Nhìn chung, nền tảng vẫn vững chắc
Bất chấp làn sóng COVID-19 thứ 3, hiện đã được kiểm soát tương đối, và những ngày nghỉ Tết kéo dài, đà tăng trưởng vững chắc được xây dựng trong nhiều tháng qua đối với hầu hết các chỉ số kinh tế (Bảng 1) vẫn chưa bị gián đoạn. Doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ khá mạnh, tăng 8,2% so với cùng kỳ, với chỉ số PMI tăng lên 51,6 trong tháng 2/2021 từ 51,3 trong tháng 1/2021 và thị trường chứng khoán kết thúc vào tháng 2 tăng 32,5% so với cùng kỳ – mức cao nhất kể từ tháng 4/2018.
Mặc dù vậy, vốn FDI cam kết (5,5 tỷ USD) giảm 15,6% so với cùng kỳ trong khi đầu tư công dịu lại sau kỳ nghỉ Tết, giảm 3,1% so với cùng kỳ và giảm 23,3% so với tháng trước. Hạn chế đi lại và tụ tập đông người được thắt chặt trong bối cảnh làn sóng thứ 3 của dịch COVID-19 đã ảnh hưởng đến hoạt động đi lại trong nước, giảm 14,7% so với cùng kỳ và 9,9% so với tháng trước trong tháng 2/2021.
Mặc dù vậy, vốn FDI cam kết (5,5 tỷ USD) giảm 15,6% so với cùng kỳ trong khi đầu tư công dịu lại sau kỳ nghỉ Tết, giảm 3,1% so với cùng kỳ và giảm 23,3% so với tháng trước. Hạn chế đi lại và tụ tập đông người được thắt chặt trong bối cảnh làn sóng thứ 3 của dịch COVID-19 đã ảnh hưởng đến hoạt động đi lại trong nước, giảm 14,7% so với cùng kỳ và 9,9% so với tháng trước trong tháng 2/2021.
Bảng 1: Xu hướng chỉ số 
Cập nhật số liệu kinh tế vĩ mô
Cả hoạt động sản xuất và thương mại cũng như hoạt động đi lại đều giảm trong tháng 2/2021. Điều này phần lớn là do ảnh hưởng của kỳ nghỉ Tết kéo dài 1 tuần và quy định hạn chế đi lại và tụ tập đông người bị thắt chặt trong bối cảnh làn sóng thứ 3 của dịch COVID-19, hiện đã được kiểm soát tương đối. Kim ngạch xuất khẩu giảm 4,7% so với cùng kỳ trong tháng 2/2021, giá trị sản xuất công nghiệp giảm 7,2% so với cùng kỳ và đầu tư công giảm 3,1% so với cùng kỳ. Lạm phát tăng 0,7% so với cùng kỳ, do lạm phát nhóm lương thực, thực phẩm, giá năng lượng tăng và EVN ngừng điều chỉnh giá điện để hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19. Về mặt tích cực, mặc dù dịch COVID-19 bùng phát gần đây, doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ vẫn khá ổn định, tăng 8,2% so với cùng kỳ. Chỉ số PMI tăng lên 51,6 trong tháng 2/2021 từ 51,3 trong tháng 1/2021, phản ánh các điều kiện kinh doanh của khu vực sản xuất được cải thiện trong tháng thứ 3 liên tiếp.
Lạm phát
Lạm phát cơ bản tăng lần đầu tiên từ tháng 3/2020
Trong tháng 2/2021, lạm phát tổng thể lần đầu tăng kể từ tháng 7/2020 lên 0,70% so với cùng kỳ từ mức giảm 0,97% so với cùng kỳ trong tháng 1/2021 (Bảng 2). Nguyên nhân chủ yếu do lạm phát nhóm lương thực, thực phẩm tăng (tăng 2,39% so với cùng kỳ so với tăng 1,03% so với cùng kỳ trong tháng 1/2021) và giá nhà ở và vật liệu xây dựng (tăng 0,33% so với cùng kỳ so với giảm 3,55% so với cùng kỳ trong tháng 1/2021). Nguyên nhân cuối cùng một phần được thúc đẩy do EVN dừng điều chỉnh giá điện để hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi COVID-19.
Với sự phục hồi mạnh mẽ của giá năng lượng, giá xăng dầu điều chỉnh tăng lần thứ 6 liên tiếp trong tháng 2/2021 (vào ngày 25/2/2021). Mặc dù chi phí giao thông vẫn giảm 6,55% so với cùng kỳ (so với giảm 10,27% so với cùng kỳ trong tháng 1/2021), giá năng lượng hiện đã tăng tháng thứ 4 liên tiếp, theo đó, bắt đầu gây ra rủi ro lạm phát lớn trong Q2/2021.
Đồng thời, nhu cầu trong nước tăng lên, dẫn đến lạm phát phi lương thực lần đầu tiên tăng kể từ tháng 3/2020. Cụ thể, lạm phát cơ bản đã tăng 0,79% so với cùng kỳ so với tăng 0,49% so với cùng kỳ trong tháng 1/2021. Đối với năm 2021, chúng tôi dự báo lạm phát bình quân tăng lên 3,60% từ 3,23% trong năm 2020.
Biểu đồ 2: Lạm phát tổng thể 
Giá trị sản xuất công nghiệp
Hoạt động từ đầu năm mãnh mẽ hơn so với cùng kỳ
Đúng như dự báo, giá trị sản xuất công nghiệp chậm lại so với cùng kỳ (giảm 7,2% so với cùng kỳ so với tăng 22,2% so với cùng kỳ trong tháng 1/2021) chủ yếu do kỳ nghỉ Tết Nguyên đán ngày 10-16/2/2021 so với ngày 23-29/1/2020. Mặc dù vậy, nếu không tính hiệu ứng mùa vụ, giá trị sản xuất công nghiệp vẫn vững chắc, tăng 7,4% so với cùng kỳ trong 2 tháng đầu năm 2021 so với tăng 6,2% so với cùng kỳ trong 2 tháng đầu năm 2020.
Đúng như dự báo, giá trị sản xuất công nghiệp chậm lại so với cùng kỳ (giảm 7,2% so với cùng kỳ so với tăng 22,2% so với cùng kỳ trong tháng 1/2021) chủ yếu do kỳ nghỉ Tết Nguyên đán ngày 10-16/2/2021 so với ngày 23-29/1/2020. Mặc dù vậy, nếu không tính hiệu ứng mùa vụ, giá trị sản xuất công nghiệp vẫn vững chắc, tăng 7,4% so với cùng kỳ trong 2 tháng đầu năm 2021 so với tăng 6,2% so với cùng kỳ trong 2 tháng đầu năm 2020.
Biểu đồ 3: Chỉ số PMI và chỉ số ngành công nghiệp chế biến chế tạo 
Mặc dù tháng 2/2021 có ít hơn 8 ngày làm việc so với tháng 2/2020, trong số các phân ngành sản xuất chính, một số phân ngành vẫn tăng trưởng như thiết bị truyền thông (tăng 5,7% so với cùng kỳ) và điện tử tiêu dùng (tăng 3,9% so với cùng kỳ). Cả 2 phân ngành đều ghi nhận mức tăng trưởng (Bảng 4).
Biểu đồ 4: Động lực chính thúc đẩy ngành công nghiệp chế biến chế tạo 
Trong 2 tháng đầu năm 2021, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 7,4% so với cùng kỳ (so với tăng 6,2% so với cùng kỳ trong 2 tháng đầu năm 2020) và ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 10,4% so với cùng kỳ (so với tăng 7,4% so với cùng kỳ trong 2 tháng đầu năm 2020).
Hoạt động thương mại
Hoạt động chậm lại do kỳ nghỉ Tết
Kim ngạch xuất khẩu tháng 2/2021 giảm 4,7% so với cùng kỳ (so với tăng 55,1% so với cùng kỳ trong tháng 1/2021) và giảm 29,9% so với tháng trước (so với tăng 3,2% so với tháng trước trong tháng 1/2021) (Bảng 5). Đây là lần đầu kim ngạch xuất khẩu thu hẹp kể từ tháng 5/2020 và do thời điểm của kỳ nghỉ Tết.
Nguyên nhân chính khiến hoạt động xuất khẩu sụt giảm là điện thoại các loại (giảm 34,3% so với cùng kỳ), giày dép (tăng 26,4% so với cùng kỳ), hàng dệt may (giảm 6,4% so với cùng kỳ) và sản phẩm thủy sản (giảm 20,4% so với cùng kỳ). Các sản phẩm chủ lực khác vẫn tăng trưởng mạnh, bao gồm máy tính và sản phẩm điện tử (tăng 9,1% so với cùng kỳ), máy móc & thiết bị (tăng 31,4% so với cùng kỳ), sắt thép (tăng 29,8% so với cùng kỳ), hóa chất (tăng 19,7% so với cùng kỳ) và nhựa (tăng 16,4% so với cùng kỳ). Chúng tôi cũng ghi nhận tăng trưởng ấn tượng kim ngạch các mặt hàng về nông lâm thủy sản (NLTS): Rau quả (tăng 19,8% so với cùng kỳ), gỗ và sản phẩm từ gỗ (tăng 42,1% so với cùng kỳ) và cao su (tăng 86,0% so với cùng kỳ) là những lĩnh vực có nhu cầu xuất khẩu cao.
Biểu đồ 5: Đóng góp vào tăng trưởng xuất khẩu 
Biểu đồ 6: Đóng góp vào tăng trưởng nhập khẩu 
Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu trong tháng 2/2021 tăng 10,5% so với cùng kỳ (so với tăng 41,3% so với cùng kỳ tháng 1/2021) và giảm 21,4% so với tháng trước (so với giảm 5,2% so với tháng trước trong tháng 1/2021) (Bảng 6). Điều này phản ánh nhu cầu đầu vào mạnh mẽ, cho thấy hoạt động thương mại có thể phục hồi đáng kể trong những tháng tới.
Động lực tăng trưởng chính hoạt động nhập khẩu là máy tính và sản phẩm điện tử (tăng 14,7% so với cùng kỳ), máy móc & thiết bị (tăng 20,6% so với cùng kỳ), vải (tăng 5,1% so với cùng kỳ), sản phẩm nhựa (tăng 24,6% so với cùng kỳ), sắt thép (tăng 13,6% so với cùng kỳ) và cao su (tăng 101,8% so với cùng kỳ).
Tính từ đầu năm, kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu tăng mạnh lần lượt 23,2% và 25,9% so với cùng kỳ so với lần lượt 9,2% và 3,6% so với cùng kỳ trong 2 tháng đầu năm 2020.
Trong tháng 2/2021, Việt Nam nhập siêu 0,8 tỷ USD, thu hẹp thặng dư thương mại trong 2 tháng đầu năm 2021 xuống còn 1,3 tỷ USD so với mức thặng dư thương mại là 1,8 tỷ USD trong 2 tháng đầu năm 2020. Trong năm 2021, chúng tôi kỳ vọng Việt Nam sẽ tích lũy được 24 tỷ USD thặng dư thương mại so với 20 tỷ USD trong năm 2020.
Hoạt động đầu tư
FDI thực hiện tăng nhẹ nhưng đầu tư công chậm lại
Trong tháng 2/2021, FDI cam kết và thực hiện ước tính đạt lần lượt 5,5 tỷ USD (giảm 15,6% so với cùng kỳ) và 2,5 tỷ USD (tăng 2,0% so với cùng kỳ).
Về FDI cam kết, ngành chế biến & chế tạo (3,0 tỷ USD) chiếm 55,7%, ngành BĐS (485 triệu USD) chiếm 8,9% và ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt (1,4 tỷ USD) chiếm 26,5% (Bảng 7).
Hạn chế di chuyển tiếp tục cản trở các NĐT trong việc ra quyết định đầu tư mới. Vốn FDI đăng ký mới giảm 33,9% so với cùng kỳ và góp vốn cổ phần giảm 34,4% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, vốn bổ sung vào các dự án hiện hữu tăng 151,8% so với cùng kỳ, phần lớn nhờ khoản đầu tư bổ sung 750 triệu USD vào dự án LG Display Hải Phòng vào tháng 2/2021 (Mời xem: Đầu tư thêm 3,25 tỷ USD vào LG Display Việt Nam, ngày 9/2/2021, VnExpress).
Hoạt động xây dựng sử dụng vốn đầu tư công chậm lại trước và sau Tết. Đầu tư công đạt 17,7 nghìn tỷ đồng trong tháng 1/2021 (giảm 3,1% so với cùng kỳ và giảm 23,3% so với tháng trước) (Bảng 8). Tính từ đầu năm, đầu tư công đạt 9,0% kế hoạch năm 2021 của Chính phủ (477,3 nghìn tỷ đồng).
Đồng thời, thặng dư ngân sách đạt 72,1 nghìn tỷ đồng tính đến ngày 15/2/2021, so với thâm hụt 343,7 nghìn tỷ đồng trong kế hoạch năm 2021 (Quyết định 1927 của Bộ Tài chính).
Biểu đồ 7: Vốn FDI cam kết theo ngành 
Biểu đồ 8: Vốn đầu tư sử dụng ngân sách nhà nước
Doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ
Nhu cầu tiêu dùng vẫn mạnh mẽ dù bùng phát làn sóng thứ 3 của dịch COVID-19
Trong tháng 2/2021, doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ đạt 479,9 nghìn tỷ đồng, tăng 8,2% so với cùng kỳ và giảm 5,4% so với tháng trước, đưa doanh số bán lẻ lũy kế lên 904,5 nghìn tỷ đồng trong 2 tháng đầu năm 2021 (tăng 5,5% so với cùng kỳ, so với tăng 8,3% so với cùng kỳ trong 2 tháng đầu năm 2020). (Bảng 9). Đối với năm 2021, chúng tôi dự báo doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ sẽ phục hồi 6,8% từ mức đáy lịch sử là tăng trưởng 2,6% trong năm 2020.
Doanh số bán lẻ hàng hóa (354,5 nghìn tỷ đồng) tăng trưởng mạnh mẽ, tăng mạnh 10,5% so với cùng kỳ. Kết quả này bị bù trừ một phần do doanh số bán lẻ dịch vụ lưu trú và ăn uống (41,5 nghìn tỷ đồng, giảm 0,1% so với cùng kỳ) và doanh số bán lẻ dịch vụ du lịch lữ hành (915 tỷ đồng, giảm 60,8% so với cùng kỳ) sụt giảm.
Theo đó, nhu cầu đối với hàng hóa tiêu dùng nói chung vẫn tương đối cao – các hạn chế xã hội được áp dụng gần đây đã làm tổn hại đến nhu cầu dịch vụ, từ đó tác động tiêu cực đến doanh số bán lẻ liên quan đến dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch. Di chuyển trong nước giảm 14,7% so với cùng kỳ và giảm 9,9% so với tháng trước trong tháng 2/2021 (Bảng 10).
Lượng khách du lịch quốc tế tiếp tục giảm đáng kể trong 2/2021 (11,0 nghìn, giảm 99,1% so với cùng kỳ; khách đến chủ yếu là chuyên gia nước ngoài và lao động có tay nghề cao). Trung Quốc (3,0 nghìn lượt, giảm 98,4% so với cùng kỳ), Hàn Quốc (2,7 nghìn lượt, giảm 99,2% so với cùng kỳ), Nhật Bản (775 lượt, giảm 99,0% so với cùng kỳ), Mỹ (404 lượt, giảm 99,5% so với cùng kỳ), và Châu Âu (1,4 nghìn lượt, giảm 99,4% so với cùng kỳ) hầu như không có khách du lịch đến Việt Nam trong tháng 2/2021.
Trong 2 tháng đầu năm 2021, tổng lượng khách du lịch là 28,7 nghìn (hầu như không thay đổi kể từ tháng 4/2020), giảm 99,1% so với cùng kỳ (so với tăng 4,8% so với cùng kỳ trong 2 tháng đầu năm 2020).
Thông tin chi tiết và phân tích sẽ có trong “Báo cáo kinh tế hàng tháng” sắp tới của chúng tôi.
Biểu đồ 9: Doanh số bán lẻ hàng hóa và dịch vụ hàng tháng 
Biểu đồ 10: Lưu lượng khách trong nước hàng tháng
Dự báo kinh tế vĩ mô của HSC
Nguồn: HSC
