DANH MỤC

Mobile / Zalo: 0989 490 980

Kinh tế vĩ mô hàng tháng – Triển vọng tươi sáng sau khi tái mở cửa

Lượt xem: 1,376 - Ngày:

Số ca nhiễm giảm dần & tốc độ tiêm chủng ấn tượng

Tỷ lệ tiêm vắc-xin đầy đủ tại Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Philippines và Việt Nam lần lượt là 72%, 38%, 24%, 24% và 22%. Chính phủ Việt Nam đang ưu tiên tiêm chủng tại các trung tâm kinh tế, sản xuất và du lịch trọng điểm trong khi số ca nhiễm COVID-19 mới hàng ngày tiếp tục giảm từ mức đỉnh.

Nới lỏng các biện pháp hạn chế

Trên toàn quốc, Chính phủ đã thông qua nghị quyết số 128, có hiệu lực kể từ ngày 11/10/2021, đưa ra các hướng dẫn theo cách tiếp cận “Thích ứng an toàn với COVID19”. Đáng chú ý, nghị quyết dừng việc thực hiện các quy định trước đây về hạn chế di chuyển, bao gồm các Chỉ thị 15, 16, 19 và Quyết định 2686.

Nhu cầu trong nước sẽ tăng dần

Trong tháng 9/2021, doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ trong nước tăng 6,5% so với tháng trước. Một số địa phương đã kiểm soát dịch COVID-19 sớm hơn đã cho phép một số dịch vụ hoạt động trở lại. Chúng tôi kỳ vọng nhu cầu trong nước sẽ tiếp tục cải thiện trong Q4/2021; Dữ liệu của Google cho thấy bước sang tháng 10 hoạt động di chuyển hàng ngày đến các khu vực bán lẻ và vui chơi giải trí đã cải thiện rõ rệt.

Tuy nhiên, thận trọng trước tác động tới người lao động

Lực lượng lao động giảm 2,8 triệu người, trong đó, ngành công nghiệp & xây dựng và dịch vụ giảm lần lượt 0,9 triệu người và 2,4 triệu người. Trong khi đó, tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm là 8,44%, tương đương với 3,56 triệu người. Ngoài ra, thu nhập người lao động cũng giảm 10,4% so với cùng kỳ trong Q3/2021.

Kim ngạch xuất khẩu lấy lại đà tăng nhưng chưa đủ

Theo số liệu mới nhất về hoạt động thương mại trong nửa đầu tháng 10/2021, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may (giảm 2,4% so với cùng kỳ) và giày dép (giảm 37,1% so với cùng kỳ) tiếp tục bị ảnh hưởng bởi tình trạng thiếu hụt lao động. Về mặt tích cực, kim ngạch xuất khẩu máy móc đã tăng 24,6% so với cùng kỳ và 29,9% so với tháng trước trong nửa đầu tháng 10/2021.

Chính phủ đang đặt mục tiêu tăng trưởng GDP là 3%-3,5% trong năm 2021 và 6%- 6,5% trong năm 2022 (so với dự báo của HSC lần lượt là 2,08% và 6,8%).

Bảng 1: Xu hướng của các chỉ số kinh tế 

Việt Nam trong Q4/2021: Lấy lại đà tăng

Trong báo cáo trước đó vào ngày 3/10/2021, chúng tôi đã hạ dự báo tăng trưởng GDP Q4/2021 xuống tăng 3,87% so với cùng kỳ. Tháng này chúng tôi xem xét các động lực chính của nền kinh tế. Số ca nhiễm COVID-19 đã ổn định và đang giảm dần trong khi hoạt động tiêm chủng vẫn được triển khai nhanh chóng. Ngoài ra, việc nới lỏng các biện pháp phong tỏa sẽ thúc đẩy nhu cầu trong nước hồi phục từ Q4/2021. Tuy nhiên, vẫn cần thận trọng do thu nhập của người lao động giảm và tỷ lệ thất nghiệp đang ở mức cao trong lịch sử. HSC dự báo ngành dịch vụ có thể tăng 2% so với cùng kỳ trong Q4/2021, chủ yếu nhờ doanh số bán buôn và bán lẻ tăng 4% so với cùng kỳ. Kim ngạch xuất khẩu có thể sẽ tăng nhanh, nhưng mức tăng sẽ không đồng đều do chuỗi cung ứng bị tắc nghẽn và thiếu hụt lao động. Chúng tôi cho rằng ngành công nghiệp chế biến & chế tạo và ngành xây dựng sẽ tăng lần lượt 7% và 7,5% so với cùng kỳ trong Q4/2021 do Chính phủ đẩy mạnh đầu tư công.

Số ca nhiễm giảm và tốc độ tiêm chủng nhanh chóng

Trong tháng 9/2021, các nền kinh tế Đông Nam Á tiếp tục đứng cuối danh sách các quốc gia phục hồi nhanh của Bloomberg. Đây là bảng xếp hạng cho thấy sự hiệu quả khi ứng phó với COVID-19 đối với hoạt động kinh tế xã hội trong số 53 nền kinh tế lớn nhất thế giới. Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Việt Nam và Philippines là 5 nước cuối cùng trong danh sách (Bảng 2) (Mời xem: Những quốc gia chống dịch tốt nhất và tồi tệ nhất khi thực hiện cách tiếp cận sống chung với biến chủng Delta, ngày 28/9/2021, Bloomberg).

Biểu đồ 2: Xếp hạng mức độ hồi phục sau COVID-19 của Bloomberg 

Về mặt tích cực, làn sóng COVID-19 trong khu vực có thể đã đạt đỉnh (Bảng 3), trong khi nhiều nền kinh tế đã tăng tốc độ tiêm chủng với tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ tại Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Philippines và Việt Nam lần lượt là 72%, 38%, 24, 24% và 22% (Bảng 4).

Biểu đồ 3: Số ca nhiễm mới hàng ngày COVID-19 tại ASEAN 

Biểu đồ 4: Tỷ lệ tiêm chủng tại ASEAN tính đến 23/10/2021 

Về mặt tích cực, làn sóng COVID-19 trong khu vực có thể đã đạt đỉnh (Bảng 3), trong khi nhiều nền kinh tế đã tăng tốc độ tiêm chủng với tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ tại Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Philippines và Việt Nam lần lượt là 72%, 38%, 24, 24% và 22% (Bảng 4).

Biểu đồ 5: Tỷ lệ tiêm chủng tại các tỉnh, thành phố lớn của VN 23/10/2021 

Tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ tại TP.HCM, Hà Nội và Bình Dương lần lượt là 80%, 61% và 75%, theo thống kê được công bố hàng ngày trên VnExpress.

Nới lỏng các hạn chế đi lại

Do số ca mắc COVID-19 mới hàng ngày giảm từ mức bình quân 11.000 ca trong tháng 9/2021 xuống còn bình quân 4.500 ca trong tháng 10/2021 (Bảng 3) trong bối cảnh chương trình tiêm chủng đạt tốc độ ấn tượng (New Zealand và Việt Nam hiện đang dẫn đầu về số mũi tiêm hàng ngày/1 triệu dân tại Châu Á), điều này giúp Chính phủ Việt Nam có thể nới lỏng các hạn chế di chuyển để triển khai cách tiếp cận “thích ứng an toàn với COVID-19”.

Hà Nội nới lỏng giãn cách xã hội bắt đầu từ 21/9/2021, cho phép mở cửa trở lại các TTTM, tiệm cắt tóc và các hoạt động kinh doanh khác được phép hoạt động tại trụ sở với 50% công suất (Mời xem: Hà Nội cho phép mở cửa trở lại cửa hàng cắt tóc, TTTM và hoạt động kinh doanh tại trụ sở, ngày 21/9/2021, VnExpress).

Trên toàn quốc, Chính phủ gần đây đã ban hành nghị quyết số 128, có hiệu lực từ ngày 11/10/2021. Nghị định đưa ra các hướng dẫn theo cách tiếp cận “Thích ứng an toàn với COVID-19”.

Nghị quyết đưa ra các đánh giá tình hình đại dịch tại từng địa phương theo 2 tiêu chí chính: tỷ lệ người từ 18 tuổi trở lên được tiêm chủng và số ca mắc mới trên 100.000 dân trong một tuần.

Theo đó, Chính phủ đánh dấu các khu vực lây nhiễm theo màu đỏ, cam, vàng và xanh lá cây lần lượt là ‘nguy cơ rất cao’, ‘nguy cơ cao’, ‘nguy cơ trung bình’ và ‘nguy cơ thấp’ (TP.HCM là khu vực có ‘nguy cơ cao’ trong khi Hà Nội có ‘nguy cơ thấp’).

Đáng chú ý, nghị quyết dừng việc thực hiện các quy định trước đây về hạn chế di chuyển, bao gồm Chỉ thị 15, 16 và 19 và Quyết định 2686.

Biểu đồ 6: Tổng quan về các biện pháp hạn chế của quốc gia ASEAN 

Kết quả là, hoạt động di chuyển đã cải thiện đáng kể trong tháng vừa qua lên mức tương đương với Thái Lan, Philippines và Malaysia trong tháng 8/2021 (Bảng 6).

Nhu cầu trong nước tăng dần từ Q4/2021

Trong tháng 9/2021, doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ trong nước (308,8 nghìn tỷ đồng) tăng 6,5% so với tháng trước sau khi bắt đầu nới lỏng các hạn chế tại các địa phương nơi đã kiểm soát được dịch bệnh và cho phép các hoạt động dịch vụ hoạt động trở lại.

Biểu đồ 7: Dữ liệu di chuyển của Việt Nam và doanh số bán lẻ 

Thời gian tới, chúng tôi kỳ vọng nhu cầu trong nước sẽ tiếp tục cải thiện trong Q4/2021. Dữ liệu của Google cho thấy hoạt động di chuyển hàng ngày đến các khu vực bán lẻ và vui chơi giải trí đã cải thiện rõ rệt, những hoạt động này có mức độ tương quan cao với doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ (Bảng 7).

Hoạt động dịch vụ liên quan đến du lịch, bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi biến thể Delta, trong đó, doanh số bán lẻ dịch vụ lưu trú, ăn uống và dịch vụ du lịch giảm lần lượt 22% và 64% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2021. Tuy nhiên, những hoạt động này được kỳ vọng sẽ dần phục hồi trong Q4/2021.

Côn Đảo, Quảng Bình và Thanh Hóa là một trong số ít các địa phương chuẩn bị mở cửa cho khách du lịch trong nước tiêm phòng đầy đủ từ giữa tháng 10/2021. Cơ quan chức năng tại Quảng Ninh, nơi có Vịnh Hạ Long, lên kế hoạch đón khách liên tỉnh trở lại Khu du lịch quốc tế Tuần Châu và điểm du lịch Yên Tử từ tháng 11/2021.

Đầu tháng 10/2021, tỉnh Hòa Bình và Sa Pa, một thị trấn thu hút khách du lịch nổi tiếng của tỉnh Lào Cai, đã mở cửa đón khách du lịch trong nước được tiêm chủng đầy đủ (Mời xem: Thêm điểm đến đón khách nội địa trở lại, ngày 13/10/2021, VnExpress).

Tuy nhiên, cần thận trọng…

Tuy nhiên, thị trường lao động đã suy yếu đáng kể trong Q3/2021 và sẽ cần thời gian để phục hồi. Tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt lên mức cao kỷ lục 3,98% so với 2,6% trong Q2/2021 và so với tỷ lệ thất nghiệp bình quân là 2,3% trong giai đoạn 2011-2021 (Bảng 8). Thu nhập bình quân của người lao động cũng giảm mạnh 10,4% so với cùng kỳ trong Q3/2021.

Biểu đồ 8: Tỷ lệ thất nghiệp và thu nhập bình quân đầu người hàng tháng của Việt Nam 

Nếu tính cả tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm, con số này là 8,44% trong Q3/2021 so với 4,32% trong 1Q20, tương đương với 3,56 triệu người (Hình 9).

Biểu đồ 9: Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm 

Biểu đồ 10: Thay đổi lực lượng lao động theo ngành nghề 

Lực lượng lao động giảm 2,8 triệu người so với mức trước đại dịch (trong Q1/2020) (Bảng 10). Theo lĩnh vực, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản (NLTS) tăng 0,4 triệu người, trong khi khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ giảm lần lượt 0,9 triệu và 2,4 triệu người.

Theo một cuộc khảo sát do Tổng cục Thống kê thực hiện gần đây, khoảng 1,3 triệu người lao động đã trở về quê hương trong khoảng thời gian từ tháng 7 đến tháng 9/2021. Trong số này, có khoảng 324.000 người từ Hà Nội, 292.000 người từ TP.HCM và 450.000 người từ các địa phương phía Nam khác trở về quê hương. Số liệu thống kê vẫn chưa bao gồm hàng chục nghìn người về quê từ đầu tháng 10/2021 sau khi TP.HCM và các tỉnh lân cận nới lỏng các hạn chế.

Lực lượng lao động và thu nhập người lao động giảm, đặc biệt là trong lĩnh vực dịch vụ, sẽ tác động đến tốc độ phục hồi của tiêu dùng cá nhân và hoạt động sản xuất, vốn đã khá trầm lắng trong Q3/2021. Theo Tổng cục Thống kê, tiêu dùng cuối cùng giảm 2,83% so với cùng kỳ trong khi ngành công nghiệp chế biến & chế tạo giảm 3,24% so với cùng kỳ trong Q3/2021 – mức giảm đầu tiên kể từ khi bắt đầu thu thập số liệu vào Q1/2000.

Mặc dù vậy, chúng tôi kỳ vọng lực lượng lao động sẽ tăng dần trở lại trong Q4/2021. Trong một bài báo gần đây của VnExpress, người lao động từ Tây Nguyên đang đổ về TP.HCM và các tỉnh lân cận để đưa hoạt động sản xuất & chế tạo trở lại bình thường (Mời xem: Người lao động trở lại các trung tâm công nghiệp phía Nam của Việt Nam sau giai đoạn phong tỏa, VnExpress, 17/10/2021).

Chúng tôi dự báo ngành dịch vụ sẽ tăng 2% so với cùng kỳ trong Q4/2021 so với giảm 9,28% so với cùng kỳ trong Q3/2021 chủ yếu nhờ doanh số bán buôn và bán lẻ tăng 4% so với cùng kỳ so với giảm 19,9% so với cùng kỳ trong Q3/2021.

Đầu tư công sẽ tăng trong Q4/2021?

Theo Tổng cục Thống kê, trong 9 tháng đầu năm 2021, đầu tư công (276,3 nghìn tỷ đồng) chỉ tương đương với 57,3% kế hoạch năm 2021 của Chính phủ (477,3 nghìn tỷ đồng, “Quyết định 1927” của Bộ Tài chính) và giảm 6,9% so với cùng kỳ so với mức tăng 30,6% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2020 (Bảng 11).

Biểu đồ 11: Đầu tư công sử dụng ngân sách nhà nước 9 tháng đầu năm 2021 

Phân bổ theo các Bộ ngành trung ương, chỉ có Bộ Giao thông vận tải và Bộ Y tế đạt tỷ lệ giải ngân trên 60% kế hoạch cả năm (Bảng 12). Các Bộ khác giải ngân với tốc độ chậm hơn nhiều so với năm ngoái kể từ đầu năm.

Biểu đồ 12: Đầu tư công: phân theo các bộ ngành chủ chốt 

Các nguyên nhân chính khiến tiến độ giải ngân vốn đầu tư công chậm chạp, đặc biệt trong Q3/2021 (giảm 28,2% so với cùng kỳ) là do các biện pháp phong tỏa chặt chẽ nhằm kiểm soát biến thể Delta, hạn chế đi lại, các thủ tục cách ly và nhập cảnh kéo dài và phức tạp đối với các chuyên gia, vấn đề GPMB và giá vật liệu xây dựng tăng đột biến.

Các dự án ODA, chiếm khoảng 10% tổng vốn đầu tư công, chịu ảnh hưởng nghiêm trọng hơn.

Thủ tướng Phạm Minh Chính vừa yêu cầu các Bộ và địa phương liên quan đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, đạt 95% kế hoạch năm 2021 (Mời xem: Thủ tướng yêu cầu nỗ lực hoàn thành 95% kế hoạch giải ngân vốn đầu tư công năm 2021, ngày 28/9/2021, Thông tấn xã Việt Nam). Do đó, cùng với việc ngừng thực hiện Chỉ thị 15, 16 và 19 và Quyết định 2686 về hạn chế di chuyển, chúng tôi kỳ vọng đầu tư công sẽ cải thiện rõ rệt trong Q4/2021.

Kim ngạch xuất khẩu sẽ tăng nhanh nhưng vẫn còn nhiều thách thức

Các doanh nghiệp được kỳ vọng sẽ tăng trưởng trở lại trong Q4/2021, hỗ trợ nền kinh tế định hướng xuất khẩu. Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu cải thiện có thể vẫn chưa đồng đều do chuỗi cung ứng và logistics vẫn gặp khó khăn cùng với tình trạng thiếu hụt lao động.

Biểu đồ 13: Năm sản phẩm xuất khẩu hàng đầu trong khoảng thời gian nửa đầu tháng 1 năm 2013 đến nửa đầu tháng 10 năm 2021 

Theo số liệu mới nhất về hoạt động thương mại trong nửa đầu tháng 10/2021, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may (giảm 2,4% so với cùng kỳ) và giày dép (giảm 37,1% so với cùng kỳ) tiếp tục bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi tình trạng thiếu hụt lao động (Bảng 13).

Theo Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam, ông Vũ Đức Giang, ngành công nghiệp may mặc của Việt Nam có thể thiếu tới 37% lao động trong phần còn lại của năm 2021. Bà Phan Thị Thanh Xuân, Phó chủ tịch Hiệp hội Da giày và Túi xách Việt Nam, cho biết khoảng 40% nhân viên trong ngành giày đã về quê và không rõ bao nhiêu người sẽ quay trở lại, Bloomberg).

Pou Chen, nhà sản xuất giày lớn nhất thế giới cho những doanh nghiệp như Nike và Adidas, đã mở cửa trở lại các cơ sở tại TP.HCM vào ngày 6/10/2021 lần đầu tiên kể từ tháng 7/2021 và thiếu hụt 40.000 lao động trên tổng số 56.000 lao động khi hoạt động bình thường (Mời xem: Nghịch lý lao động về quê khiến các nhà máy Việt Nam quay cuồng, ngày 28/9/2021, Thông tấn xã Việt Nam).

Tuy nhiên, giai đoạn tồi tệ nhất đối với ngành dệt may và xuất khẩu giày dép đã qua. Mặc dù sụt giảm so với cùng kỳ, nhưng kim ngạch xuất khẩu 2 ngành này vẫn tăng lần lượt 22,5% và 26,9% so với tháng trước trong nửa đầu tháng 10 2021.

Kim ngạch xuất khẩu điện thoại, máy tính và máy móc phục hồi rõ ràng hơn (Bảng 13). Kim ngạch xuất khẩu máy móc đã tăng 24,6% so với cùng kỳ và 29,9% so với tháng trước trong nửa đầu tháng 10/2021.

Các nhà máy của Tập đoàn Intel và Samsung đặt mục tiêu khôi phục lại toàn bộ hoạt động của các nhà máy tại TP.HCM vào cuối tháng 11/2021, một động thái có thể hỗ trợ chuỗi cung ứng toàn cầu.

Trong một cuộc phỏng vấn qua điện thoại, PGĐ Khu Công nghệ cao Sài Gòn cũng đang hỗ trợ các khách thuê, nhiều trong số đó hiện đang hoạt động ở mức khoảng 70% công suất, và sẽ nỗ lực hoạt động hết công suất vào tháng tới (Mời xem: Intel, Samsung Eye Fully Running Ho Chi Minh Plants in Weeks, ngày 12/10/2021, Bloomberg).

Nhìn chung, HSC dự báo kim ngạch xuất khẩu sẽ lấy lại đà tăng trưởng, theo đó, ngành công nghiệp chế biến & chế tạo sẽ tăng 7% so với cùng kỳ trong Q4/2021 so với giảm 3,24% so với cùng kỳ trong Q3/2021. Bên cạnh xuất khẩu, ngành xây dựng có thể tăng 7,53% so với cùng kỳ trong Q4/2021 nhờ Chính phủ đẩy mạnh đầu tư công; ngành công nghiệp và xây dựng được kỳ vọng sẽ tăng 6,2% so với cùng kỳ trong Q4/2021 so với giảm 3,5% so với cùng kỳ trong Q3/2021.

Chính phủ kỳ vọng triển vọng năm 2022 sẽ tích cực

Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XV sẽ bắt đầu từ ngày 20/10/202 và bế mạc vào ngày 13/11/2021. Quốc hội sẽ thảo luận và quyết định các nội dung quan trọng như các báo cáo về (1) đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2021; (2) Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2022, dự toán ngân sách nhà nước và phương án phân bổ ngân sách trung ương năm 2022.

Tại phiên khai mạc vào thứ tư tuần trước, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã phát biểu trước Quốc hội với mục tiêu tăng trưởng GDP của năm 2022 đạt khoảng 6%-6,5% (so với dự báo tăng trưởng 6,8% của HSC). Lạm phát dự kiến sẽ ở mức dưới 4%. Năm 2021, Chính phủ ước tính GDP sẽ tăng trưởng khoảng 3%-3,5% (so với dự báo tăng trưởng 2,08% của HSC).

Triển vọng kinh tế do Thủ tướng đưa ra hôm thứ tư sẽ được quốc hội thảo luận trước khi đề ra các mục tiêu kinh tế chính thức cho năm 2022. Các mục tiêu này sẽ được xác nhận trước khi kỳ họp kết thúc vào giữa tháng 11/2021.

Cập nhật số liệu kinh tế vĩ mô

GDP giảm 6,17% so với cùng kỳ trong Q3/2021, mức thấp nhất trong lịch sử. Do đó, HSC hạ dự báo tăng trưởng GDP năm 2021 xuống 2,08% do tỷ lệ thất nghiệp tăng và GDP Q3/2021 thấp hơn dự báo. HSC duy trì dự báo GDP năm 2022 và 2023 tăng trưởng lần lượt 6,80% và 6,50%. CPI tăng vừa phải 2,06% so với cùng kỳ do chi phí giáo dục giảm. Giá trị sản xuất công nghiệp giảm 5,5% so với cùng kỳ trong bối cảnh ngành công nghiệp chế biến & chế tạo tiếp tục suy yếu. Việt Nam lần đầu nhập siêu (0,36 tỷ USD) kể từ tháng 3/2021, từ đó thu hẹp thâm hụt thương mại lũy kế 9 tháng đầu năm 2021 xuống còn 2,6 tỷ USD. Vốn FDI giải ngân giảm nhưng vốn FDI đăng ký tăng 4,4% so với đầu năm cho thấy dòng vốn FDI tiếp tục chuyển dịch vào Việt Nam. Doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ giảm 28,4% so với cùng kỳ nhưng tăng trở lại 6,5% so với tháng trước trong tháng 9/2021.

GDP

GDP Việt Nam giảm 6,17% so với cùng kỳ trong Q3/2021, mức thấp nhất trong lịch sử

GDP Q3/2021 của Việt Nam giảm 6,17% so với cùng kỳ từ tăng 6,57% so với cùng kỳ (điều chỉnh giảm từ tăng 6,61% so với cùng kỳ) trong Q2/2021 và tăng 4,65% so với cùng kỳ trong Q1/2021, thấp hơn dự báo giảm 2,5% so với cùng kỳ của chúng tôi (Mời xem: Vĩ mô đầu tuần: Số liệu kinh tế tháng 9/2021, ngày 27/9/2021, HSC), từ đó kéo tăng trưởng GDP 9 tháng đầu năm 2021 còn tăng 1,42% so với cùng kỳ so với tăng 2,12% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2020.

Theo khu vực:

  • Khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng trưởng chậm lại từ 4,01% so với cùng kỳ trong Q2/2021 xuống tăng 1,04% so với cùng kỳ trong Q3/2021, thấp hơn tăng 2,79% so với cùng kỳ trong Q3/2020 do các biện pháp giãn cách xã hội và phong tỏa khiến chuỗi sản xuất và cung ứng của các sản phẩm nông, lâm và thủy sản bị gián đoạn.
  • Khu vực công nghiệp và xây dựng giảm 5,02% so với cùng kỳ so với tăng 10,36% so với cùng kỳ trong Q2/2021 và tăng 3,2% so với cùng kỳ trong Q3/2020, lần giảm đầu tiên trong khu vực này kể từ khi số liệu theo quý được thu thập từ Q1/2000.
  • Bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi các biện pháp phong tỏa, khu vực dịch vụ giảm 9,28% so với cùng kỳ so với tăng 4,22% so với cùng kỳ trong Q2/2021 bất chấp mức nền tương đối thấp trong Q3/2020 (tăng 2,8% so với cùng kỳ) (Bảng 14).

Biểu đồ 14: Tăng trưởng GDP theo ngành 

Cụ thể, các ngành tăng trưởng âm bao gồm thủy sản (giảm 4,89% so với cùng kỳ so với tăng 5,03% so với cùng kỳ trong Q2/2021), khai khoáng (giảm 8,25% so với cùng kỳ so với giảm 4,68% so với cùng kỳ trong Q2/2021), đánh dấu quý giảm thứ 8 liên tiếp, ngành công nghiệp chế biến & chế tạo (giảm 3,24% so với cùng kỳ so với tăng 13,35% so với cùng kỳ trong Q2/2021), sản xuất và phân phối điện (giảm 1,18% so với cùng kỳ so với tăng 12,83% so với cùng kỳ trong Q2/2021), cấp nước (giảm 0,23% so với cùng kỳ so với tăng 7,85% so với cùng kỳ trong Q2/2021), xây dựng (giảm 11,41% so với cùng kỳ so với tăng 6,52% so với cùng kỳ trong Q2/2021), doanh số bán buôn và bán lẻ (giảm 19,9% so với cùng kỳ so với tăng 4,65% so với cùng kỳ trong Q2/2021), vận tải & kho bãi (giảm 21,1% so với cùng kỳ so với giảm 0,11% so với cùng kỳ trong Q2/2021), dịch vụ lưu trú và ăn uống (giảm 54,8% so với cùng kỳ so với giảm 4,47% so với cùng kỳ trong Q2/2021), đánh dấu quý giảm thứ 7 liên tiếp, hoạt động kinh doanh BĐS (giảm 9,72% so với cùng kỳ so với tăng 4,18% so với cùng kỳ trong Q2/2021) và nghệ thuật & giải trí (giảm 7,87% so với cùng kỳ so với giảm 4,31% so với cùng kỳ trong Q2/2021).

Về mặt tích cực, các ngành tăng trưởng trên 5% bao gồm thông tin & truyền thông (tăng 5,3% so với cùng kỳ so với tăng 5,31% so với cùng kỳ trong Q2/2021), hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm (tăng 7,13% so với cùng kỳ so với tăng 9,50% so với cùng kỳ trong Q2/2021) và y tế (tăng 38,65% so với cùng kỳ so với tăng 13,71% so với cùng kỳ trong Q2/2021) (Bảng 15).

Về sử dụng GDP, tiêu dùng cuối giảm 2,83% so với cùng kỳ trong Q3/2021. Ngoài ra, kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng chậm hơn so với kim ngạch nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ (tăng 2,51% so với cùng kỳ so với tăng 10,75% so với cùng kỳ) trong quý cũng góp phần khiến GDP giảm.

Biểu đồ 15: Cơ cấu GDP thoe ngành 

Biểu đồ 16: Lạm phát tổng thể 

Biểu đồ 17: Đóng góp vào lạm phát tổng thể

Điều này chủ yếu là do chi phí giáo dục giảm (giảm 1,09% so với cùng kỳ so với tăng 3,98% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021), nhờ một số các địa phương, bao gồm Hà Nội, Đà Nẵng và Quảng Ninh, miễn giảm học phí năm học 2021-2022.

Các động lực chính khác khiến lạm phát tăng chậm lại bao gồm nhà ở & vật liệu xây dựng (tăng 1,63% so với cùng kỳ so với tăng 4,34% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021) và chi phí giao thông (tăng 13,58% so với cùng kỳ so với tăng 13,63% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021) (Bảng 17).

Mặc dù vậy, chi phí lương thực & thực phẩm tiếp tục tăng (tăng 1,30% so với cùng kỳ so với tăng 1,15% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021) chủ yếu do nhu cầu bột mì, ngô, khoai và các loại ngũ cốc khác trong đợt Tết Trung thu tăng.

Trong khi đó, lạm phát tổng thể và lạm phát cơ bản bình quân 9 tháng lần lượt tăng 1,82% và 0,88% so với cùng kỳ, mức thấp nhất kể từ năm 2016 (Bảng 18) và thấp hơn nhiều so với mục tiêu 4,0% của Chính phủ.

Xu hướng lạm phát sát với dự báo tăng 2,3% đối với lạm phát bình quân năm 2021 của chúng tôi. Ngoài ra, HSC duy trì dự báo lạm phát bình quân sẽ duy trì ở mức dưới 4,0% trong năm 2022 và 2023 (lần lượt là 3,5% và 3,0%) (Mời xem: Hạ dự báo GDP năm 2021 và 2022, 30/8/2021, HSC).

Do lạm phát được kiểm soát, chúng tôi kỳ vọng NHNN sẽ duy trì chính sách tiền tệ phù hợp để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ít nhất là trong phần còn lại của năm 2021.

Biểu đồ 18: Lạm phát bình quân 9 tháng đầu năm 

Giá trị sản xuất công nghiệp giảm 5,5% so với cùng kỳ

Biểu đồ 19: Chỉ số ngành công nghiệp chế biến & chế tạo 

Giá trị sản xuất công nghiệp giảm 5,5% so với cùng kỳ so với giảm 7,8% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021. Ngành công nghiệp chế biến & chế tạo giảm 4,9% so với cùng kỳ sau khi giảm 9,3% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021 (Bảng 19).

Biểu đồ 20: Động lực chính cho hoạt động sản xuất 

Ngành điện tử gia dụng còn sụt giảm mạnh hơn (giảm 47,1% so với cùng kỳ so với giảm 38,2% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021). Trong khi đó, tốc độ sụt giảm của ngành dệt may (giảm 30,2% so với cùng kỳ so với giảm 32,7% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021) và giày dép (giảm 21,7% so với cùng kỳ so với giảm 28,3% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021) đã chậm lại (Bảng 20).

Về mặt tích cực, ngành linh kiện điện tử (tăng 0,1% so với cùng kỳ so với giảm 8,1% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021) và thiết bị truyền thông (tăng 10,1% so với cùng kỳ so với giảm 2,5% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021) đã tăng trở lại.

Mặc dù vậy, sụt giảm trong tháng 9/2021 tiếp tục kéo giảm tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp và chỉ số công nghiệp chế biến & chế tạo trong 9 tháng đầu năm 2021 xuống còn tăng lần lượt 4,1% so với cùng kỳ và 5,5%, so với cùng kỳ từ tăng lần lượt 5,7% và 7,0% so với cùng kỳ trong 8 tháng đầu năm 2021. Tuy nhiên, đây vẫn là mức tăng cao hơn so với cùng kỳ năm ngoái (tăng lần lượt 2,4% và 3,8% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2020).

Ngoài ra, ngành khai khoáng giảm (giảm 6,4% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2021 so với giảm 7,4% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2020) đã ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng chung của hoạt động sản xuất công nghiệp.

Kim ngạch xuất khẩu tháng 9/2021 giảm nhẹ hơn so với tháng 8/2021

Kim ngạch xuất khẩu tháng 9/2021 giảm 0,5% so với cùng kỳ (sau điều chỉnh) so với giảm 1,7% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021 (Bảng 21).

Các ngành chủ chốt tăng trưởng âm bao gồm hàng dệt may (giảm 21,1% so với cùng kỳ so với giảm 10,8% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021), giày dép (giảm 45,9% so với cùng kỳ so với giảm 39,5% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021), gỗ và sản phẩm từ gỗ (giảm 39,5% so với cùng kỳ so với giảm 30,2% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021), sản phẩm thủy sản (giảm 23,9% so với cùng kỳ so với giảm 26,6% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021).

Ngoài ra, tăng trưởng chậm lại đối với máy móc (tăng 5,7% so với cùng kỳ so với tăng 17,2% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021), sợi (tăng 33,6% so với cùng kỳ so với tăng 56,1% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021) và sản phẩm nhựa (tăng 17,4% so với cùng kỳ so với tăng 30,5% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021).

Biểu đồ 21: Đóng góp vào tăng trưởng xuất khẩu 

Biểu đồ 22: Đóng góp vào tăng trưởng nhập khẩu 

Về mặt tích cực, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm liên quan đến công nghệ đã tăng trở lại. Điện thoại các loại tăng 9,3% so với cùng kỳ so với tăng 4,0% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021. Máy tính và sản phẩm điện tử cũng tăng 6,8% so với cùng kỳ so với tăng 0,9% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021.

Kim ngạch nhập khẩu tăng chậm lại 10,2% so với cùng kỳ ((sau điều chỉnh) trong tháng 9/2021 từ tăng 20,4% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021 (Bảng 22). Các ngành chủ chốt khiến tăng trưởng giảm bao gồm máy tính và sản phẩm điện tử (tăng 9,3% so với cùng kỳ so với tăng 15,5% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021), máy móc (tăng 7,1% so với cùng kỳ so với tăng 25,6% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021), vải (tăng 0,8% so với cùng kỳ so với tăng 10,3% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021), nhựa (tăng 8,3% so với cùng kỳ so với tăng 40,9% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021), ô tô (giảm 19,7% so với cùng kỳ so với tăng 5,9% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021), và dệt may và nguyên phụ liệu giày dép (giảm 6,0% so với cùng kỳ so với tăng 3,8% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021). Trong khi đó, điện thoại các loại tiếp tục tăng mạnh (tăng 18,2% so với cùng kỳ so với tăng 16,2% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021).

So với tháng trước, kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu giảm lần lượt 0,7% và 2,5%.

Trong 9 tháng đầu năm 2021, kim ngạch xuất khẩu (240,6 tỷ USD) và kim ngạch nhập khẩu (243,2 tỷ USD) tăng lần lượt 18,8% và 30,8% so với cùng kỳ so với lần lượt tăng 4,1% và giảm 0,8% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2020. Trong 9 tháng đầu năm 2021, kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường chính bao gồm Mỹ (69,8 tỷ USD), Trung Quốc (38,5 tỷ USD) và châu Âu (28,8 tỷ USD) lần lượt tăng 27,6%, 18,3% và 11,6% so với cùng kỳ nhờ nhu cầu cải thiện sau khi tiếp tục triển khai vắc-xin tại những các quốc gia này.

Trong tháng 9/2021, Việt Nam lần đầu ghi nhận xuất siêu ước tính là 0,36 tỷ USD kể từ tháng 3/2021, từ đó thu hẹp thâm hụt thương mại lũy kế 9 tháng đầu năm 2021 xuống còn 2,6 tỷ USD so với thặng dư thương mại 16,7 tỷ USD trong 9 tháng đầu năm 2020.

Xu hướng thâm hụt kéo dài và liên tục gần đây cho thấy triển vọng thương mại năm 2021 xấu đi và theo đó, chúng tôi hạ dự báo thặng dư thương mại xuống 4,3 tỷ USD trong năm 2021 so với thặng dư 19,9 tỷ USD trong năm 2020 (Mời xem: Điều chỉnh dự báo thương mại do dịch COVID-19 bùng phát, 4/9/2021, HSC).

Vốn FDI giải ngân giảm nhưng vốn FDI đăng ký tăng

Trong 9 tháng đầu năm 2021, vốn FDI giải ngân giảm 3,5% so với cùng kỳ xuống 13,28 tỷ USD sau khi giảm 3,2% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2020 (Bảng 23). Về mặt tích cực, FDI đăng ký (22,15 tỷ USD) tăng 4,4% so với cùng kỳ so với giảm 18,9% trong 9 tháng đầu năm 2020.

Về FDI giải ngân, ngành công nghiệp chế biến & chế tạo (9,57 tỷ USD) đóng góp 72,1%, hoạt động kinh doanh BĐS (1,74 tỷ USD) đóng góp 13,1% và lĩnh vực sản xuất, phân phối điện, khí đốt (1,13 tỷ USD) đóng góp 8,5%.

Biểu đồ 23: Vốn FDI giải ngân 

Biểu đồ 24: Đầu tư công sử dụng ngân sách nhà nước 

Vốn FDI đăng ký mới (12,5 tỷ USD) tăng 20,6% so với cùng kỳ so với giảm 5,6% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2020 và tập trung vào các dự án năng lượng, bao gồm các nhà máy nhiệt điện LNG do Singapore phát triển 3,1 tỷ USD (Long An 1 và 2) tại tỉnh Long An, Nhà máy nhiệt điện 1,3 tỷ USD do Nhật Bản phát triển (Ô Môn 2) tại thành phố Cần Thơ và nhà máy pin mặt trời 498 triệu USD do Hồng Kông phát triển ở tỉnh Quảng Ninh.

Trong khi đó, vốn bổ sung cho các dự án hiện hữu (6,43 tỷ USD) cũng tăng 25,6% so với cùng kỳ so với tăng 6,8% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2020. Một trong những dự án quan trọng là đầu tư bổ sung 1,5 tỷ USD vào nhà máy LG Display Hải Phòng vào ngày 31/8/2021 (tổng vốn đầu tư vào dự án này hiện là 4,65 tỷ USD).

Mặc dù vậy, các biện pháp hạn chế đi lại kéo dài tiếp tục cản trở các NĐT đưa ra quyết định đầu tư. Góp vốn mua cổ phần (3,22 tỷ USD) giảm 43,8% so với cùng kỳ so với giảm 44,9% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2020.

Do các tỉnh thành lớn hiện đang thực hiện phong tỏa, giãn cách xã hội và hạn chế di chuyển đã cản trở việc triển khai các dự án đầu tư công.

Trong tháng 9/2021, đầu tư công là 34,7 nghìn tỷ đồng (giảm 31,8% so với cùng kỳ) (Bảng 24). Trong 9 tháng đầu năm 2021, đầu tư (276,3 nghìn tỷ đồng) chỉ tương đương 57,3% kế hoạch năm 2021 của Chính phủ (477,3 nghìn tỷ đồng) và giảm 6,9% so với cùng kỳ so với tăng 30,6% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2020.

Tính đến ngày 15/9/2021, thặng dư ngân sách nhà nước đạt 58,6 nghìn tỷ đồng so với mức thâm hụt dự kiến 343,7 nghìn tỷ đồng theo kế hoạch năm 2021 (“Quyết định 1927” của Bộ Tài chính). Trong đó, thu ngân sách cao hơn (1.034 nghìn tỷ đồng, tương đương 77% kế hoạch năm 2021) so với chi ngân sách (975,6 nghìn tỷ đồng, tương đương 57,8% kế hoạch năm 2021).

Doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ tháng 9/2021 giảm 28,4% so với cùng kỳ nhưng hồi phục 6,5% so với tháng trước

Doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ hàng tháng (308,8 nghìn tỷ đồng) giảm 28,4% so với cùng kỳ nhưng tăng 6,5% so với tháng trước. Theo đó, doanh thu số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ giảm 7,1% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2021 so với tăng 0,7% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2020.

Doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ giảm do doanh số bán lẻ hàng hóa (270,8 nghìn tỷ đồng, giảm 21,0% so với cùng kỳ), doanh số bán lẻ dịch vụ lưu trú và ăn uống (19,4 nghìn tỷ đồng, giảm 53,6% so với cùng kỳ) và dịch vụ du lịch (76 tỷ đồng, giảm 92,4% so với cùng kỳ) (Bảng 25).

Mặc dù vậy, doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ tăng so với tháng trước nhờ dịch COVID-19 đã được kiểm soát tại một số địa phương, cho phép các hoạt động dịch vụ hoạt động trở lại. Hoạt động di chuyển trong nước cũng cải thiện thông qua số lượng hành khách vận chuyển trong nước tăng 12,4% so với tháng trước nhưng vẫn giảm 70,7% so với cùng kỳ (Bảng 27).

Biểu đồ 25: Doanh số bán lẻ sản phẩm, dịch vụ hàng tháng 

Biểu đồ 26: Lưu lượng khách quốc tế hàng tháng 

Biểu đồ 27: Lưu lượng khách di chuyển trong nước hàng tháng 

Do hầu như không thực hiện các chuyến bay thương mại kể từ tháng 4/2020, lượng khách du lịch quốc tế giảm 31,0% so với cùng kỳ xuống còn 9,5 nghìn lượt (Bảng 26); những lượt khách này chủ yếu là các chuyên gia nước ngoài và lao động tay nghề cao đến từ Trung Quốc (3,1 nghìn lượt), Hàn Quốc (2,1 nghìn lượt), Nhật Bản (344 lượt), Mỹ (408 lượt) và châu Âu (1,1 nghìn lượt). Trong 9 tháng đầu năm 2021, tổng lượng khách du lịch đạt 115 nghìn lượt, giảm 97,0% so với cùng kỳ (so với giảm 70,6% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2020).

Chìa khóa cho sự hồi sinh ngành du lịch của Việt Nam sẽ phụ thuộc vào việc dỡ bỏ rộng rãi các hạn chế di chuyển. Trước tình hình làn sóng dịch COVID-19 mới, theo quan điểm của chúng tôi, điều này sẽ không xảy ra ít nhất đến đầu Q1/2022.

Dự báo kinh tế vĩ mô của HSC 

Lịch sự kiện kinh tế quan trọng 

Các cổ phiếu HSC khuyến nghị

Nguồn: HSC

Tuyên bố miễn trách nhiệm: Báo cáo chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin và nhà đầu tư chỉ nên sử dụng báo cáo phân tích này như một nguồn tham khảo. Dautucophieu.net sẽ không chịu bất kỳ trách nhiệm nào trước nhà đầu tư cũng như đối tượng được nhắc đến trong báo cáo này về những tổn thất có thể xảy ra khi đầu tư hoặc những thông tin sai lệch về doanh nghiệp.

CÁC TIN LIÊN QUAN

Gọi ngay
Messenger
Zalo
Mở tài khoản