Triển vọng kinh tế tươi sáng trong năm 2022-2023
GDP của Việt Nam được dự báo sẽ tăng trưởng 6,8% trong năm 2022 so với tăng trưởng 2,58% trong năm 2021 nhờ gói kích thích tài khóa hỗ trợ hoạt động đầu tư và hạ thuế VAT ước tính 3 tỷ USD nhằm thúc đẩy tiêu dùng phục hồi. GDP được dự báo sẽ tăng trưởng 6,7% trong năm 2023, vượt đường xu hướng tăng trưởng.
HSC dự báo kim ngạch xuất khẩu sẽ tăng trưởng chậm lại nhưng vẫn ở mức cao lần lượt là 14,1% & 13,1% trong năm 2022 và 2023, so với mức tăng trưởng 19% trong năm 2021 do nền kinh tế toàn cầu đang hồi phục chậm lại và chuỗi cung ứng vẫn đang gặp khó khăn.
Thặng dư thương mại dược dự báo sẽ tăng lên lần lượt 10 tỷ USD và 15 tỷ USD trong năm 2022 và 2023 so với 4,1 tỷ USD trong năm 2021. Theo đó, tài khoản vãng lai của Việt Nam sẽ thặng dư so với thâm hụt ước tính 1,5% GDP trong năm 2021 và hỗ trợ đồng VND ổn định. Tiêu dùng nội địa sẽ phục hồi mạnh mẽ hơn từ Q3/2022 sau khi giảm mạnh trong Q3/2021 và được hỗ trợ nhờ hoạt động du lịch quốc tế phục hồi.
HSC dự báo số lượng du khách quốc tế sẽ tăng lên lần lượt 2,46 triệu người và 4,95 triệu người trong năm 2022 và 2023, từ 157.300 người trong năm 2021.
HSC dự báo CPI sẽ tăng 3,19% trong năm 2022, sau đó sẽ tăng 2,68% trong năm 2023 do giá lương thực tăng và tác động của giá hàng hóa cơ bản tăng. Mặc dù chính sách tiền tệ nhìn chung vẫn được nới lỏng, hoạt động cho vay BĐS sẽ hạ nhiệt nhằm kiểm soát nợ xấu đang gia tăng (ước tính là 3,79% trong năm 2021) trong hệ thống ngân hàng.
Gói kích thích tiền tệ và tài khóa trị giá 347 nghìn tỷ đồng (15,3 tỷ USD) được kỳ vọng sẽ hỗ trợ nền kinh tế phục hồi, nhưng thâm hụt tài khóa có thể tăng lên 5,1% GDP trong năm 2022.
Biểu đồ 1: Các dự báo chính 
Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2022-2023
HSC dự báo GDP của Việt Nam sẽ tăng trưởng 6,8% trong năm 2022 so với tăng trưởng 2,58% trong năm 2021 nhờ gói kích thích tài khóa hỗ trợ hoạt động đầu tư và hạ thuế VAT nhằm thúc đẩy tiêu dùng phục hồi. GDP được dự báo sẽ tăng trưởng 6,7% trong năm 2023, cao hơn đường xu hướng tăng trưởng. HSC dự báo kim ngạch xuất khẩu sẽ tăng trưởng chậm lại nhưng vẫn ở mức cao lần lượt là 14,1% và 13,1% trong năm 2022 và 2023, so với tăng trưởng 19% trong năm 2021. Hoạt động xuất khẩu sẽ chậm lại do tốc độ hồi phục kinh tế trên toàn cầu chậm lại và chuỗi cung ứng vẫn gặp nhiều khó khăn. Tiêu dùng nội địa được kỳ vọng sẽ phục hồi mạnh mẽ trong nửa cuối năm 2022 sau khi hoạt động du lịch quốc tế mở cửa trở lại và nức nền thấp trong nửa cuối năm 2021. HSC dự báo CPI sẽ tăng 3,19% trong năm 2022, sau đó sẽ tăng 2,68% trong năm 2023 chủ yếu do giá thực phẩm tăng, đặc biệt là thịt, và giá hàng hóa tăng chuyển sang người tiêu dùng. Chính sách tiền tệ nới lỏng sẽ được duy trì trong năm 2022.
Dịch COVID-19 vẫn chưa kết thúc nhưng chiến dịch tiêm chủng đã phát huy tác dụng
Dịch COVID-19 bùng phát trong những tháng mùa đông, do biến thể Delta và Omicron liên tục lan rộng cùng với mối đe dọa từ các biến thể mới, tiếp tục cản trở tốc độ phục hồi của nền kinh tế toàn cầu (Bảng 2 và 3).
Số ca nhiễm mới hàng ngày trên toàn cầu liên tục đạt mức cao kỷ lục (Bảng 2), điều này cho thấy chỉ tiêm chủng vắc-xin là không đủ để loại bỏ hoàn toàn dịch COVID-19. Tuy nhiên, tiêm chủng vẫn đạt hiệu quả để chống lại những biến chứng xấu tới sức khỏe của dịch COVID-19, điều này thể hiện qua số ca tử vong hàng ngày thấp hơn nhiều so với cùng kỳ (Bảng 3).
Biểu đồ 2: Số ca nhiễm mới COVID-19 hàng ngày (bình quân 7 ngày) 
Biểu đồ 3: Số ca tử vong COVID-19 (bình quân 7 ngày) 
Tại khu vực ASEAN, số ca nhiễm mới hàng hàng tại Việt Nam duy trì cao tại mức trên 10.000 ca (bình quân 7 ngày) (Biểu đồ 4), tuy nhiên gần đây số ca nhiễm mới tại Philippines đã vượt qua Việt Nam như một điểm nóng mới về dịch COVID-19 (Biểu đồ 5).
Biểu đồ 4: Số ca nhiễm COVID-19 hàng ngày tại Việt Nam 
Biểu đồ 5: Số ca nhiễm mới COVID-19 tại ASEAN 
Tỷ lệ tử vong tại Việt Nam đã duy trì ổn định nhờ tỷ lệ dân số được tiêm chủng ở mức cao (Biểu đồ 6), mặc dù vẫn ở mức cao nhất trong khu vực ASEAN (Biểu đồ 7)
Biểu đồ 6: Số ca nhiễm và tử vong do COVID-19 tại Việt Nam 
Biểu đồ 7: Số ca tử vong do COVID-19 tại ASEAN
Vào đầu năm mới, Việt Nam nằm trong số 9 nước châu Á thái bình dương đạt tỷ lệ tiêm vắc xin mũi 2 trên 70%, 8 quốc gia còn lại bao gồm Singapore, Trung Quốc, Malaysia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, New Zealand và Đài Loan.
Việt Nam tiếp tục có tỷ lệ tiêm chủng hàng ngày cao nhất khu vực ASEAN với hơn 6.000 liều trên một triệu dân (Bảng 8) trong bối cảnh các nhà chức trách nỗ lực cung cấp cho tất cả người dân liều tiêm thứ ba tăng cường. Gần một phần ba dân số đã được tiêm nhắc lại.
Biểu đồ 8: Tỷ lệ tiêm chủng tại ASEAN
Biểu đồ 9: Dữ liệu di chuyển đến khu vực bán lẻ tại ASEAN 
Các nhà chức trách đặt mục tiêu tiêm mũi tăng cường cho tất cả người lớn (trên 18 tuổi) vào cuối Q1/2022 (Mời xem: Việt Nam đặt mục tiêu tiêm liều tăng cường cho tất cả người lớn vào tháng 3/2022, ngày 27/12/2021, VnExpress) và chúng tôi tin rằng Chính phủ có thể hoàn thành mục tiêu đúng hạn.
Nhờ tỷ lệ tiêm chủng ấn tượng, chiến lược “sống chung với COVID-19” của Chính phủ áp dụng từ ngày 11/10/2021, đã giúp loại bỏ dần các hạn chế di chuyển trong nước và nối lại một số chuyến bay du lịch quốc tế. Hiện tại, người dân đã được tự do tới các cơ sở bán lẻ & giải trí tương đương với các nước khác trong khu vực ASEAN (Bảng 9).
Biểu đồ 10: Xu hướng của các chỉ số kinh tế 
GDP năm 2021 tăng trưởng chậm nhất trong vòng 40 năm
GDP Q4/2021 cải thiện ổn định (Bảng 10) với tốc độ phục hồi mạnh hơn dự kiến tăng 5,22% so với cùng kỳ so với dự báo của HSC là tăng 3,87% so với cùng kỳ (Mời xem: Hạ dự báo GDP năm 2021 xuống 2,08% do GDP Q3 giảm, ngày 10/10/2021, HSC).
Biểu đồ 11: Tăng trưởng GDP hàng năm của Việt Nam trong giai đoạn 1981-2021 
GDP Q4/2021 tăng ổn định giúp GDP cả năm 2021 của Việt Nam tăng trưởng 2,58% so với tăng trưởng 2,91% trong năm 2020. Tuy nhiên, đây là tốc độ tăng trưởng chậm nhất kể từ năm 1980 (Bảng 11), phản ánh tác động nghiêm trọng của các biện pháp phong tỏa trong khoảng thời gian 5 tháng từ đầu tháng 6 đến đầu tháng 11/2021 (Bảng 9).
Biểu đồ 12: Tăng trưởng GDP năm 2021 theo ngành 
Động lực hồi phục chính trong Q4/2021 bao gồm lâm nghiệp (tăng 5,07% so với cùng kỳ), sản xuất (tăng 7,96% so với cùng kỳ), điện (tăng 5,48% so với cùng kỳ), thông tin & truyền thông (tăng 8,09% so với cùng kỳ), tài chính và ngân hàng (tăng 11,23% so với cùng kỳ), và chăm sóc sức khỏe (tăng 92,66% so với cùng kỳ) (Bảng 12).
Tuy nhiên, sự phục hồi giữa các ngành trong Q4/2021 không đồng đều. Dịch vụ vận tải và lưu trú giảm lần lượt khoảng 7% và 32% so với năm 2019 (Bảng 12), và trở thành 2 ngành chính sụt giảm của nền kinh tế, cùng với khai khoáng (giảm 2,71% so với cùng kỳ trong Q4/2021 so với giảm 9,08% so với cùng kỳ trong Q3/2021 – quý giảm thứ 9 liên tiếp) (Bảng 12).
Triển vọng năm 2022-2023 tươi sáng hơn
Biểu đồ 13: Đối tác thương mại chính của ASEAN và Việt Nam: dự báo GDP 
Trong năm 2022, HSC kỳ vọng Việt Nam sẽ cho thấy tốc độ tăng trưởng tốt trong bối cảnh các nền tảng kinh tế đang dần cải thiện sau khi các hoạt động trong nước mở cửa trở lại (nhờ tỷ lệ tiêm chủng cao) cùng với việc nền kinh tế toàn cầu, mặc dù chỉ tăng trưởng vừa phải, sẽ tiếp tục tăng trưởng vượt mức bình quân dài hạn (Bảng 13 và 14).
Biểu đồ 14: Tăng trường kinh tế toàn cầu và dự báo 
Các động lực tăng trưởng chính bao gồm các dịch vụ liên quan đến sản xuất và du lịch và sẽ được thảo luận ở phần sau của báo cáo này.
Biểu đồ 15: Xu hướng tăng trưởng GDP theo ngành và dự báo 
Biểu đồ 16: Đóng góp vào tăng trường GDP thực và dự báo 
Cụ thể, HSC dự báo GDP Việt Nam sẽ lần lượt tăng 5,0%, 5,5%, 11,2% và 5,7% so với cùng kỳ trong 4 quý tới (Bảng 15 và 16) và đưa tăng trưởng GDP của Việt Nam trong năm 2022 lên 6,8%, giữ nguyên so với dự báo trước đó của chúng tôi. Chúng tôi lạc quan hơn một chút so với mục tiêu 6-6,5% của Quốc hội cho năm 2022.
Trong tháng 7/2021, Quốc hội cũng đã thông qua Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội trung hạn trong 5 năm tới với mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2021-2025 đạt 6,5-7% (Mời xem: Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng bình quân tối thiểu 6,5% trong 5 năm tới, ngày 28/7/2021, Thông tin Chính phủ). Đây cũng là mục tiêu tăng trưởng GDP được thông qua trong giai đoạn 2016 – 2020, nhưng do tác động của đại dịch COVID-19, tốc độ tăng trưởng bình quân trong giai đoạn 2016 – 2020 chỉ đạt 6,0%.
Trong năm 2023, chúng tôi nâng dự báo tăng trưởng GDP lên 6,7% từ 6,5% trước đó (Mời xem: Hạ dự báo GDP năm 2021 và 2022, ngày 30/8/2021, HSC) nhờ tác động tích cực của gói kích thích kinh tế trị giá 15,3 tỷ USD sẽ được triển khai trong giai đoạn 2022-2023.
Biểu đồ 17: Đóng góp vào tăng trường GDP theo chi tiêu 
Về sử dụng GDP, chúng tôi dự báo hoạt động đầu tư và tiêu dùng sẽ phục hồi nhờ nhờ Chính phủ đẩy mạnh đầu tư công và hạ 2% thuế giá trị gia tăng. Đây đều là thành phần của gói kích thích tài khóa sẽ được triển khai trong 2 năm tới (Bảng 17).
Áp lực lạm phát sẽ gia tăng khi nền kinh tế hồi phục
HSC dự báo CPI sẽ tăng 135 điểm cơ bản, từ mức bình quân 1,84% trong năm 2021 lên khoảng 3,19% trong năm 2022. Sau đó, chúng tôi dự báo CPI sẽ tăng 2,68% trong năm 2023 (Bảng 18).
Chúng tôi giả định tác động của giá năng lượng sẽ giảm do mức nền cao trong năm 2021 (Bảng 19), nhưng áp lực tăng giá sẽ tăng lên đối với giá thực phẩm, đặc biệt là thịt (Bảng 20). Giá thịt dự báo sẽ tăng do giá nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi đều tăng.
Những yếu tố thúc đẩy lạm phát khác bao gồm giá hàng hóa cơ bản dần chuyền sang cho người tiêu dùng và thu nhập người lao động tăng khi thị trường lao động hồi phục sau giai đoạn phong tỏa.
Biểu đồ 18: Đóng góp vào tỷ lệ gia tăng CPI (so với cùng kỳ) và dự báo

Nếu nền phục hồi kinh tế đáng kể, tiêu dùng trong nước phục hồi cũng sẽ gây áp lực lên các yếu tố thúc đẩy nhu cầu.
Cuối cùng, chúng tôi cho rằng chi phí dịch vụ giáo dục sẽ tăng trong năm 2022 do Nghị định 81/2021/NĐ-CP đã đưa ra lộ trình tăng học phí trong năm học 2022-2023.
Biểu đồ 19: Giá dầu WTI bình quân tháng và dự báo 
Biểu đồ 20: Giá thịt lợn hơi bình quân hàng tháng và dự báo
Xuất khẩu vẫn sẽ là động lực tăng trưởng chính
Trong năm 2021, kim ngạch xuất khẩu (336,3 tỷ USD) và kim ngạch nhập khẩu (332,2 tỷ USD) tăng trưởng lần lượt 19,0% và 26,5%, so với tăng trưởng lần lượt 6,9% và 3,7% trong năm 2020, vượt dự báo của HSC là tăng trưởng lần lượt 15,6% và 22,8%. Do đó, Việt Nam xuất siêu 4,1 tỷ USD trong năm 2021 so với xuất siêu 19,9 tỷ USD trong năm 2020 (Bảng 20, 22).
Năm 2021, kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường chính bao gồm Mỹ (96,3 tỷ USD), Trung Quốc (56,1 tỷ USD) và 27 nước châu Âu & Anh (45,9 tỷ USD) tăng lần lượt 24,9%, 14,4% và 14,1% so với cùng kỳ, nhờ nhu cầu phục hồi sau khi triển khai tiêm chủng hiệu quả đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phục hồi kinh doanh sau khi các nền kinh tế mở cửa trở lại.
Biểu đồ 21: Đóng góp vào tăng trưởng xuất khẩu hàng năm 
Biểu đồ 22: Tình hình xuất khẩu các mặt hàng tốt nhất và yếu nhất trong năm 2021 
Động lực tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu trong năm 2021 bao gồm điện thoại các loại (tăng 12,4% so với cùng kỳ), máy tính và sản phẩm điện tử (tăng 14,0% so với cùng kỳ), máy móc (tăng 41,0% so với cùng kỳ), hàng dệt may (tăng 9,9% so với cùng kỳ), giày dép (tăng 5,7% so với cùng kỳ), gỗ và sản phẩm từ gỗ (tăng 19,7% so với cùng kỳ), sắt thép (tăng 124,3% so với cùng kỳ), phương tiện vận tải & phụ tùng ô tô (tăng 16,8% so với cùng kỳ), sản phẩm thủy sản (tăng 5,6% so với cùng kỳ), và sợi (tăng 50,2% so với cùng kỳ) (Bảng 21 và 22). Tuy nhiên, giày dép và các sản phẩm thủy sản bị xếp hạng là một trong số các sản phẩm xuất khẩu có mức độ tăng trưởng kém nhất trong năm 2021 (Bảng 22) do chuỗi cung ứng bị gián đoạn.
Biểu đồ 23: Đóng góp vào tăng trưởng KNNK hàng năm 
Biểu đồ 24: Xuất khẩu, nhập khẩu hàng tháng và cán cân thương mại 
Trong năm 2021, top 10 mặt hàng nhập khẩu hàng đầu bao gồm máy tính & sản phẩm điện tử (tăng 17,9% so với cùng kỳ), máy móc (tăng 24,3% so với cùng kỳ), điện thoại các loại (tăng 28,8% so với cùng kỳ), vải (tăng 20,6% so với cùng kỳ), nhựa (tăng 39,2% so với cùng kỳ), sắt thép (tăng 42,8% so với cùng kỳ), kim loại cơ bản khác (tăng 42,3% so với cùng kỳ), ô tô (tăng 35,0% so với cùng kỳ) sản phẩm nhựa (tăng 9,4% so với cùng kỳ), đều tăng trưởng ấn tượng (Bảng 23).
Trong năm 2022 và 2023, HSC dự báo các mặt hàng thương mại chính sẽ tiếp tục đà tăng trưởng mạnh mẽ (Bảng 24).
Trong dài hạn, hiệp định thương mại lớn nhất thế giới, Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), có hiệu lực từ tháng 1/2022, sẽ dần thúc đẩy các hoạt động thương mại của Việt Nam, nhờ chương trình giảm thuế quan. Đáng chú ý, Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ việc tiếp cận chuỗi cung ứng lớn hơn, bao gồm 10 quốc gia thành viên ASEAN, cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và New Zealand. Những nền kinh tế này chiếm 1/3 dân số thế giới và 30% GDP toàn cầu (26,2 nghìn tỷ USD) (Mời xem: Việt Nam được kỳ vọng sẽ hưởng lợi trong dài hạn từ hiệp định thương mại lớn nhất thế giới, ngày 7/1/2022, VnExpress).
Tại châu Á, Việt Nam là nền kinh tế duy nhất ngoài Singapore là thành viên của 3 hiệp định bao gồm RCEP, Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và một hiệp định thương mại ưu đãi với khu vực Eurozone và Vương quốc Anh.
Những rủi ro chính đối với triển vọng thương mại của Việt Nam bao gồm tình trạng thiếu hụt lao động kéo dài và chuỗi cung ứng trên toàn cầu bị gián đoạn. Những yếu tố này có thể cản trở hoạt động thương mại trên toàn cầu (bao gồm cả các đối tác thương mại chính của Việt Nam) và khiến hoạt động thương mại tăng trưởng chậm hơn kỳ vọng (Mời xem: Triển vọng kinh tế thế giới, tháng 1/2022, IMF). Trong báo cáo mới nhất, IMF hiện dự báo sản lượng thương mại toàn cầu sẽ tăng trưởng 6% trong năm 2022, thấp hơn 0,7 điểm phần trăm so với báo cáo trước đó.
Về những thách thức, hoạt động thương mại song phương của Việt Nam với Trung Quốc, đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, bị cản trở bởi chính sách “Zero COVID-19” của Trung Quốc. Trong năm 2021, các biện pháp kiểm soát biên giới của Trung Quốc đã làm gián đoạn sự phát triển thương mại song phương và khiến các doanh nghiệp ở cả hai nước thiệt hại đáng kể (Mời xem: Việt Nam kêu gọi Trung Quốc mở lại cửa khẩu, VnExpress, 2/1/2022, Bloomberg).
Từ đó, HSC hạ dự báo tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu & kim ngạch nhập khẩu trong năm 2022 và 2023 xuống lần lượt 14,1% & 13,1% và 12,5 & 12,1% (từ 14,4% & 14,1% và 14,5% & 13,6% trong dự báo trước đây) (Mời xem: Hoạt động thương mại vẫn là điểm sáng khi dịch COVID-19 bùng phát, 15/11/2021, HSC).
FDI sẽ là điểm sáng khác
Trong năm 2021, vốn FDI giải ngân giảm nhẹ 1,2% xuống 19,74 tỷ USD sau khi giảm 2,0% trong năm 2020 do ảnh hưởng của các biện pháp giãn cách xã hội và hạn chế đi lại. Về mặt tích cực, FDI cam kết (31,15 tỷ USD) tăng trưởng 9,2% sau khi giảm 25,0% trong năm 2020 (Bảng 25).
Biểu đồ 25: FDI sẽ là một điểm sáng 
Biểu đồ 26: Cơ cấu vốn FDI đăng ký mới 
Vốn FDI đăng ký (15,25 tỷ USD) tăng 4,1% năm 2021 so với giảm 12,5% trong năm 2020, tập trung chủ yếu vào ngành chế biến, chế tạo (chiểm 47,6%) và các dự án năng lượng (chiếm 34,9%) (Biểu đồ 26).
Biểu đồ 27: Tăng trưởng KNXK: FDI so với khu vực trong nước
Biểu đồ 28: Thị phần xuất khẩu của Việt Nam trên thế giới 
Bước sang năm 2022, những vấn đề về hạn chế di chuyển, thiếu hụt lao động và gián đoạn chuỗi cung ứng sẽ vẫn là những thách thức chính. Tuy nhiên, ảnh hưởng từ những vấn đề này sẽ giảm dần nhờ lộ trình mở cửa trở lại bền vững đang được các cơ quan chức năng thực hiện. Chúng tôi tin rằng Việt Nam sẽ nhanh chóng trở lại là quốc gia thu hút FDI hàng đầu châu Á.
Do đó, HSC dự báo FDI đăng ký và thực hiện sẽ tăng trưởng lần lượt 13,3% và 16,2% trong năm 2022 (từ tăng trưởng lần lượt 7,9% và 12,5% trong dự báo trước đây). Trong khi đó, HSC duy trì dự báo FDI đăng ký và thực hiện sẽ tăng trưởng lần lượt 10,0% và 15,0% trong năm 2023 (Mời xem: FDI tại Việt Nam: kết quả 5 tháng đầu năm 2021 như dự báo, 10/6/2021, HSC).
Xét về kim ngạch thương mại, Việt Nam là một trong những quốc gia công nghiệp lớn nhất châu Á về điện thoại di động, máy tính & điện tử, máy móc & phụ tùng ô tô, và hàng dệt may sử dụng nhiều lao động.
Hiện tại, khu vực FDI chiếm hơn 70% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam (Bảng 27). Các ngành công nghiệp liên quan đến FDI sẽ tiếp tục được hưởng lợi trong bối cảnh thị phần xuất khẩu của Việt Nam trên thế giới ngày càng tăng (Bảng 28) và một loạt các hiệp định thương mại tự do (FTA) như đã đề cập.
Gần đây, trong cuộc khảo sát do Tổ chức Ngoại thương Nhật Bản (JETRO) thực hiện, các doanh nghiệp Nhật Bản đã cho thấy kế hoạch mở rộng hoạt động sang Việt Nam (Mời xem: khảo sát của JETRO cho thấy 55,3% doanh nghiệp Nhật Bản có kế hoạch mở rộng hoạt động tại Việt Nam, ngày 20/1/2022, Thông tin Chính phủ).
Động lực thúc đẩy doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ hồi phục
Trong năm 2021, tổng số du khách quốc tế là 157,3 nghìn lượt, giảm 95,9% (so với giảm 78,7% trong năm 2020) (Bảng 29). Về mặt tích cực, kể từ tháng 11/2021, Việt Nam đã và đang chào đón du khách quốc tế trong nỗ lực từng bước mở cửa trở lại lĩnh vực du lịch. Kết quả là, lượng du khách quốc tế tăng 5,4% so với cùng kỳ đạt 17,2 nghìn lượt trong tháng 12/2021 từ 15 nghìn lượt trong tháng 11/2021 (Bảng 28).
Biểu đồ 29: Tổng lượng khách du lịch đến Việt Nam 
Biểu đồ 30: Dự báo tổng lượng khách du lịch đến Việt Nam 
Vào đầu năm 2022, các nhà chức trách đã cho phép các hãng hàng không Việt Nam chính thức mở lại các chuyến bay thương mại thường lệ từ Hà Nội và TP.HCM đến các điểm đến chính, bao gồm Tokyo, Seoul, Đài Bắc, Bangkok, Singapore, Viêng Chăn, Phnom Penh, San Francisco và Los Angeles, sau 2 năm tạm dừng. Trong những tuần gần đây, hãng hàng không quốc gia Việt Nam cũng đã tổ chức các chuyến bay đến Úc, Anh, Pháp và Đức (Mời xem: Việt Nam sẽ tiếp tục mở cửa sau kỳ nghỉ Tết, ngày 1/2/2022).
Theo quy định hiện hành, những người đã được tiêm phòng đầy đủ và những người đã khỏi COVID-19 chỉ cần tự cách ly tại nhà trong 3 ngày khi đến Việt Nam. Tất cả mọi người, trừ trẻ em dưới 2 tuổi, phải có kết quả xét nghiệm âm tính bằng phương pháp PCR trong vòng 72 giờ trước khi khởi hành. Tuy nhiên, do biến thể Omicron mới xuất hiện, hành khách quốc tế cũng phải trải qua quá trình xét nghiệm nhanh tại sân bay quốc tế Nội Bài và Tân Sơn Nhất (Mời xem: Vietnam Airlines nối lại các chuyến bay thường lệ đến châu Âu, ngày 21/1/2022, VnExpress).
Mới đây, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã thúc giục mở cửa du lịch hoàn toàn vào cuối Q1/2022 (Mời xem: Thủ tướng thúc giục chuẩn bị mở cửa du lịch hoàn toàn trong tháng 3/2022, ngày 3/2/2022, VnExpress).
Tuy nhiên, để trở lại mức trước đại dịch vẫn còn một chặng đường dài, đặc biệt là khi Trung Quốc vẫn đang áp dụng các chính sách “Zero COVID-19”. Việc nối lại các chuyến bay đến Bắc Kinh hoặc Quảng Châu vẫn đang phải chờ đợi; trong 10 năm trước đại dịch, Trung Quốc chiếm bình quân 28,2% tổng lượng du khách tới Việt Nam (Bảng 29).
Chúng tôi dự báo tổng lượng khách du lịch sẽ tăng lên lần lượt 2,46 triệu và 4,95 triệu trong năm 2022 và 2023 (Bảng 30). Việt Nam đang đặt mục tiêu 5 triệu lượt du khách quốc tế trong năm 2022 (Mời xem: Việt Nam dự kiến sẽ đón 5 triệu lượt khách nước ngoài trong năm 2022, ngày 24/12/2021, Báo Nhân dân).
Biểu đồ 31: Dữ liệu di chuyển & doanh số bán lẻ hàng hóa và dịch vụ 
Biểu đồ 32: Doanh số bán lẻ hàng hóa, dịch vụ và dự báo 
Doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ trong nước tăng 4,6% so với tháng trước trong tháng 12/2021 sau khi nới lỏng các biện pháp hạn chế di chuyển (Bảng 31). Trong năm 2021, doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ (4.789,5 nghìn tỷ đồng) giảm 3,8%, so với tăng trưởng 1,7% trong năm 2020 và giảm mạnh hơn so với dự báo của chúng tôi là giảm 2,3% trong năm 2021 (Mời xem: Hạ dự báo GDP năm 2021 và 2022, ngày 30/8/2021).
Nhờ nối lại các chuyến bay quốc tế và các biện pháp kích thích tiêu dùng do cắt giảm thuế VAT 2%, HSC nâng dự báo tăng trưởng doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ lên 10,1% từ tăng trưởng 9,1% trong dự báo trước đó, trong khi giữ nguyên dự báo năm 2023 là tăng trưởng 9,1% (Bảng 32).
Tiêu dùng cũng sẽ được hỗ trợ nhờ thị trường lao động cải thiện (Bảng 32) và thu nhập lao động tăng (Bảng 33). Trong Q4/2021, tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống 3,56% từ 3,98% trong Q3/2021, trong khi thu nhập lao động tăng 2,3% so với quý trước. Chúng tôi dự báo tỷ lệ thất nghiệp sẽ trở lại mức dưới 3% trong năm 2022 là 2,62%.
Biểu đồ 33: Tỷ lệ thất nghiệp trong ASEAN 
Biểu đồ 34: Thị trường lao động
Gói kích thích tài khóa sẽ hỗ trợ tăng trưởng của nền kinh tế
Quốc hội đã thông qua một gói kích thích tài khóa trị giá khoảng 347 nghìn tỷ đồng (15,3 tỷ USD) để hỗ trợ phục hồi kinh tế sau giai đoạn phong tỏa. Quốc hội đã bỏ phiếu về kế hoạch này sau khi đã cắt giảm đáng kể so với dự thảo đầu tiên trị giá 800 nghìn tỷ đồng do lo ngại về vấn đề lạm phát (Bảng 35).
Trọng tâm chính của kế hoạch kích thích tài khóa là hỗ trợ các doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của đại dịch và những người lao động có thu nhập thấp đang gặp khó khăn đồng thời tăng chi tiêu cho cơ sở hạ tầng. Gói kích cầu bao gồm 113,55 nghìn tỷ đồng chi tiêu cho cơ sở hạ tầng trong năm 2022 và năm 2023.
Ngoài ra, một phần của gói kích thích tài khóa cũng sẽ tập trung vào việc giảm 2% lãi suất vay ngân hàng đối với các khoản vay ngân hàng thương mại trị giá 1 triệu tỷ đồng trong mỗi năm 2022 và 2023. Khoản hỗ trợ này ước tính tương đương 40 nghìn tỷ đồng chi tiêu tài khóa cho đầu tư phát triển và chỉ dành cho các doanh nghiệp và lĩnh vực nhất định.
Chính phủ cũng đang giảm 2% thuế suất thuế GTGT trong năm 2022. Trong năm 2021, tổng giá trị thuế GTGT thu từ hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu và trong nước là 333,2 nghìn tỷ đồng (Bảng 36). HSC ước tính tổng thiệt hại ngân sách do giảm thuế GTGT sẽ tương đương 70 nghìn tỷ đồng, khoảng 3 tỷ USD, tương đương khoảng 20% tổng số thuế GTGT thu được trong năm 2022.
Cùng với việc hỗ trợ lãi suất 2%, chúng tôi cho rằng việc giảm 2% thuế VAT sẽ là một trong những phần quan trọng và hiệu quả nhất của gói kích cầu – khoản hỗ trợ này sẽ giúp kích thích cả nguồn cung (từ góc độ của các doanh nghiệp) và cầu (từ góc độ hộ gia đình và người tiêu dùng) của nền kinh tế.
Biểu đồ 35: Gói kích thích tài khóa trị giá khoảng 347 nghìn tỷ đồng (15,3 tỷ USD) và và gói kích thích tiền tệ (2022-2023)
Quốc hội cũng đã thông qua kế hoạch thâm hụt ngân sách 240 nghìn tỷ đồng trong giai đoạn 2022-2023. Do đó, HSC dự báo thâm hụt tài khóa sẽ tăng lên 5,1% GDP trong năm 2022 (Bảng 37).
Biểu đồ 36: Thu thuế của Việt Nam (nghìn tỷ đồng, %, 2021) 
Biểu đồ 37: Thâm hụt tài khóa và dự báo 
Chính sách tiền tệ sẽ tập trung vào cho vay ngân hàng và lạm phát
Trong năm 2021, với nguồn lực tài khóa hạn chế, Việt Nam dựa vào tín dụng ngân hàng để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. HSC dự báo tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2022 sẽ tương đương trong năm 2021 là 14% (Bảng 39). Trong khi chính sách tiền tệ nhìn chung vẫn được nới lỏng, mục tiêu chính sẽ là thắt chặt các hoạt động kinh doanh BĐS và chứng khoán do những lo ngại xung quanh việc nợ xấu gia tăng (ước tính khoảng 3,79% trong năm 2021, Mời xem: Tăng trưởng tín dụng có thể lên tới 14% trong năm 2021: Phó Thống đốc NHNN, ngày 29/12/2021, Vietnam News).
Biểu đồ 38: Lãi suất liên ngân hàng qua đêm và lãi suất chính sách của NHNN 
Biểu đồ 39: Tăng trưởng tín dụng, cung tiền M2 và tiền gửi 
Trong năm 2022, có khả năng NHNN sẽ phải xem xét việc tăng lãi suất chính sách. Tổng cộng lãi suất chính sách (lãi suất tái cấp vốn) đã được cắt giảm 3 lần trong năm 2020 với tổng cộng 200 điểm cơ bản, hỗ trợ duy trì mặt bằng lãi suất liên ngân hàng thấp (Bảng 38). Bước sang năm 2022, chính sách lãi suất của hai đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, Trung Quốc và Mỹ , vẫn trái chiều. Trung Quốc đang cắt giảm lãi suất, trong khi Mỹ phải đối mặt với lạm phát tăng đột biến.
Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc đã cắt giảm lãi suất cho vay chính đối với các khoản cho vay doanh nghiệp và hộ gia đình trong tháng thứ 2 liên tiếp trong đợt điều chỉnh tháng 1/2022, khi các nhà hoạch định chính sách tìm cách hỗ trợ nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, bao gồm số ca nhiễm COVID-19 rải rác và chi phí nguyên vật liệu tăng cao.
Tại Mỹ, Fed hiện dự báo áp lực lạm phát sẽ tiếp tục kéo dài trong năm 2022 và do đó, lãi suất chính sách có thể tăng sớm hơn và với tốc độ nhanh hơn so với dự báo trước đây. Hoạt động mua tài sản cũng có thể sẽ giảm tốc và chấm dứt khi việc điều chỉnh bảng CĐKT của quốc gia bắt đầu.
Biểu đồ 40: Xu hướng tài khoản vãng lai của Việt Nam 
Biểu đồ 41: Dự báo xu hướng tỷ giá USD/VND 
Chúng tôi cho rằng NHNN Việt Nam sẽ chọn cách cân bằng chính sách tiền tệ giữa Mỹ và Trung Quốc. Theo đó, HSC dự báo NHNN sẽ không tăng lãi suất trong năm 2022 nếu lạm phát vẫn được kiểm soát (bình quân dưới 4%). Tuy nhiên, chúng tôi dự báo NHNN sẽ tăng lãi suất chính sách thêm 50 điểm cơ bản trong nửa đầu năm 2023.
Đồng VND đã tăng giá so với USD trong 3 năm qua. Chúng tôi tiếp tục dự báo tỷ giá USD/VND sẽ ổn định trong 2 năm tới (Bảng 41). Nếu lạm phát tăng vượt dự kiến, NHNN có thể sẽ tiếp tục tăng giá đồng VND để giảm áp lực từ nhập khẩu lạm phát. Chúng tôi dự báo tỷ giá USD/VND sẽ kết thúc năm 2022 ở mức 22.550đ và năm 2023 là 22.500đ (Bảng 41).
Dự báo kinh tế vĩ mô của HSC 
Danh sách các cổ phiếu HSC khuyến nghị
Nguồn: HSC
Tuyên bố miễn trách nhiệm: Báo cáo chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin và nhà đầu tư chỉ nên sử dụng báo cáo phân tích này như một nguồn tham khảo. Dautucophieu.net sẽ không chịu bất kỳ trách nhiệm nào trước nhà đầu tư cũng như đối tượng được nhắc đến trong báo cáo này về những tổn thất có thể xảy ra khi đầu tư hoặc những thông tin sai lệch về doanh nghiệp.
