTT hợp nhất tăng trưởng 47,1% đạt 6.120 tỷ đồng – Giả định chính của chúng tôi cho HDB sau khi sáp nhập như sau:

  1. Chúng tôi dự báo cho vay khách hàng tăng trưởng 20% so với năm 2018 và đạt 183 nghìn tỷ đồng. Trong đó, cho vay khách hàng của HDB tăng trưởng 20% đạt 171 nghìn tỷ đồng và của HDSaison tăng trưởng 20% đạt 12,47 nghìn tỷ đồng.
  2. Chúng tôi dự báo tiền gửi khách hàng tăng trưởng 17% đạt 185 nghìn tỷ đồng và hoàn toàn là từ HDBank.
  3. Do đó, hệ số LDR thuần của HDB dự báo tăng lên 92,4% từ 90% trong năm 2018.
  4. Chúng tôi dự báo tỷ lệ NIM là 5,13% từ mức 4,51% năm 2018 chủ yếu nhờ tỷ lệ NIM tại HDBank tăng. Trong khi đó, chúng tôi dự báo tỷ lệ NIM tại HDSaison sẽ giảm nhẹ xuống 27% từ 28% trong năm 2018.
  5. Do đó, chúng tôi dự báo thu nhập lãi thuần tăng trưởng 29,1% đạt 11.714 tỷ đồng. Trong đó, thu nhập lãi thuần của HDBank tăng trưởng 37,5% đạt 8.109 tỷ đồng và của HDSaison tăng trưởng 13,5% đạt 3.605 tỷ đồng.
  6. Chúng tôi dự báo tổng thu nhập ngoài lãi tăng trưởng chỉ 24,4% đạt 2.262 tỷ đồng. Cả HDBank và HDSaison đều đạt tăng trưởng mạnh lãi thuần hoạt động dịch vụ. Tuy nhiên, thu nhập từ kinh doanh trái phiếu sẽ đóng góp không đáng kể cho HDBank như trong năm 2018. Bù lại, Ngân hàng sẽ triển khai các dịch vụ bảo lãnh phát hành và phân phối trái phiếu doanh nghiệp cho các khách hàng lớn (chúng tôi giả định đóng góp từ dòng thu nhập này trong năm 2019 là 705 tỷ đồng so với 620 tỷ đồng trong năm 2018).
  7. Chi phí hoạt động tăng vừa phải 11,5% so với năm 2018 lên 5.638 tỷ đồng. Trong đó, chi phí hoạt động của HDB sẽ tăng 10,5% lên 3.268 tỷ đồng và của HDSaison tăng 13% lên 2.371 tỷ đồng.
  8. Do đó, hệ số CIR là 41,5% (năm 2018 là 46,4%). Đối với HDBank, hệ số CIR là 33,6% (năm 2018 là 39,4%) và đối với HDSaison, hệ số CIR là 58,2% (năm 2018 là 58,5%).
  9. Chúng tôi dự báo chi phí dự phòng tăng 32,6% lên 2.217 tỷ đồng. HDBank sẽ trích lập 1.395 tỷ đồng chi phí dự phòng (tăng 41,4%), chủ yếu do phần trái phiếu VAMC vẫn cao sau khi sáp nhập PGBank. Trong khi đó HDSaison trích lập 821 tỷ đồng chi phí dự phòng (tăng 20%).
  10. Theo đó, LNTT hợp nhất dự báo đạt 6.120 tỷ đồng (tăng trưởng 47,1%). HDB sẽ đóng góp 5.459 tỷ đồng (tăng trưởng 53,36 %; bao gồm cả cổ tức từ HDSaison) và HDSaison đóng góp 881 tỷ đồng (tăng trưởng 10%).

Theo đó, BVPS của HDB sẽ là 18.658đ với EPS là 3.829đ. ROAE là 24% và ROAA là 2%. Ở thị giá hiện tại, cổ phiếu đang giao dịch với P/B dự phóng năm 2019 là 1,76 lần và P/E dự phóng là 8,8 lần.

Quan điểm đầu tư – Chúng tôi giữ đánh giá Khả quan đối với Cổ phiếu HDBChúng tôi ước tính giá trị hợp lý của cổ phiếu trong năm 2018 là 39.700đ (P/B dự phóng 2018 là 2,5 lần). Định giá của chúng tôi dựa trên P/B hiện tại bình quân ngành là 2,0 lần. Chúng tôi cho rằng HDBank xứng đáng với mức định giá cao hơn bình quân nhờ triển vọng đầy hứa hẹn của mảng khách hàng cá nhân trong khi đó Ngân hàng cũng rất thành công trong kiểm soát chất lượng tài sản với tỷ lệ nợ xấu và chi phí dự phòng thấp.

Nguồn: HSC

BÌNH LUẬN()

CÁC TIN LIÊN QUAN

Đối tác