DANH MỤC

Mobile / Fb / Zalo: 0912 842 224 | 0982 842 224

Cập nhật cổ phiếu CTG – Kém khả quan

Lượt xem: 792 - Ngày:
Chia sẻ

Nhận định KQKD – CTG (Cổ phiếu CTG) báo LNTT Q4 lỗ 853 tỷ đồng, và LNTT cả năm 2018 đạt 6.742 tỷ đồng (giảm 26,8% so với năm 2017). Kết quả này sát với kế hoạch điều chỉnh của Ngân hàng gần đây.

Đồ thị cổ phiếu CTG phiên giao dịch ngày 26/02/2019. Nguồn: AmiBrokerĐồ thị cổ phiếu CTG phiên giao dịch ngày 26/02/2019. Nguồn: AmiBroker

Kết luận nhanh – Tiếp tục đánh giá Kém khả quan. Chúng tôi ước tính giá trị hợp lý của cổ phiếu là 20.700đ, tương đương P/B hiện tại là 1,15 lần.

Tóm tắt

–     Tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng huy động giảm tốc mạnh, lần lượt đạt 7,1% và 12,5% do hệ số CAR thấp và Ngân hàng cơ cấu lại các khoản cho vay.

–     Tỷ lệ NIM giảm mạnh 0,7% xuống 2,09% do thoái lãi dự thu lớn, là 6.519 tỷ đồng.

–     Thu nhập lãi thuần giảm 16,8% so với năm 2017, là 22.519 tỷ đồng, trong khi đó tổng thu nhập ngoài lãi chỉ tăng 12,3% đạt 6.227 tỷ đồng.

–     Tỷ lệ nợ xấu tăng lên 1,56%, xuất hiện 13.247 tỷ đồng trái phiếu VAMC và lãi dự thu giảm 52,5%, cho thấy CTG đã quyết liệt xử lý các vấn đề nợ xấu tồn đọng.

–     Hệ số CAR thấp và hạn chế trong các phương án tăng vốn là những vấn đề chính tại CTG. Thiếu động lực hỗ trợ cổ phiếu trong trung hạn, ngoài khả năng ngân hàng sẽ tăng vốn.

–     Cho năm 2019, HSC dự báo LNTT sẽ bật tăng trở lại và đạt 9.435 tỷ đồng (tăng trưởng 39,9%) từ mức thấp của năm 2018. Tuy nhiên, các hệ số về hiệu quả hoạt động vẫn thấp hơn so với các ngân hàng khác.

Tăng trưởng tín dụng và huy động – giảm tốc mạnh với hệ số CAR thấp

Cho vay khách hàng chỉ tăng 8,9% đạt 864,9 nghìn tỷ đồng, nhưng giảm 3,3% so với quý liền trước trong Q4. Tổng tín dụng (bao gồm cả trái phiếu doanh nghiệp) tăng trưởng thấp hơn và chỉ đạt 7,1%.

Cơ cấu cho vay theo kỳ hạn như sau.

  • Nợ ngắn hạn tăng 8,6% so với năm 2017 (giảm 5,0% so với quý liền trước) đạt 487,6 nghìn tỷ đồng (tương đương 56,4% tổng dư nợ trong khi cuối năm ngoái là 56,8%).
  • Trong khi đó cho vay trung và dài hạn tăng 10,4% so với năm 2017 đạt 377,3 nghìn tỷ đồng (tương đương 43,6% tổng dư nợ trong khi cuối năm ngoài là 43,2%).

Chúng tôi lưu ý rằng phần lớn suy giảm cho vay trong Q4 là cho vay ngắn hạn. Trên BCTC chưa kiểm toán của Ngân hàng, không có thông tin cụ thể về cơ cấu cho vay theo khách hàng và theo ngành nghề.

Tiền gửi khách hàng tăng trưởng 9,7% nhưng tổng tiền gửi (gồm cả giấy tờ có giá) tăng mạnh hơn 12,5%. Giấy tờ có giá tăng hơn gấp đôi trong năm 2018 (tăng 105,4%), trong đó hơn 4.000 tỷ đồng là trái phiếu thứ cấp dài hạn phát hành mới.

Cơ cấu tiền gửi theo kỳ hạn như sau.

  • Tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi khác tăng 8,5% đạt 131,2 nghìn tỷ đồng.
  • Tiền gửi có kỳ hạn tăng 9,9% đạt 696,6 nghìn tỷ đồng.

Do đó hệ số CASA giảm nhẹ xuống 15,9% (cuối năm 2017 là 16,1%).

Hệ số LDR thuần giảm xuống 104,7% từ 105,0% vào cuối năm 2017, trong khi đó hệ số LDR điều chỉnh cũng giảm xuống 103,4% từ 108,6% vào cuối năm 2017, nhưng vẫn cao hơn so với các ngân hàng khác.

Lợi suất: Tỷ lệ NIM giảm mạnh 0,7% xuống 2,09% do thoái một khoản lớn lãi dự thu

Về phía các tài sản sinh lãi, lợi suất gộp tăng 0,12% lên 6,87%, trong khi đó tổng tài sản sinh lãi tăng 6,6% so với năm 2017. Cơ cấu tài sản sinh lãi có sự thay đổi nhẹ, cụ thể như sau.

–     Cho vay khách hàng tăng 9,4% so với năm 2017 (đóng góp 78,5% tổng tài sản sinh lãi, so với mức 76,5% vào cuối năm 2017).

–     Tài sản liên ngân hàng tăng 21,4% so với năm 2017 (đóng góp 11,8% tổng tài sản sinh lãi, so với mức 10,4% vào cuối năm 2017).

–     Đầu tư trái phiếu giảm 21,4% so với năm 2017 (đóng góp 9,7% tổng tài sản sinh lãi, so với mức 13,1% vào cuối năm 2017).

Cơ cấu lợi suất gộp như sau.

–     Lợi suất cho vay tăng 0,35% lên 7,39%. Chúng tôi cho rằng sự cải thiện trong lợi suất cho vay là nhờ tăng trưởng cho vay khách hàng cá nhân với tốc độ lớn hơn so so với cho vay những nhóm khách hàng khác và đây là xu hướng chung duy trì trong những năm gần đây. Tuy nhiên, chúng tôi đợi BCTC kiểm toán được công bố để xác nhận điều này.

–     Trong khi đó lợi suất cho vay liên ngân hàng giảm 0,26% xuống 2,20%.

–     Lợi suất gộp từ đầu tư trái phiếu giảm 0,97% xuống 7,11%. Trong khi chúng tôi nhận thấy rằng lợi suất trên danh mục trái phiếu của CTG cao hơn so với các ngân hàng khác nhờ cơ cấu danh mục gồm TPCP chiếm 42,4% và 58,2% là trái phiếu các tổ chức tín dụng và trái phiếu doanh nghiệp. Một số ngân hàng khác, với tỷ trọng TPCP trên danh mục lớn hơn, như VCB (70-80%) hay MBB (60-70%) thì lợi suất gộp trên danh mục trái phiếu thấp hơn, lần lượt là 4,81% và 6,1%. Chúng tôi cho rằng cho hai nguyên nhân chính tác động lợi suất trái phiếu giảm ở CTG, gồm: (1) lợi suất trên danh mục trái phiếu giảm ở hầu hết các ngân hàng, sau khi đã bán chốt lời số trái phiếu có lợi suất cao hơn trong 6 tháng cuối năm 2017 và 6 tháng đầu năm 2018 và tái đầu tư vào những trái phiếu có lợi suất thấp hơn, và (2) xấp xỉ 13.400 tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp phát sinh vào cuối năm 2018 là trái phiếu VAMC (chiếm 12,6% tổng danh mục trái phiếu), và lợi suất của số trái phiếu đặc biệt này là 0%.

Về cơ cấu huy động, tổng vốn huy động chịu lãi tăng 15,3% so với năm 2017 và chi phí huy động tăng 0,7% lên 5,16%.

Cơ cấu vốn huy động có một số thay đổi như sau.

–     Tiền gửi và vay liên ngân hàng giảm 3,7% so với năm 2017 (tương đương 10,5% tổng vốn huy động so với mức 12,6% vào cuối năm 2017).

–     Giấy tờ có giá tăng 105,2%, nhưng tỷ trọng trong tổng vốn huy động vẫn ở mức thấp, là 4,4% (cuối năm 2017 là 2,5%).

–     Tiền gửi khách hàng cũng tăng 9,7%, tương đương 78,5% tổng vốn huy động và giảm so với mức 82,5% vào cuối năm 2017.

Tổng chi phí huy động tăng mạnh 0,7% do phát sinh 6.519 tỷ đồng chi phí được hạch toán là chi phí tín dụng khác và đây là khoản thoái lãi dự thu. Do CTG chuyển hạng một số khoản vay Nhóm 1 xuống các nhóm vay khác trong Q4, các khoản thu nhập lãi dự thu đã được tích lũy trong một khoản thời gian dài đã bị thoái. Chúng tôi không có số liệu chính xác về giá trị các khoản vay được phân loại lại do Ngân hàng không thuyết minh cụ thể trên BCTC chưa kiểm toán. Tuy nhiên, như trong nhiều báo cáo trước đây, chúng tôi đã bày tỏ sự lo ngại về mức lãi dự thu lớn ở CTG (chiếm 1,37% tổng tài sản sinh lãi vào cuối Q3/2018) và chúng tôi cho rằng phần lớn các khoản vay này sẽ cần được trích lập dự phòng. Chúng tôi phân tích kỹ hơn về lãi dự thu ở mục chất lượng tài sản.

Bên cạnh đó, cơ cấu chi phí huy động như sau.

–     Lãi suất tiền gửi tăng 0,11% lên 4,68%.

–     Lãi suất vay liên ngân hàng và vay khác giảm 0,47% xuống 2,12%.

–     Chi phí huy động bình quân đối với giấy tờ có giá giảm 0,44% xuống 6,79%.

Kết quả lợi nhuận

Thu nhập lãi thuần giảm 16,8% so với năm 2017 xuống 22.519 tỷ đồng, do chi phí tín dụng tăng mạnh làm tỷ lệ NIM giảm 0,7%, đồng thời tổng tài sản sinh lãi chỉ tăng khiêm tốn 6,6%.

Tổng thu nhập ngoài lãi chỉ tăng trưởng 12,3% đạt 6.227 tỷ đồng, với cơ cấu các nguồn thu nhập ngoài lãi như sau.

–     Lãi thuần hoạt động dịch vụ tăng trưởng mạnh đạt 2.770 tỷ đồng (tăng trưởng 49,3%).

–     Lãi thuần HĐ kinh doanh ngoại hối không đổi và đạt 709,8 tỷ đồng.

–     Lãi thuần mua bán chứng khoán kinh doanh và đầu tư tăng trưởng mạnh, đạt 503,5 tỷ đồng (tăng trưởng 106,5%).

–     Thu nhập khác giảm nhẹ còn 1.876,5 tỷ đồng (giảm 5,4% so với năm 2017).

–     Lợi nhuận từ từ góp vốn, đầu tư dài hạn đạt 367,3 tỷ đồng (giảm 50,6% so với năm 2017) do CTG đã ghi nhận khoản lợi nhuận không thường xuyên từ bán 50% cổ phần tại Vietin Aviva Life Insurance cho đối tác trong năm 2017.

Theo đó, tổng thu nhập hoạt động đạt 28.747 tỷ đồng (giảm 11,9% so với năm 2017), trong đó 78,3% là từ thu nhập lãi thuần và 21,7% là từ các nguồn thu nhập ngoài lãi.

Chi phí hoạt động, sau nỗ lực cắt giảm để cứu vẫn lợi nhuận, đã giảm 5,4% so với năm 2017 xuống 14.257 tỷ đồng, trong đó chi phí nhân viên giảm 9,2% xuống 7.517 tỷ đồng (trong khi đó số lượng nhân viên tăng 1,7%). Chi phí nhân viên chiếm 52,7% tổng chi phí hoạt động. Các chi phí lớn khác, gồm chi phí quản lý và chi phí liên quan đến tài sản cũng giảm.

Hệ số CIR vẫn tăng lên 49,6% (năm 2017 là 46,2%). Bên cạnh đó, do các NHTMCP có vốn nhà nước thường trích một phần lớn LNST cho quỹ khen thường và phúc lợi như trong nhiều năm gần đây (lên tới 25% LNST, tương đương 3 tháng lương nhân viên theo quy định của Bộ Tài chính), hệ số CIR thực tế có thể còn cao hơn, là khoảng 53,4% trong năm 2918 (năm 2017 là 50,5%).

Trích lập dự phòng và chất lượng tài sản: tỷ lệ nợ xấu tăng, phát sinh trái phiếu VAMC mới, các khoản vay được phân loại lại và lãi dự thu giảm cho thấy CTG đã quyết liệt xử lý các vấn đề nợ xấu tồn đọng

Bản chất của thu nhập lãi dự thu – Thu nhập lãi có thể chia làm hai phần: lãi đã nhận và lãi dự thu. Lãi dự thu là phần thu nhập lãi thuộc về ngân hàng nhưng chưa nhận được vào thời điểm hạch toán. Lãi dự thu đồng thời được ghi nhận là một phần thu nhập lãi trên Báo cáo KQKD và cũng được ghi nhận là tài sản trên Bảng cân đối.

Lãi dự thu có thể đến từ ba nguồn trong tổng tài sản sinh lãi: nợ Nhóm 1, trái phiếu nắm giữ, và cho vay liên ngân hàng. Do số dư cho vay liên ngân hàng thường không lớn và ngắn hạn, nên lãi dự thu liên ngân hàng cũng không đáng kể. Tuy nhiên, có một vài trường hợp dẫn đến lãi dự thu lớn như sau.

–     Khi tỷ trọng trái phiếu nắm giữ trong tổng tài sản sinh lãi lớn, do lãi trên trái phiếu thường được chi trả một lần hoặc hai lần mỗi năm, do đó thu nhập lãi được tích lũy trong một đến ba quý trước đó.

–     Các khoản cho vay đầu tư cơ sở hạ tầng, do các khoản vay này thường có thời gian ân hạn cho trả lãi kéo dài (lên tới 2-3 năm) trước khi khoản lãi đầu tiên đến hạn phải trả.

–     Gia hạn lại khoản vay – Theo Nghị định 780, một số khoản cho vay có thể được gia hạn lại, với thời gian trả lãi kéo dài, mà không ảnh hưởng đến việc phân loại nợ Nhóm 1. Phần lãi khi đó là lãi dự thu như thông thường nhưng không phải trả thường xuyên, do đó dư lãi dự thu tích lũy trên Bảng cân đối tăng dần theo thời gian.

–     Các khoản nợ xấu, nợ nghi ngờ nhưng chưa được phân loại lại – Trong trường hợp các khoản vay không nhận trả lãi thường xuyên và trong trường hợp ngân hàng chưa chính thức sắp xếp lại hoặc phân loại lại khoản vay vì lý do nào đó, tình trạng này cũng sẽ dẫn đến dư lãi dự thu tăng dần theo thời gian.

Ở trường hợp của CTG, dư lãi dự thu cao có thể là do hầu hết hoặc tất cả các nguyên nhân kể trên.

Phân loại lại các nhóm nợ và số dư lãi dự thu trở về mức thông thường – Như Chủ tịch CTG đã đề cập sau khi BCTC Q4 được công bố, trong quý Q4, CTG đã tiến hành phân loại lại và hạ nhóm nợ các khoản vay từ một số khách hàng, dẫn đến thoái lãi dự thu lớn và ghi nhận lỗ. Cụ thể như sau.

–     Trên báo cáo KQKD: thoái lãi dự thu được hạch toán là “chi phí tín dụng khác”, là 6.514 tỷ đồng.

–     Trê bảng cân đối kế toán: số dư lãi dự thu là 6.905 tỷ đồng, giảm 7.618 đồng so với cuối năm 2017. Do đó, tỷ lệ lãi dự thu/tổng tài sản sinh lãi giảm xuống 0,63% (so với mức 1,41% vào cuối năm 2017). Đây là mức tương đương, thậm chí thấp hơn so với các ngân hàng khác.

Xuất hiện trái phiếu VAMC mới – Chúng tôi lưu ý thấy trái phiếu doanh nghiệp trong danh mục trái phiếu nắm giư đến ngày đáo hạn tăng thêm 13.427 tỷ đồng, và dự phòng cho số trái phiếu này là 2.230 tỷ đồng. Mặc dù không có thuyết minh cụ thể về số trái phiếu này, chúng tôi cho rằng khả năng lớn đây là trái phiếu VAMC mới (CTG đã tất toán và xóa trái phiếu VAMC nắm giữ trước đó vào cuối tháng 6/2018).

Tỷ lệ nợ xấu trên báo cáo là 1,56% so với mức 1,14% vào cuối năm 2017, sau khi xóa một phần nhỏ nợ xấu, là 255 tỷ đồng (tương đương chỉ 0,029% dư nợ). Số dư nợ xấu tăng 50% so với năm 2017 lên 12.517 tỷ đồng và Nợ xấu mới hình thành mới là 4.761 tỷ đồng, chủ yếu là nợ Nhóm 5.

–     Nợ Nhóm 2 chiếm 0,6% dư nợ (tăng 48,4% so với năm 2017 lên 5.383 tỷ đồng).

–     Nợ Nhóm 3 chiếm 0,25% dư nợ (tăng 71,8% so với năm 2017 lên 2.136 tỷ đồng).

–     Nợ Nhóm 4 chiếm 0,21% dư nợ (giảm 25,0% so với năm 2017 còn 1.912 tỷ đồng).

–     Nợ Nhóm 5 chiếm 1,09% dư nợ (tăng 81,5% so với năm 2017 lên 9.470 tỷ đồng).

Tỷ lệ nợ xấu tổng thể  (bao gồm trái phiếu VAMC chưa trích lập dự phòng) là 2,82% và hệ số LLR đối với cho vay khách hàng là 96,2% (cuối năm 2017 là 92,1%).

Chi phí dự phòng giảm 7,1% so với năm 2017 xuống 7.748 tỷ đồng, gồm 4.975 tỷ đồng dự phòng cho vay khách hàng (824 tỷ đồng là dự phòng chung và 4.133 tỷ đồng là dự phòng cụ thể) và khoảng 2.791 tỷ đồng là dự phòng trái phiếu VAMC. Trong đó, 561 tỷ đồng là dự phòng cho số trái phiếu VAMC cũ đã xóa trong Q2/2018 và phần còn lại là 2.230 tỷ đồng dự phòng cho trái phiếu VAMC mới hoán đổi trong Q4.

Dự báo lợi nhuận năm 2019

Cho năm 2019, HSC dự báo LNTT tăng mạnh trở lại đạt 9.435 tỷ đồng (tăng trưởng 39,9%), dựa trên những giả định sau.

  1. Chúng tôi dự báo tăng trưởng tín dụng đạt 8,0% và tăng trưởng tiền gửi khách hàng đạt 10,0%.
  2. Tỷ lệ NIM dự báo tăng 0,37% lên 2,48% trong năm 2019.
  3. Chúng tôi dự báo thu nhập lãi thuần tăng trưởng 26,4% đạt 18.456 tỷ đồng trong khi đó thu nhập ngoài lãi tăng trưởng 15,4% đạt 7.168 tỷ đồng.
  4. Chúng tôi ước tính chi phí hoạt động sẽ tăng 14,8% so với năm 2018 lên 16.372 tỷ đồng.
  5. Chi phí dự phòng dự báo tăng 26,9% so với năm 2018 lên 9.834 tỷ đồng. Chúng tôi giả định thời gian trích lập dự phòng cho số trái phiếu VAMC là 5 năm.
  6. Tỷ lệ nợ xấu bao gồm trái phiếu VAMC chưa trích lập dự phòng ước tính là 2,73% (năm 2018 là 2,82%).

Theo đó, chúng tôi dự báo LNTT năm 2019 đạt 9.435 tỷ đồng (tăng trưởng 39,9%), EPS là 1.620đ và BVPS là 19.201đ. ROAA là 0,63% và ROAE là 10,88%, vẫn thấp hơn so với các ngân hàng khác. Cổ phiếu hiện giao dịch với P/E dự phóng 2019 là 13,2 lần và P/B là 1,11 lần.

Định giá – Tiếp tục đánh giá Kém khả quan với giá trị hợp lý là 20.700đ/cp

PB dự phóng của CTG vẫn sẽ thấp hơn so với mức bình quân ngành trong thời gian tới do nhiều nguyên nhân – Cổ phiếu CTG hiện giao dịch với P/B hiện tại là 1,18 lần so với mức bình quân 1,78 lần các cổ phiếu ngân hàng đã niêm yết. Sự chênh lệch về định giá này theo chúng tôi là hợp lý vì những nguyên nhân sau;

  • Khả năng tăng trưởng tín dụng hạn chế do hệ số CAR của CTG vẫn còn thấp so với các ngân hàng khác. Chúng tôi ước tính CTG sẽ cần phải tăng vốn thêm khoảng 20%, tương đương khoảng 7.500 tỷ đồng trong hai năm tới. CTG vẫn có thể tăng vốn cấp 2 nhưng việc này hiện đã trở nên khó khăn hơn. Do đó, Ngân hàng cũng cần tăng vốn cấp 1. Do room đã đầy và tỷ lệ sở hữu nhà nước hiện là 64,46% (đã thấp hơn mức tối thiểu là 65%), đây sẽ là vấn đề khá phức tạp. Quyết định 986 của Thủ tướng chính phủ về chiến lược phát triển ngành ngân hàng đến năm 2025 quy định tỷ lệ sở hữu tối thiểu của nhà nước tại các NHTMCP có vốn nhà nước sẽ là 51% trong giai đoạn 2021-2025 và vẫn là 65% trong thời gian trước đó. Theo đó, CTG sẽ phải hạn chế tăng trưởng tín dụng để giữ được hệ số CAR trong phạm vi cho phép, đặc biệt là khi áp dụng Basel 2 từ đầu năm 2019. Do đó tài sản và tín dụng sẽ chỉ tăng trưởng khoảng 10%, thấp hơn nhiều mức bình quân ngành là 14-16%.
  • Dự phòng cho nợ xấu vẫn ở mức cao – Mặc dù chúng tôi cho rằng CTG đã nỗ lực quyết liệt xử lý nợ xấu, và có vẻ vẻ tỷ lệ nợ xấu gộp 2,82% cùng với tỷ lệ lãi dự thu/tổng tài sản sinh lãi là 0,63% cho thấy bức tranh rõ ràng hơn về chất lượng tài sản của CTG, thì chúng tôi vẫn không thể hoàn toàn chắc chắn gánh vấn đề nợ xấu tồn đọng đã được xử lý triệt để. Dù vậy, với tỷ lệ nợ xấu gộp là 2,82%, áp lực trích lập dự phòng vẫn cao, ít nhất là trong hai năm nữa.
  • Các hệ số quan trọng khác như hệ số LDR cũng cần được điều chỉnh về mức thông thường – Nếu những vấn đề này không được xử lý, tỷ lệ NIM sẽ khó có thể cải thiện.

Với những vấn đề trên, không có nhiều yếu tố hỗ trợ giá cổ phiếu trong trung hạn ngoài khả năng Ngân hàng sẽ tăng vốn. Mặc dù phát hành tăng vốn thường sẽ kéo theo tác động pha loãng, tuy nhiên nếu thị trường kỳ vọng giá phát hành sẽ ở mức cao, khi đó giá cổ phiếu cũng có thể tăng trong tình hình hiện nay. Tuy nhiên, hiện vẫn còn quá sớm để nói đến khả năng này. Do vậy, mức định giá thấp hơn bình quân ngành của cổ phiếu CTG là hợp lý mặc dù cổ phiếu vẫn được NĐT quan tâm nhờ thanh khoản tốt.

Chúng tôi áp dụng phương pháp định giá dòng thu nhập thặng dư và đạt được giá trị hợp lý của cổ phiếu CTG là 20.700đ/cp, tương đương P/B hiện tại là 1,15 lần. Chúng tôi giả định CTG sẽ không trả cổ tức tiền mặt trong năm 2019 và 2020, sau đó chi 35% LNST để trả cổ tức từ năm 2021. ROE dự báo sẽ tăng dần trong 5 năm tới từ 10,9% trong năm 2019 lên 14,0% trong năm 2021 và duy trì ổn định ở mức này. Các giả định khác của chúng tôi gồm:

–     Beta: 1,34

–     Lãi suất phi rủi ro: 3,75%

–     Phần bù rủi ro vốn cổ phần: 10,96% và giảm dần xuống 8,0% từ năm 2023

–     Mức tăng trưởng dài hạn ổn định từ năm 2023: 6%.

Nguồn: HSC

 

BÌNH LUẬN()

CÁC TIN LIÊN QUAN

Đối tác

Gọi ngay
Messenger
Zalo chát
Mở tài khoản
Góp ý