Sự kiện: Công bố KQKD Q3/2024
ANV công bố KQKD Q3/2024 tích cực, với doanh thu thuần đạt 1.341 tỷ đồng, tăng 22% so với cùng kỳ và lợi nhuận thuần đạt 28 tỷ đồng, tăng mạnh 25,8 lần so với cùng kỳ từ mức nền thấp của Q3/2023. Doanh thu tăng chủ yếu nhờ doanh thu xuất khẩu tăng 22%, trong khi lợi nhuận tăng là nhờ doanh thu tăng và tỷ suất lợi nhuận gộp cải thiện.
Lũy kế 9 tháng đầu năm 2024, doanh thu thuần đạt 3.550 tỷ đồng, tăng 6,7% so với cùng kỳ và lợi nhuận thuần đạt 42 tỷ đồng, không đổi so với 9 tháng đầu năm 2023. Doanh thu thuần đạt được bằng 79% dự báo cho cả năm của HSC và sát với dự báo của chúng tôi. Tuy nhiên, lợi nhuận thuần thấp hơn 80% so với dự báo cho 9 tháng đầu năm 2024 của HSC ở mức 76 tỷ đồng và chỉ hoàn thành 27,7% dự báo cho cả năm của chúng tôi, do chi phí vận chuyển cao hơn dự báo và các khoản lỗ khác ngoài dự kiến. Loại trừ các khoản lỗ khác, lợi nhuận thuần HĐKD thấp hơn 15% so với dự báo cho 9 tháng đầu năm của chúng tôi và hoàn thành 56,2% dự báo cho cả năm của chúng tôi.
Bảng 1: KQKD Q3/2024 & 9 tháng đầu năm 2024, ANV

Sản lượng xuất khẩu tăng nhưng giá bán bình quân phục hồi kém hơn kỳ vọng
Trong Q3/2024, kim ngạch xuất khẩu đạt mức ấn tượng 909 tỷ đồng, tăng 22% so với cùng kỳ, nhờ sản lượng tiêu thụ tăng mạnh. Theo dữ liệu từ Agromonitor, sản lượng xuất khẩu của ANV trong Q3/2024 đạt 17.100 tấn, tăng 24,8% so với cùng kỳ, trong khi giá xuất khẩu bình quân ước tính đạt 1,8 USD/kg, giảm nhẹ 6,6% so với cùng kỳ. Đáng lưu ý, kết quả trên cho thấy sự cải thiện từ mức giảm 13,6% so với cùng kỳ trong nửa đầu năm 2024 trong khi vẫn thấp hơn 17% so với dự báo của chúng tôi ở mức 2,1 USD/kg.
Trong 9 tháng đầu năm 2024, tổng doanh thu xuất khẩu của ANV đạt 2.185 tỷ đồng, tăng khiêm tốn 0,5% so với cùng kỳ. Sản lượng xuất khẩu đạt 43.210 tấn, tăng 9,7% so với cùng kỳ, trong khi giá xuất khẩu bình quân ở mức 1,9 USD/kg, giảm 8,4% so với cùng kỳ và thấp hơn 5% so với dự báo của HSC ở mức 2 USD/kg.
KQKD trái chiều tại các thị trường chính
Theo dữ liệu từ Agromonitor, doanh thu xuất khẩu của ANV sang thị trường Trung Quốc, thị trường lớn nhất của Công ty trong Q3/2024, đạt 10,1 triệu USD, tăng nhẹ 3,4% so với cùng kỳ. Doanh thu xuất khẩu sang Trung Quốc đóng góp 32,9% tổng doanh thu xuất khẩu của ANV trong Q3/2024, giảm từ mức đóng góp 37,2% trong Q3/2023.
Trong 9 tháng đầu năm 2024, doanh thu xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 26,9 triệu USD, giảm 18,4% so với cùng kỳ, bằng 32,7% tổng doanh thu xuất khẩu của Công ty trong giai đoạn này, và thấp hơn mức đóng góp 40,3% trong 9 tháng đầu năm 2023.
Trong Q3/2024, doanh thu xuất khẩu sang khu vực ASEAN và Nam Mỹ đạt lần lượt 4,5 triệu USD và 3,1 triệu USD, giảm mạnh 32,2% và 28,2% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, trong 9 tháng đầu năm 2024, doanh thu xuất khẩu sang khu vực ASEAN và Nam Mỹ tăng lên 20,9 triệu USD và 13,1 triệu USD, tăng 52,3% và 11,5% so với cùng kỳ.
Trái lại, doanh thu xuất khẩu của ANV sang EU và Mỹ tăng mạnh. Xuất khẩu sang EU trong Q3/2024 đạt 4,3 triệu USD, tăng mạnh 265,3% so với cùng kỳ, trong khi xuất khẩu sang Mỹ đạt 8,4 triệu USD, tăng 25,6% so với cùng kỳ.
Trong 9 tháng đầu năm 2024, xuất khẩu sang EU đạt 9,1 triệu USD, tăng mạnh 23,7% so với cùng kỳ, trong khi xuất khẩu sang Mỹ đạt 8,4 triệu USD, tăng 26,7% so với cùng kỳ.
Tỷ suất lợi nhuận tăng mạnh
Trong Q3/2024, lợi nhuận gộp tăng mạnh 103,6% lên 173 tỷ đồng nhờ doanh thu tăng mạnh và tỷ suất lợi nhuận gộp cải thiện lên 12,9% từ mức 7,7% trong Q3/2023.
Tỷ suất lợi nhuận gộp cải thiện là nhờ sản lượng xuất khẩu tăng mạnh 24,8% so với cùng kỳ, cùng với chi phí nuôi thấp khi giá thức ăn chăn nuôi giảm khoảng 13% so với cùng kỳ.
Trong 9 tháng đầu năm 2024, tỷ suất lợi nhuận gộp cho thấy sự cải thiện đáng kể, tăng lên 11,7% từ 10,1% cùng kỳ năm 2023.
Tuy nhiên, chi phí bán hàng và các khoản lỗ khác tăng
Tỷ lệ chi phí bán hàng và quản lý/doanh thu tăng mạnh
Trong Q3/2024, chi phí bán hàng tăng mạnh 118,5% so với cùng kỳ đạt 8 tỷ đồng, chủ yếu do chi phí vận chuyển tăng 203% so với cùng kỳ lên 59 tỷ đồng do xung đột ở khu vực Trung Đông. Chi phí thuê ngoài cũng tăng 47,8% so với cùng kỳ lên 13,6 tỷ đồng. Trong khi đó, chi phí quản lý tăng 24,8% so với cùng kỳ lên 20,1 tỷ đồng. Nhìn chung, chi phí bán hàng & quản lý tăng 90,6% so với cùng kỳ đạt 102 tỷ đồng, tương ứng với tỷ lệ chi phí bán hàng & quản lý/doanh thu ở mức 7,6% so với mức 4,9% trong Q3/2023.
Lũy kế 9 tháng đầu năm 2024, tỷ lệ chi phí bán hàng & quản lý/doanh thu đạt 7%, cao hơn mức 5,8% trong 9 tháng đầu năm 2023.
Các khoản lỗ khác ở mức 7,6 tỷ đồng
Trong Q3/2024, các chi phí khác được ghi nhận ở mức 10,9 tỷ đồng, tăng từ mức 0,2 tỷ đồng trong Q3/2023, chủ yếu do tiền phạt 2,6 tỷ đồng chậm đóng thuế ở công ty con và 7,3 tỷ đồng tiền lãi phạt chậm nộp thuế. Kết quả là, các khoản lỗ khác được ghi nhận ở mức 7,6 tỷ đồng, từ các khoản lợi nhuận khác 3,6 tỷ đồng trong Q3/2023.
Chúng tôi lưu ý rằng, BCTC sau kiểm toán cho nửa đầu năm 2024 của ANV cũng ghi nhận khoản lỗ khác ở mức 36 tỷ đồng so với lỗ khác ở mức 13 tỷ đồng trong BCTC chưa kiểm toán, cho thấy mức tăng 23 tỷ đồng. Nguyên nhân là do yêu cầu của cơ quan thuế về việc hoàn trả các khoản ưu đãi đầu tư của một công ty con vào năm 2020.
Lũy kế 9 tháng đầu năm 2024, các khoản lỗ khác được ghi nhận ở mức 43,4 tỷ đồng so với các khoản lợi nhuận khác 15 tỷ đồng trong 9 tháng đầu năm 2023.
HSC duy trì khuyến nghị Tăng tỷ trọng và giá mục tiêu
Trong 3 quý vừa qua, HĐKD cốt lõi của ANV có sự cải thiện đáng kể và khá tốt nếu loại trừ các khoản lỗ thuần không thường xuyên khác và chi phí vận chuyển cao trong 9 tháng đầu năm 2024. Chúng tôi duy trì khuyến nghị Tăng tỷ trọng và giữ nguyên giá mục tiêu 37.300đ.
Cổ phiếu ANV đang giao dịch với P/E trượt dự phóng 1 năm là 18,2 lần, thấp hơn 0,4 độ lệch chuẩn so với bình quân từ tháng 1/2021 ở mức 26,3 lần.
Bảng 2: Cơ cấu xuất khẩu Q3/2024 & 9 tháng đầu năm 2024, ANV

Biểu đồ 3: Giá xuất khẩu cá tra sang các thị trường khác nhau, Việt Nam & ANV

Nguồn: HSC
Tuyên bố miễn trách nhiệm: Báo cáo chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin và nhà đầu tư chỉ nên sử dụng báo cáo phân tích này như một nguồn tham khảo. Dautucophieu.net sẽ không chịu bất kỳ trách nhiệm nào trước nhà đầu tư cũng như đối tượng được nhắc đến trong báo cáo này về những tổn thất có thể xảy ra khi đầu tư hoặc những thông tin sai lệch về doanh nghiệp.

