DANH MỤC

Mobile / Zalo / Viber: 0912 842 224

Cập nhật cổ phiếu MBB – Khuyến nghị MUA với giá mục tiêu 32.800đ

Lượt xem: 194 - Ngày:
Chia sẻ

Nhận định KQKD – KQKD 6 tháng đầu năm của MBB rất khả quan. Triển vọng tích cực. Tiếp tục duy trì đánh giá Mua vào. MBB (Mua vào) đã công bố KQKD 6 tháng đầu năm rất khả quan với LNTT tăng 52,5% so với cùng kỳ đạt 3.829 tỷ đồng. Kết quả trên đạt được nhờ thu nhập lãi thuần tăng 32,3% và thu nhập ngoài lãi tăng 80,5%.

Đồ thị cổ phiếu MBB phiên giao dịch ngày 23/07/2018. Nguồn: AmiBrokerĐồ thị cổ phiếu MBB phiên giao dịch ngày 23/07/2018. Nguồn: AmiBroker

Cho vay khách hàng hợp nhất tăng 11,2% lên 204.829 tỷ đồng, gồm 200.040 tỷ đồng (tăng 11% so với đầu năm) của Ngân hàng mẹ; 2.170 tỷ đồng (giảm 17% so với đầu năm) của MBS (cho vay chứng khoán) và khoảng 2.600 tỷ đồng (tăng 60% so với đầu năm) là của MCredit.

Trong cơ cấu cho vay theo khách hàng, cho vay khách hàng cá nhân là động lực tăng trưởng chính. Cụ thể:

• Cho vay khách hàng cá nhân tăng 17,3% so với đầu năm đạt 70.513 tỷ đồng, đóng góp 34,4% vào tổng dự nợ (Q2/2017 là 30,3%).
• Cho vay khách hàng FDI tăng 20,8% so với đầu năm đạt 6.772 tỷ đồng, đóng góp 3,3% vào tổng dự nợ (Q2/2017 là 2,86%).
• Cho vay DNNN tăng 12,6% so với đầu năm đạt 25.805 tỷ đồng, đóng góp 12,6% vào tổng dự nợ (Q2/2017 là 14,2%).
• Cho vay doanh nghiệp tư nhân chỉ tăng 7,83% so với đầu năm đạt 95.212 tỷ đồng, đóng góp 46,5% vào tổng dự nợ (Q2/2017 là 47,9%).

Trong cơ cấu kỳ hạn, cho vay thiên hơn về kỳ hạn ngắn. Cụ thể:

• Cho vay kỳ hạn ngắn tăng 14,4% so với đầu năm đạt 105.238 tỷ đồng, đóng góp 51,4% vào tổng dự nợ (Q2/2017 là 50,8%).
• Cho vay trung dài hạn tăng 8% so với đầu năm đạt 99.591 tỷ đồng, đóng góp 48,6% vào tổng dự nợ (Q2/2017 là 49,2%).

Trong cơ cấu cho vay theo lĩnh vực, MBB có tỷ trọng cho vay cao ở các lĩnh vực sau:

• Cho vay cá nhân và kinh doanh hộ gia đình tăng 14% so với đầu năm, đóng góp 25,9% vào tổng dư nợ.
• Cho vay bán buôn bán lẻ, sửa chữa ô tô xe máy tăng 13,5% so với đầu năm, đóng góp 24,4% vào tổng dư nợ.
• Cho vay ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và sản xuất tăng 16,6% so với đầu năm, đóng góp 17,4% vào tổng dư nợ.
• Trong khi đó cho vay lĩnh vực BĐS giảm 7,5% so với đầu năm, chỉ đóng góp 2,4% vào tổng dư nợ (Q2/2017 là 3,6%).

Về cơ cấu cho vay theo loại tiền:

• Cho vay bằng tiền đồng tăng 11,5% so với đầu năm và đạt 178.516 tỷ đồng, đóng góp 87,2% tổng dư nợ (Q2/2017 là 84,4%).
• Cho vay bằng USD và các ngoại tệ khác tăng 9,4% so với đầu năm và đạt 26,313 tỷ đồng, đóng góp 12,8% tổng dư nợ (Q2/2017 là 15,6%).

Huy động khách hàng chỉ tăng 6,64% so với đầu năm – đạt 234.796 tỷ đồng.

Cơ cấu huy động theo kỳ hạn như sau:

• Tiền gửi không kỳ hạn tăng 4,8% so với đầu năm (giảm 4,5% so với quý trước) và đạt 91.567 tỷ đồng.
• Trái lại, tiền gửi có kỳ hạn tăng 7,9% so với đầu năm (tăng 9,2% so với quý trước) đạt 131.160 tỷ đồng.

Theo đó, tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn đã giảm nhẹ còn 39%, từ 39,7% cuối năm 2017 và 42,2% cuối Quý 1. Và đây vẫn là tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn cao nhất trong số các NHTM.

Cơ cấu huy động theo khách hàng như sau:

• Vốn huy động từ khách hàng cá nhân tăng 10,3% so với đầu năm, đạt 102.116 tỷ đồng (chiếm 43,5% huy động khách hàng)
• Vốn huy động từ khách hàng doanh nghiệp chỉ tăng 4% so với đầu năm, đạt 132.680 tỷ đồng (chiếm 56,5% huy động khách hàng)

Cơ cấu huy động theo loại tiền như sau:

• Vốn huy động bằng tiền đồng tăng 8,4% so với đầu năm và đạt 209.540 tỷ đồng, chiếm 89,2% huy động động khách hàng
• Vốn huy động bằng USD giảm 5,8% so với đầu năm còn 25.256 tỷ đồng, chiếm 10,8% huy động động khách hàng.

Hệ số LDR thuần tăng lên 87,2% – từ 84,9% vào cuối Q1/2017. MBB tiếp tục tận dụng lợi thế LDR thấp trước đây để đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng trong khi kiểm soát tăng trưởng huy động nhằm cải thiện tỷ lệ NIM. Tuy nhiên dư địa để tiếp tục tăng hệ số LDR không còn nhiều.

Tỷ lệ NIM tăng 0,35% so với cùng kỳ lên 4,65% – nhờ lợi suất gộp tăng 0,32% so với cùng kỳ trong khi chi phí huy động giảm nhẹ 0,02% so với cùng kỳ cộng với hệ số LDR tăng.

Cụ thể lợi suất ở các tài sản sinh lãi như sau:

• Lợi suất cho vay khách hàng tăng 0,83% lên 9,32%. Chúng tôi cho rằng đây là kết quả của sự tăng trưởng mạnh mẽ cho vay khách hàng cá nhân với lợi suất cao hơn.
• Lợi suất trái phiếu cũng tăng 0,54% lên 6,92% cho dù mặt bằng lợi suất trái phiếu nói chung giảm; và điều này nhiều khả năng là nhờ tăng kỳ hạn trái phiếu đầu tư trong danh mục.
• Trái lại lợi suất gửi tiền liên ngân hàng giảm 2,47% xuống 1,96%; trở về mức bình thường và theo diễn biến của thị trường liên ngân hàng.

Cụ thể chi phí huy động ở các nguồn huy động như sau:

• Chi phí huy động từ tiền gửi khách hàng giữ nguyên ở mức 3,39%; đây là mức chi phí huy động khách hàng thấp thứ 2 trên thị trường (chỉ cao hơn VCB khoảng 0.2-0.3%)
• Chi phí huy động từ giấy tờ có giá giảm 2,68% còn 8,41%. MBB đã phát hành 3.246 tỷ đồng trái phiếu trong Q3 và Q4 năm 2017 với lãi suất từ 8,2% đến 8,45%; nhờ vậy giảm được lãi suất bình quân khi Ngân hàng đã phát hành 2.000 tỷ đồng trái phiếu vào năm 2010 với lãi suất cao hơn, là 12%.
• Trong khi đó chi phí vay vốn từ thị trường liên ngân hàng và các nguồn khác tăng nhẹ 0,16% lên 6,76%.

Thu nhập lãi thuần tăng mạnh 32,3% so với cùng kỳ – đạt 6.797 tỷ đồng nhờ tăng trưởng tín dụng tốt và tỷ lệ NIM cải thiện.

Các dòng thu nhập ngoài lãi đều tăng trưởng mạnh – Tổng thu nhập ngoài lãi tăng 80,5% so với cùng kỳ lên 2.241 tỷ đồng nhờ:

• Lãi thuần hoạt động dịch vụ đạt 2.037 tỷ đồng (tăng 29,7% so với cùng kỳ) với đóng góp chính từ:
– Dịch vụ thanh toán và tiền mặt đạt 330,2 tỷ đồng (tăng 39,3% so với cùng kỳ).
– Dịch vụ môi giới chứng khoán đạt 240 tỷ đồng (tăng 81,8% so với cùng kỳ).
– Hoạt động kinh doanh bảo hiểm đạt 1,142 tỷ đồng (tăng 46% so với cùng kỳ).
• Lãi thuần hoạt động kinh doanh ngoại hối đạt 174,7 tỷ đồng (tăng 224% so với cùng kỳ).
• Lãi từ mua bán chứng khoán (kinh doanh, đầu tư) đạt 311,1 tỷ đồng (tăng 153% so với cùng kỳ.
• Và lợi nhuận khác đạt 723,3 tỷ đồng (tăng 94,9% so với cùng kỳ), với thu nhập từ thu hồi nợ xấu đạt 572,4 tỷ đồng (tăng 85,3% so với cùng kỳ) và lợi nhuận đóng góp từ mảng BĐS là 78 tỷ đồng (tăng 246% so với cùng kỳ).
• Thu nhập từ góp vốn mua cổ phần đạt 40,1 tỷ đồng (tăng 22,7% so với cùng kỳ).

Và theo đó tổng thu nhập hoạt động tăng 41,7% so với cùng kỳ đạt 9.038 tỷ đồng với 75,2% từ thu nhập lãi thuần và 24,8% từ thu nhập ngoài lãi.

Chi phí hoạt động tăng 40,1% so với cùng kỳ – lên 3,550 tỷ đồng. Hệ số CIR giảm xuống 39,3% từ 43,3% trong năm 2017. Xét riêng ngân hàng mẹ, hệ số CIR cũng giảm từ 36,73% trong năm 2017 xuống 33,9%. Chi phí nhân viên tăng 60% so với cùng kỳ lên 2.013 tỷ đồng (chiếm 56,7% tổng chi phí hoạt động) với số lượng nhân viên tăng 18% và lương bình quân tháng tăng 35,6% so với cùng kỳ.

Tổng lợi nhuận hoạt động trước trích lập dự phòng là 5,488 tỷ đồng, tăng 42,7% so với cùng kỳ.

Chi phí dự phòng tăng 25,5% lên 1.659 tỷ đồng, gồm 1.509,5 tỷ đồng dự phòng cụ thể và 155,9 tỷ đồng dự phòng chung cho vay khách hàng.

Tỷ lệ nợ xấu là 1,29% so với mức 1,2% vào cuối năm 2017, sau khi đã xử lý 977,5 tỷ đồng nợ xấu trong 6 tháng đầu năm. Dư nợ xấu là 2.639 tỷ đồng (tăng 19% so với đầu năm). Trong khi đó, hệ số LLR là 106%, tăng từ 96% vào cuối năm 2017.

– Nợ nhóm 2 chiếm 1,60% tổng dư nợ (tăng 8,8% so với đầu năm lên 3.454 tỷ đồng).
– Nợ nhóm 3 chiếm 0,5% tổng dư nợ (tăng 40% so với đầu năm lên 1.029 tỷ đồng).
– Nợ nhóm 4 chiếm 0,32% tổng dư nợ (giảm 2,3% so với đầu năm xuống 653 tỷ đồng).
– Nợ nhóm 5 chiếm 0,42% tổng dư nợ (tăng 17,6% so với đầu năm lên 957 tỷ đồng).

Theo đó LNTT 6 tháng đầu năm là 3.829,5 tỷ đồng (tăng 51,7% so với cùng kỳ).

Cho năm 2018, HSC nâng dự báo LNTT tăng trưởng 65,9% đạt 7.657 tỷ đồng, từ mức dự báo trước đây của chúng tôi là LNTT tăng trưởng 62,2% đạt 7.485 tỷ đồng – Giả định chính của chúng tôi là:

• Chúng tôi hiện giả định tín dụng tăng trưởng 21% đạt 222.868 tỷ đồng nhờ hệ số CAR cao, các hệ số an toàn tốt và nguồn khách hàng ổn định. Chúng tôi cho rằng mục tiêu tăng trưởng tín dụng ban đầu theo hướng dẫn của NHNN có thể được điều chỉnh vào cuối năm. Hơn nữa, không có quy định về hạn mức tăng trưởng tín dụng đối với mảng tài chính tiêu dùng.
• Chúng tôi cũng giả định huy động tăng trưởng 14% đạt 251.001 tỷ đồng.
• Chúng tôi ước tính tỷ lệ NIM cải thiện, tăng 0,31% lên 4,72%.
• Chúng tôi dự báo thu nhập lãi thuần tăng trưởng 30,5% và đạt 14.635 tỷ đồng.
• Và dự báo thu nhập ngoài lãi tăng trưởng 62,4% đạt 4.300 tỷ đồng.
• Chúng tôi ước tính chi phí hoạt động tăng 40% lên 8.406 tỷ đồng.
• Giả định tổng chi phí dự phòng trích lập là 2.873 tỷ đồng (giảm 11,7%).
• Ước tính tỷ lệ nợ xấu tại thời điểm cuối năm 2018 là 1,2% sau khi xóa 1.783 tỷ đồng nợ xấu (tương đương 0,8% dư nợ cho vay).

Theo đó chúng tôi dự báo LNTT đạt 7.657 tỷ đồng, tăng trưởng 65,9%. EPS đạt 2.572đ; BVPS là 14.891đ, với P/B dự phóng là 1,53 lần.

Cho năm 2019, HSC dự báo LNTT tăng trưởng 28,6% đạt 9.849 tỷ đồng – Giả định chính của chúng tôi là:

• Chúng tôi hiện giả định tín dụng tăng trưởng 22% đạt 271.899 tỷ đồng nhờ hệ số CAR cao, các hệ số an toàn tốt và nguồn khách hàng ổn định, và tăng trưởng tín dụng đối với mảng tài chính tiêu dùng không bị giới hạn.
• Chúng tôi cũng giả định huy động tăng trưởng 16% đạt 291.161 tỷ đồng.
• Chúng tôi ước tính tỷ lệ NIM cải thiện, tăng 0,32% lên 5,04%.
• Chúng tôi dự báo thu nhập lãi thuần tăng trưởng 23,7% và đạt 18.102 tỷ đồng.
• Và dự báo thu nhập ngoài lãi tăng trưởng 24,4% đạt 5.349 tỷ đồng.
• Chúng tôi ước tính chi phí hoạt động tăng 27,4% lên 10.711 tỷ đồng.
• Giả định tổng chi phí dự phòng trích lập là 2.890 tỷ đồng (tăng 0,6%).
• Ước tính tỷ lệ nợ xấu tại thời điểm cuối năm 2019 là 1,2% sau khi xóa 2.039tỷ đồng nợ xấu (tương đương 0,75% dư nợ cho vay).

Theo đó chúng tôi dự báo LNTT đạt 9.849 tỷ đồng, tăng trưởng 28,6%. EPS đạt 3.265đ; BVPS là 17.432đ, với P/B dự phóng là 1,31 lần

MBB sẽ tiếp tục tăng trưởng trên mức bình quân nhờ cơ cấu tài sản ưu việt và bộ máy lãnh đạo năng động – MBB hiện sở hữu 2,96% thị phần cho vay. Ngân hàng có thế mạnh trong cho vay khách hàng cá nhân và cho vay các DNNVV được hỗ trợ từ nguồn huy động chi chi phí thấp nhờ tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn cao nhất trong ngành, đạt 42,2%. MBB vẫn luôn nghiêm ngặt trong các quy trình cho vay và xử lý nợ xấu khá nhanh. Do đó, các hệ số an toàn của Ngân hàng luôn được đảm bảo, tạo điều kiện cho tín dụng tăng mạnh hơn so với hầu hết các ngân hàng đối thủ. Và với chi phí dự phòng của ngân hàng mẹ sẽ không tăng mạnh và thậm chí có thể giảm, thì tăng trưởng tín dụng sẽ chuyển thành lợi nhuận.

Hai mảng kinh doanh mới; MCredit và MBAL đánh dấu sự mở rộng của MBB vào mảng tài chính tiêu dùng và bảo hiểm nhân thọ. Mặc dù bắt đầu phát triển hai mảng này muộn hơn, MBB có lợi thế khi sở hữu nguồn khách hàng trung thành và do đó cùng với ngân hàng mẹ, hai mảng kinh doanh này sẽ tiếp tục phát triển tốt. MBB đang dần trở thành một ngân hàng đa năng cung cấp cả dịch vụ bảo hiểm và tài chính tiêu dùng. Điều này mang lại cho MBB vị trí dẫn đầu trong số các NHTMCP cung cấp các dịch vụ tài chính toàn diện cho khách hàng.

Trong trung đến dài hạn, HSC dự báo:

• Dư nợ của MBB sẽ tăng trưởng với tốc độ trung bình gộp năm là 21,7% trong 3 năm tới, với dự nợ của ngân hàng mẹ tăng khoảng 18-19% và của MCredit tăng 40-50% mỗi năm.
• Trong khi đó hệ số LDR sẽ tăng từ 84% lên 95%.
• Tỷ lệ NIM sẽ tăng 1,03% lên 5,34% trong giai đoạn này.
• Thu nhập lãi thuần sẽ tăng trưởng với tốc độ trung bình gộp năm là 26,5% trong 3 năm tới.
• Trong khi đó thu nhập ngoài lãi sẽ tăng trưởng với tốc độ trung bình gộp năm là 35,6% trong 3 năm tới.
• Và LNTT của MBB sẽ tăng trưởng với tốc độ trung bình gộp năm là 39,2% trong 3 năm tới.

Ngân hàng không chia sẻ nhiều về kế hoạch huy động vốn mới từ cổ đông chiến lược hay về kế hoạch nới room (room của Ngân hàng đã đầy ở mức 20% trong một thời gian). Cho năm 2018, MBB hiện chỉ có kế hoạch tăng vốn điều lệ thêm 19% lên 21.604,5 tỷ đồng từ nguồn vốn nội tại, gồm 907,8 tỷ đồng từ phát hành cổ phiếu trả cổ tức tỷ lệ 5% và 2.541,7 tỷ đồng từ cổ phiếu thưởng tỷ lệ 14%. Và việc tăng vốn này đã được thực hiện cuối quý 2.

Hệ số CAR của Ngân hàng vào cuối năm 2017 là 12%, và chúng tôi ước tính hệ số CAR sẽ giảm xuống 11,3% (tính theo Basel 1) hoặc 8-9% (tính theo Basel 2) năm 2020 nếu không bổ sung vốn mới trong 3 năm tới và giả định Ngân hàng giữ tỷ lệ cổ tức tiền mặt là 6%. Nhu cầu tăng vốn của Ngân hàng hiện vẫn chưa cấp thiết, tuy nhiên chúng tôi cho rằng MBB sẽ không trì hoãn kế hoạch này cho đến sau năm 2020. Và cũng có một vài tín hiệu từ phía lãnh đạo Ngân hàng cho thấy MBB có thể sẽ mở rộng danh sách cổ đông chiến lược tiềm năng không chỉ bao gồm các ngân hàng nước ngoài mà cả các quỹ đầu tư. Do đó HSC cho rằng có khả năng Ngân hàng sẽ tăng vốn sớm hơn, có thể là trong năm 2019.

Quan điểm đầu tư – Tiếp tục đánh giá MUA VÀO. Chúng tôi ước tính giá trị hợp lý của cổ phiếu là 32.800đ, tương đương P/B dự phóng là 2,2 lần. Trong khi đó P/B bình quân ngành hiện là 1,94 lần. KQKD năm 2017 vượt trội với triển vọng năm 2018 vẫn rất khả quan. Ngân hàng tiếp tục mở rộng mảng ngân hàng bán lẻ với cả cho vay và huy động từ khách hàng cá nhân tăng mạnh. Theo đó chi phí tăng lên nhưng được bù đắp phần nào nhờ lợi suất cho vay tăng, đặc biệt là từ mảng tài chính tiêu dùng. MBB vẫn là một trong những ngân hàng có nền tảng căn bản tốt nhất nhờ tỷ lệ LDR tốt, hệ số CAR cao, và chất lượng tài sản tốt.

Nguồn: Research HSC

BÌNH LUẬN()

CÁC TIN LIÊN QUAN

Đối tác