DANH MỤC

Mobile / Zalo / Viber: 0912 842 224

Cập nhật cổ phiếu BID – Ước tính giá trị hợp lý của cổ phiếu là 25.500đ

Lượt xem: 763 - Ngày:
Chia sẻ

Nhận định KQKD – KQKD Q1 của BID ở mức vừa phải. Triển vọng chưa thực sự tích cực. Giá cổ phiếu đã giảm về ngưỡng hỗ trợ dài hạn. Tiếp tục duy trì đánh giá Kém khả quan. BID (Kém khả quan) gần đây đã công bố KQKD hợp nhất Q1/2018 với LNTT tăng 9,16% so với cùng kỳ, đạt 2.485 tỷ đồng. Lợi nhuận Q1 hoàn thành 26,73% kế hoạch cả năm là 9.300 tỷ đồng (tăng trưởng 7,33%) và bằng 25,27% dự báo của HSC cho cả năm là 9.835 tỷ đồng (tăng trưởng 13,5%).

Đồ thị cổ phiếu BID cập nhật ngày 23/05/2018. Nguồn: AmiBroker

Đồ thị cổ phiếu BID cập nhật ngày 23/05/2018. Nguồn: AmiBroker

Tỷ lệ NIM hồi phục đã góp phần giúp KQKD Q1 tăng – KQKD Q1 đạt được dựa trên cho vay khách hàng tăng 1,47% so với đầu năm còn tiền gửi khách hàng tăng 5,85% so với đầu năm. Từ đó hệ số LDR thuần giảm còn 96,56% từ mức 100,72% tại thời điểm cuối năm 2017. Tuy nhiên tỷ lệ NIM cải thiện từ 2,99% lên 3,17%; từ đó giúp thu nhập lãi thuần tăng 34,67% so với cùng kỳ đạt 9.165 tỷ đồng. Tổng thu nhập ngoài lãi tăng gần gấp đôi so với cùng kỳ lên 2.112 tỷ đồng (tăng 95,38% so với cùng kỳ). Trong khi đó chi phí hoạt động giảm 14,78% so với cùng kỳ còn 2.779 tỷ đồng. Chi phí dự phòng đã tăng mạnh 156,07% so với cùng kỳ lên 6.013 tỷ đồng do Ngân hàng đẩy mạnh xử lý tài sản có vấn đề. Tỷ lệ nợ xấu sau khi xử lý là 1,62%.

Cho vay khách hàng tăng nhẹ 1,47% so với đầu năm – đạt 878,75 nghìn tỷ đồng. Cụ thể theo kỳ hạn:

• Cho vay kỳ hạn ngắn tăng 2,97% so với đầu năm đạt 517,38 nghìn tỷ đồng, đóng góp 58,88% vào tổng dư nợ (tại thời điểm cuối năm 2017 là 58,02%).
• Cho vay trung hạn giảm 4,62% so với đầu năm đạt 77,81 nghìn tỷ đồng, đóng góp 8,85% vào tổng dư nợ (tại thời điểm cuối năm 2017 là 9,42%).
• Cho vay kỳ hạn dài tăng nhẹ 0,56% so với đầu năm đạt 283,56 nghìn tỷ đồng, đóng góp 32,27% vào tổng dư nợ (tại thời điểm cuối năm 2017 là 32,56%).

Theo loại tiền:

• Cho vay tiền đồng tăng 1,17% so với đầu năm đạt 781,95 nghìn tỷ đồng, đóng góp 88,98% vào tổng dư nợ (tại thời điểm cuối năm 2017 là 89,25%).
• Cho vay bằng USD tăng 4,01% so với đầu năm đạt 96,79 nghìn tỷ đồng, đóng góp 11,02% vào tổng dư nợ (tại thời điểm cuối năm 2017 là 10,75%).

Hiện vẫn chưa có thông tin về cơ cấu cho vay theo đối tượng khách hàng và ngành nghề cho vay trên BCTC Q1. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng cho vay khách hàng cá nhân và DNNVV vẫn là hai động lực tăng trưởng chính. Và điều này cũng góp phần lý giải cho việc tỷ lệ NIM tăng 0,18% từ 2,99% tại thời điểm cuối 2017 lên 3,17% trong Q1/2018. Tại ĐHCĐTN, BID cũng đã cho biết ý định tập trung vào mảng ngân hàng bán lẻ.

Tiền gửi khách hàng cũng tăng 5,85% so với đầu năm – đạt 910,05 nghìn tỷ đồng.

Theo kỳ hạn:

• Tiền gửi có kỳ hạn tăng 7,89% so với đầu năm đạt 748,64 nghìn tỷ đồng, đóng góp 82,26% vào tổng vốn huy động (tại thời điểm cuối năm 2017 là 80,7%).
• Tiền gửi không kỳ hạn tăng nhẹ 0,75% so với đầu năm đạt 161,41 nghìn tỷ đồng, đóng góp 17,74% vào tổng vốn huy động (tại thời điểm cuối năm 2017 là 19,3%).

Theo loại tiền:

• Tiền gửi bằng tiền đồng tăng 6,59% so với đầu năm đạt 862,54 nghìn tỷ đồng, đóng góp 94,78% vào tổng vốn huy động (tại thời điểm cuối năm 2017 là 94,12%).
• Tiền gửi bằng USD giảm 6,05% so với đầu năm đạt 47,51 nghìn tỷ đồng, đóng góp 5,22% vào tổng vốn huy động (tại thời điểm cuối năm 2017 là 5,88%).

Hệ số LDR thuần giảm từ 100,72% tại thời điểm cuối năm 2017 xuống 96,56%. Hệ số LDR của BID đã cải thiện trong Q1/2018. Dưới đây chúng tôi có so sánh BID với các ngân hàng khác:

• Cho vay khách hàng của BID tăng 1,47% so với đầu năm còn tiền gửi khách hàng tăng 5,85% so với đầu năm.
• Cho vay khách hàng của VCB tăng 6,3% so với đầu năm còn tiền gửi khách hàng tăng 3,2% so với đầu năm (hệ số LDR là 79%).
• Cho vay khách hàng của CTG tăng 4,5% so với đầu năm còn tiền gửi khách hàng tăng 4,8% so với đầu năm (hệ số LDR là 104,7%).

Đây là dấu hiệu nữa cho thấy Ngân hàng có ý định nghiêm túc trong việc đưa các chỉ số an toàn thanh khoản về mức hợp lý. Trong khi đó hệ số CAR thấp hiện là một nhân tố cản trở tăng trưởng tín dụng của BID.

Tỷ lệ NIM tăng 0,18% so với đầu năm và tăng 0,32% so với cùng kỳ lên 3,17% – nhờ lợi suất gộp bình quân tăng 0,28% so với cùng kỳ lên 7,66%. Trong khi đó chi phí huy động chỉ tăng 0,01% lên 4,58%.

Trong cơ cấu tài sản sinh lãi, lợi suất gộp cho vay khách hàng tăng mạnh 0,64% lên 8,37% nhờ tỷ trọng cho vay khách hàng cá nhân tăng. Trong khi đó lợi suất cho vay liên ngân hàng giảm 1,17% xuống còn 2,97%. Lợi suất trái phiếu cũng giảm 0,55% xuống còn 5,96%.

Trong cơ cấu huy động, chi phí huy động tiền gửi khách hàng tăng 0,21% lên 4,81%. Trong khi đó, chi phí vay liên ngân hàng giảm 1,01% xuống còn 2,19%. Chi phí phát hành giấy tờ có giá giảm 0,14% xuống còn 6,66%.

Tổng tài sản sinh lãi tăng 19,32% so với cùng kỳ – lên 1.164 nghìn tỷ đồng. BID đã giảm nhẹ tỷ trọng trái phiếu từ mức đỉnh là 16,3% tại thời điểm tháng 6/2016 xuống còn 14,31% tại thời điểm cuối Q1/2018. Thay vào đó, Ngân hàng nâng tỷ trọng cho vay liên ngân hàng từ 7,55 % lên 10,24%. Cho vay liên ngân hàng chỉ có hệ số rủi ro khi tính hệ số CAR là 20% trong khi cho vay thông thường là 50% -100%. Tỷ trọng cho vay khách hàng cũng giảm. Tỷ trọng trái phiếu trong tài sản sinh lãi giảm là đặc điểm chung của nhiều ngân hàng trong Q1/2018 (các ngân hàng bán trái phiếu khi lợi suất giảm vì tin rằng lợi suất sẽ sớm tăng trở lại).

Thu nhập lãi thuần tăng mạnh 34,67% so với cùng kỳ đạt 9.165 tỷ đồng nhờ tỷ lệ NIM cải thiện và tổng tài sản sinh lãi tăng.

Tổng thu nhập ngoài lãi gần như tăng gấp đôi đạt 2.112 tỷ đồng – với đóng góp lớn từ lãi thuần HĐ dịch vụ, lãi thuần mua bán chứng khoán đầu tư và thu hồi nợ. Cụ thể;

• Lãi thuần hoạt động dịch vụ tăng 29,78% so với cùng kỳ đạt 745 tỷ đồng;
• Lãi thuần hoạt động kinh doanh ngoại hối tăng mạnh 75,37% so với cùng kỳ đạt 214 tỷ đồng;
• Lãi thuần mua bán chứng khoán kinh doanh tăng gấp 4 lần đạt 528 tỷ đồng (tăng 409% so với cùng kỳ) và chủ yếu là từ lợi nhuận đầu tư trái phiếu.
• Thu nhập khác cũng tăng mạnh 184,35% so với cùng kỳ đạt 597 tỷ đồng với đóng góp chính từ thu nhập thu hồi nợ (tăng mạnh 157,38% so với cùng kỳ đạt 660 tỷ đồng).
• Và lãi thuần từ góp vốn, đầu tư dài hạn giảm 68,97% so với cùng kỳ còn 137 tỷ đồng.

Tổng chi phí hoạt động giảm 14,78% so với cùng kỳ xuống 2.779 tỷ đồng – Trong đó, chi phí liên quan đến nhân viên giảm mạnh 26,31% so với cùng kỳ còn 1.407 tỷ đồng. Lương bình quân hàng tháng/nhân viên cũng giảm mạnh từ 25,59 triệu đồng trong Q1 năm ngoái xuống chỉ còn 18,61 triệu đồng trong Q1 năm nay. Ở hầu hết các NHTMCP nhà nước, nhân viên có mức lương cơ bản thấp và có chế độ lương kinh doanh dựa trên KQKD thực tế 3/6 tháng một lần. Do đó, chi phí nhân viên thường khá biến động và có thể tăng mạnh trong Q2. Chi phí tài sản không đổi, là 590 tỷ đồng và các chi phí quản lý khác tăng nhẹ 2,96% so với cùng kỳ lên 586 tỷ đồng.

Hệ số CIR chỉ là 24,65% (năm 2017 là 24,65%) – Chúng tôi dự báo hệ số CIR sẽ tăng trở lại và dao động khoảng 40% cho cả năm nay.

Chi phí dự phòng tăng mạnh 156,07% so với cùng kỳ – lên 6.013 tỷ đồng. Trong đó;

• 215 tỷ đồng chi phí dự phòng chung cho vay khách hàng (giảm 47,95% so với cùng kỳ).
• 7.794 tỷ đồng chi phí dự phòng cụ thể cho vay khách hàng (tăng 60,2% so với cùng kỳ).
• Và chúng tôi ước tính khoảng 2.000 tỷ đồng chi phí dự phòng được phân bổ từ danh mục trái phiếu VAMC. Các ngân hàng có thể hoán đổi lại trái phiếu VAMC và nhận lại nợ xấu cùng tài sản đảm bảo (hiện do VAMC nắm giữ) để thực hiện trích lập hoàn toàn và xóa nợ, hoặc tự xử lý với điều kiện tỷ lệ nợ xấu thấp hơn 3% (sau khi hoán đổi lại).

Ngân hàng đã xóa nợ xấu giá trị tương đương 1% tổng dư nợ – Bên cạnh việc trích lập dự phòng ở mức cao kỷ lục, BID cũng xóa 9.077 tỷ đồng nợ xấu trong Q1 (cùng kỳ năm ngoái Ngân hàng không xóa nợ), tương đương 1,03% tổng dư nợ. Hệ số LLR là 80,68% so với mức 79,28% vào cuối năm 2017. Từ BCTC của BID, chúng tôi thấy rằng Ngân hàng đã trích lập tổng cộng 42.823 tỷ đồng chi phí dự phòng từ năm 2014 đến Q1/2018, tương đương 9% tổng dư nợ năm 2014. Và Ngân hàng cũng xử lý tổng cộng 33.392 tỷ đồng nợ xấu (tương đương 7% tổng dư nợ năm 2014).

Tỷ lệ nợ xấu sau xử lý là 1,62% – so với mức 1,61% vào cuối năm 2017. Nợ mới hình thành chỉ là 259 tỷ đồng trong Q1/2018. Cụ thể:

• Nợ nhóm 3 là 4.766 tỷ đồng (tương đương 0,54% tổng dư nợ).
• Nợ nhóm 4 là 3.544 tỷ đồng (tương đương 0,4% tổng dư nợ).
• Và nợ nhóm 5 là 5.898 tỷ đồng (tương đương 0,67% tổng dư nợ).

Do đó, LNTT Q1/2018 là 2.485 tỷ đồng (tăng 9,16% so với cùng kỳ).

Cho năm 2018, chúng tôi dự báo LNTT tăng trưởng 13,5% đạt 9.835 tỷ đồng. Các giả định đằng sau dự báo của chúng tôi là:

1) Chúng tôi dự báo cho vay khách hàng tăng 16,88% đạt 1.013 nghìn tỷ đồng.
2) Chúng tôi dự báo huy động khách hàng tăng trưởng 20% đạt 1.031 tỷ đồng.
3) Theo đó, hệ số LDR giảm nhẹ xuống 98,2% từ 100,7% trong năm 2017.
4) Chúng tôi dự báo tỷ lệ NIM tăng nhẹ 0,04% lên 3,03% từ 2,99% trong năm 2017. BID vẫn cần tăng cường huy động trung & dài hạn hơn nữa để cải thiện tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung & dài hạn do quy định đối với tỷ lệ này sẽ được thắt chặt hơn trong năm nay. Và do đó tỷ lệ NIM sẽ bị ảnh hưởng dù lợi nhuận tăng.
5) Chúng tôi dự báo thu nhập lãi thuần tăng trưởng 21,28% đạt 37.543 tỷ đồng.
6) Tổng thu nhập ngoài lãi dự báo giảm 10,6% xuống 7.208 tỷ đồng chủ yếu do chúng tôi giả định thu nhập từ thu hồi nợ xấu giảm (từ 3.278 tỷ đồng trong năm 2017 xuống 1.729 tỷ đồng trong năm 2018). Tuy nhiên, dòng thu nhập này thường khá biến động và có thể sẽ đạt cao hơn nhiều so với dự báo.
7) Chúng tôi dự báo tổng chi phí hoạt động tăng 15% lên 17.673 tỷ đồng.
8) Chúng tôi giả định BID sẽ vẫn rất quyết liệt trong công tác trích lập dự phòng trong năm nay. Và chúng tôi dự báo Ngân hàng sẽ trích lập 17.086 tỷ đồng chi phí dự phòng (tăng 15,08%). Trong đó, 13.280 tỷ đồng là dự phòng nợ xấu thông thường (tăng 38,17%) và 3.869 tỷ đồng dự phòng số trái phiếu VAMC hiện còn nắm giữ (giảm 1,44% so với năm 2016).
9) Tiếp đó, chúng tôi giả định tỷ lệ nợ xấu sau xử lý là 1,90%.
10) Và dự báo hệ số CAR là 9,5% sau khi phát hành tăng vốn như đề xuất. Chúng tôi giả định BID sẽ chỉ hoàn thành 1 phương án phát hành và tăng 15% vốn cấp 1 trong năm 2018.

Với những giả định trên, BVPS dự phóng là 16.978đ và EPS là 1.664đ. ROAE là 13,2% và ROAA là 0,6%. Tại thị giá hiện tại là 30.450đ/cp, P/B dự phóng là 1,79 lần và P/E là 18,3 lần.

Nhu cầu tăng vốn cấp thiết – BID đã gặp khó khăn trong tăng vốn cấp 1 trong thời gian qua. Với Basel 2 sắp được áp dụng, việc tăng vốn sẽ không thể trì hoãn hơn nữa do sẽ ảnh hưởng rõ ràng đến tăng trưởng tín dụng. BID hiện đang gia tăng cho vay liên ngân hàng để tạo lợi nhuận và lợi nhuận được hỗ trợ từ dòng thu nhập không thường xuyên như từ thu hồi nợ xấu và lợi nhuận đầu tư trái phiếu. Và Ngân hàng cần tăng thu nhập hoạt động để đẩy nhanh trích lập dự phòng. Tăng vốn sẽ giúp cải thiện hệ CAR và cơ cấu tài sản từ đó đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng. Chúng tôi được biết có một số bên quan tâm sẵn sàng tham gia mua lại vốn của Ngân hàng. Nguyên nhân dẫn đến sự trì hoãn tăng vốn là do giá cổ phiếu tăng mạnh trong 12 tháng qua, dẫn đến thị giá cổ phiếu tăng lên mức rất cao đối với một ngân hàng còn nhiều vấn đề phải xử lý. Do đó, việc giá cổ phiếu giảm gần đây có thể là biến động tích cực nếu giúp thu hút sự quan tâm của NĐT trở lại đối với cổ phiếu.

Kết luận đầu tư – Duy trì đánh giá KÉM KHẢ QUAN. Chúng tôi giữ nguyên ước tính giá trị hợp lý của cổ phiếu là 25.500đ, tương đương P/B dự phóng 2018 là 1,5 lần, thấp hơn thị giá hiện tại 16,2%. Tiềm năng tăng trưởng tổng thu nhập hoạt động là rõ ràng nhưng do các tài sản có vấn đề từ trước để lại, nên tăng trưởng lợi nhuận ròng khó cao do Ngân hàng đẩy mạnh trích lập dự phòng. Do vậy, tăng trưởng lợi nhuận trong mô hình dự báo của chúng tôi kém hơn tăng trưởng tổng thu nhập hoạt động. Ngoài ra, BID vẫn cần nâng đáng kể vốn cấp 1 để chuẩn bị đáp ứng Basel 2 ngay cả sau khi Ngân hàng thành công phát hành tăng vốn trong năm 2018. Do vậy chúng tôi cho rằng rủi ro pha loãng trong tương lai là cao.

Trong khi đó, chúng tôi dự báo tăng trưởng tín dụng và LNTT của BID sẽ thấp hơn mức bình quân các ngân hàng trong ngành do hệ số LDR cao, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung đến dài hạn vẫn cao và dĩ nhiên là do còn tồn đọng nhiều tài sản có vấn đề trên BCTC bao gồm nợ xấu chưa xử lý và giá trị trái phiếu VAMC còn nắm giữ lớn. Giá cổ phiếu giảm trong những tuần gần đây. Tuy nhiên vẫn còn chênh lệch lớn giữa ước tính giá trị hợp lý của chúng tôi và thị giá hiện tại. NĐT trung và dài hạn có thể theo sát tiến độ trích lập dự phòng nợ xấu và tăng vốn mới ở BID trước khi quyết định đầu tư.

Nguồn: Research HSC

BÌNH LUẬN()

CÁC TIN LIÊN QUAN

Đối tác