DANH MỤC

Mobile / Zalo: 0989 490 980

Kinh tế vĩ mô hàng tháng – Đánh giá tác động của dịch COVID-19

Lượt xem: 1,374 - Ngày:

Ảnh hưởng của dịch COVID-19 nghiêm trọng hơn dự báo

Vào tháng 6/2021, chúng tôi đã hạ dự báo tăng trưởng GDP thực tế cho Q3/2021 (hạ 2,54 điểm phần trăm) và Q4/2021 (hạ 0,14 điểm phần trăm). Việc thắt chặt các biện pháp phong tỏa gần đây và có thể sẽ kéo dài là nguyên nhân khiến chúng tôi điều chỉnh giảm dự báo. Mặc dù vậy, HSC nhận thấy rủi ro tăng trưởng thực tế có thể thấp hơn so với dự báo vĩ mô của chúng tôi. Số ca nhiễm COVID-19 tại Việt Nam ngày càng gia tăng và nghiêm trọng hơn so với dự báo ban đầu của chúng tôi. Toàn bộ khu vực phía Nam của Việt Nam, đóng góp khoảng 50% GDP và một phần ba dân số cả nước, hiện đang phải chịu các biện pháp giãn cách xã hội chặt chẽ nhất (Chỉ thị 16).

Ngày càng có nhiều dấu hiệu cho thấy việc dịch COVID-19 bùng phát hiện nay đang tạo áp lực lên hoạt động sản xuất. Vào tháng 6/2021, chỉ số PMI dự phóng đã giảm xuống mức thấp nhất, 44,1 kể từ tháng 5/2020. Các KCN định hướng xuất khẩu trọng yếu đã chịu ảnh hưởng bởi tình trạng phong tỏa và giãn cách xã hội. Điều này đặc biệt ảnh hưởng đến lĩnh vực điện tử. Các sản phẩm chủ chốt khác bao gồm máy móc & thiết bị, giày dép và hàng dệt may vẫn tăng trưởng mạnh trong nửa đầu của tháng 7/2021, tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu điện thoại các loại đã giảm 8,9% so với cùng kỳ trong hai tuần đầu tháng 7/2021.

Mặc dù các hạn chế về di chuyển là tương đối nghiêm ngặt, về lý thuyết, lĩnh vực dịch vụ nhạy cảm như du lịch và vận tải hầu như sẽ không tác động nhiều tới tăng trưởng như cùng kì năm ngoái do không còn nhiều dư địa để giảm thêm. Tuy nhiên, với việc hoạt động di chuyển đã suy giảm so với Q3/2020, do đó sẽ có tác động tiêu cực rõ rệt trong Q3/2021.

Ngoài ra, theo một mức độ nào đó, Việt Nam sẽ phải duy trì các hạn chế tương đối chặt chẽ, đặc biệt là các hạn chế liên quan đến các chuyến bay thương mại quốc tế cho đến khi việc triển khai tiêm chủng đạt ít nhất 50% dân số. Chúng tôi cho rằng phải đến cuối Q4/2021 chúng ta mới đạt được tỷ lệ này.

Tuy nhiên, ở giai đoạn này, sự gián đoạn do dịch COVID-19 chỉ diễn ra tại Việt Nam, do đó chúng tôi vẫn lạc quan đối với nhu cầu từ các đối tác thương mại chính trên toàn cầu. Nhờ đó, tiềm năng tăng trưởng xuất khẩu được kỳ vọng sẽ là động lực tăng trưởng kinh tế chính trong 6 tháng cuối năm 2021.

Bảng 1: Xu hướng của các chỉ số kinh tế 

Đà hồi phục bị gián đoạn

Trong tháng 7/2021, dữ liệu di chuyển hàng ngày đã giảm nghiêm trọng hơn nhiều so với Q3/2020. Điều này sẽ làm suy yếu lĩnh vực dịch vụ (như du lịch) trong Q3/2021. Tuy nhiên, lĩnh vực này sẽ giảm mạnh như trong năm 2020 do không còn nhiều dư địa để giảm. Có nhiều dấu hiệu cho thấy dịch COVID-19 hiện đang tác động đến hoạt động sản xuất. Trong tháng 6/2021, chỉ số PMI dự phóng giảm xuống 44,1, mức thấp nhất kể từ tháng 5/2020. Trong khi đó, một số lĩnh vực xuất khẩu nhất định như điện tử và điện thoại đã chịu tác động từ dịch bệnh và các biện pháp hạn chế ảnh hưởng tới các KCN. Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm chủ lực khác bao gồm máy móc & thiết bị, giày dép và hàng dệt may vẫn tăng trưởng mạnh mẽ trong nửa đầu tháng 7/2021.

Hạn chế đi lại trong Q3/2021 sẽ có tác động tiêu cực

Làn sóng bùng phát COVID-19 hiện nay tại Việt Nam ngày nghiêm trọng sau khi bước sang Q3/2021; làn sóng bùng phát hiện tại nghiêm trọng hơn nhiều so với dự báo ban đầu của chúng tôi.

Trong tháng 6/2021, HSC đã hạ dự báo tăng trưởng GDP thực tế Q3/2021 (giảm 2,54 điểm phần trăm) và Q4/2021 (giảm 0,14 điểm phần trăm). Việc thắt chặt và có thể sẽ kéo dài các biện pháp phong tỏa gần đây là nguyên nhân chính khiến chúng tôi điều chỉnh giảm dự báo. Mặc dù vậy, chúng tôi nhận thấy rủi ro tăng trưởng thực tế có thể còn thấp hơn so với dự báo khi đợt bùng phát dịch COVID-19 lần này nghiêm trọng hơn dự báo.

Việt Nam đang trải qua với làn sóng bùng phát COVID-19 tồi tệ nhất cho đến nay. Số ca mắc mới hàng ngày vẫn tăng và đã lên hơn 4.000 ca/ngày (Bảng 2). Diễn biến dịch như hiện nay sẽ cản trở tăng trưởng và nhiều khả năng sẽ kéo dài trong suốt Q3/2021; tình hình không được cải thiện do tiến độ triển khai tiêm chủng đang chậm hơn so với các quốc gia khác trong khu vực (Bảng 3).

Biểu đồ 2: Số ca nhiễm COVID tại ASEAN 

Biểu đồ 3: Tình hình tiêm vacxin tại ASEAN 

Bảng 4 và Bảng 5 cho thấy mức độ nghiêm trọng của các biện pháp hạn chế di chuyển được áp dụng gần đây. Hoạt động di chuyển của Việt Nam giảm tới 45% so với mức trước đại dịch, mức giảm mạnh thứ hai trong khu vực ASEAN, sau Malaysia (Bảng 5).

Số liệu cũng cho thấy không chỉ ở Việt Nam, mà ở Indonesia, Malaysia, Thái Lan và thậm chí Singapore, đã thắt chặt các biện pháp hạn chế gần đây sau khi số ca nhiễm mới tăng đột biến. Tại các quốc gia đó, mức độ ảnh hưởng và thời gian hạn chế di chuyển đều chưa thể đoán định.

Ở Việt Nam, chúng tôi chưa nhận thấy dấu hiệu của đỉnh dịch (Bảng 2), do đó, thời điểm nới lỏng các hạn chế di chuyển là không chắc chắn. Thông tin tích cực là việc hạn chế di chuyển hiện nay vẫn nhẹ hơn so với đợt giãn cách xã hội đầu tiên trong khoảng thời gian tháng 3 và tháng 4/2020.

Tuy nhiên, tin xấu là hoạt động di chuyển đã giảm nghiêm trọng hơn nhiều so với làn sóng bùng phát COVID-19 thứ 2 vào Q3/2020 (Bảng 4). Theo đó, ngành dịch vụ của Việt Nam sẽ có khả năng làm giảm đáng kể đà tăng trưởng trong Q3/2021, đặc biệt là đối với dịch vụ vận tải, du lịch, lưu trú và ăn uống.

Biểu đồ 4: Hoạt động di chuyển tại Việt Nam 

Biểu đồ 5: Hoạt động di chuyển tại ASEAN 

Tại Việt Nam, các biện pháp hạn chế di chuyển trong nước đã được thắt chặt kể từ tháng 4/2021. Vào ngày 97/2021, TP HCM, Bình Dương và Đồng Nai phải áp dụng các biện pháp phong tỏa nghiêm ngặt nhất (Chỉ thị 16). Hà Nội bắt đầu thắt chặt các biện pháp hạn chế từ ngày 13/7/2021.

Từ ngày 19/7/2021, 16 tỉnh/thành phố phía Nam khác bao gồm toàn bộ ĐBSCL hiện đã bị phong tỏa ít nhất 14 ngày theo Chỉ thị 16 (Mời xem: 16 tỉnh thành phía Nam bắt đầy áp dụng các biện pháp phong tỏa trong 2 tuần, ngày 17/7/2021, VnExpress).

Theo đó, toàn bộ khu vực phía Nam của Việt Nam, khu vực đóng góp khoảng 50% GDP (Bảng 6) và một phần ba dân số cả nước, hiện đang phải áp dụng những biện pháp giãn cách xã hội nghiêm ngặt nhất.

Có nhiều minh chứng cho thấy dịch COVID-19 đang ảnh hưởng tới ngành công nghiệp chế biến & chế tạo

Mặc dù được hỗ trợ từ nhu cầu toàn cầu (kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu đã tăng lần lượt 29,0% và 36,3% so với cùng kỳ trong nửa đầu năm 2021), chỉ số PMI ngành sản xuất của Việt Nam đặc biệt yếu trong tháng 6/2021 (Bảng 7). Chỉ số PMI mang tính dự báo cho tương lai đã giảm xuống 44,1, mức thấp nhất kể từ tháng 5/2020, kết thúc giai đoạn 6 tháng duy trì trên mức 50.

Biểu đồ 6: Đóng góp vào GDP của 63 tỉnh/, thành phố giai đoạn 2016-2020 

Ngoài ra, chỉ số ngành công nghiệp chế biến & chế tạo giảm tốc, chỉ còn tăng 8,1% so với cùng kỳ và 0,3% so với tháng trước trong tháng 6/2021, sau khi tăng 14,4% so với cùng kỳ và 2,6% so với tháng trước trong tháng 5/2021. Thời gian tới, sẽ không có gì ngạc nhiên nếu chỉ số PMI tiếp tục giảm xuống mức thấp của biên độ thể hiện trong Bảng 7.

Biểu đồ 7: Chỉ số PMI của khu vực ASEAN 

Biểu đồ 8: Top 5 sản phẩm xuất khẩu trong nửa đầu T7/2021 

Biểu đồ 9: Top 5 sản phẩm nhập khẩu trong nửa đầu T7/2021 

Các KCN định hướng xuất khẩu trọng yếu đã bị ảnh hưởng, đặc biệt là tại khu vực phía Nam và đặc biệt là các KCN liên quan đến lĩnh vực điện tử. Tuy nhiên, các sản phẩm chủ lực khác, bao gồm máy móc & thiết bị, giày dép và hàng dệt may vẫn tăng trưởng mạnh trong nửa đầu tháng 7/2021 (Bảng 8, 9). Kim ngạch xuất khẩu điện thoại các loại giảm 8,9% so với cùng kỳ trong nửa đầu tháng 7/2021.

Mới đây, đơn vị của Công ty Điện tử Samsung tại KCN công nghệ cao Sài Gòn của TP.HCM đã tạm ngừng sản xuất 3/16 phân xưởng sau khi ghi nhận hàng chục ca nhiễm COVID-19. Công ty Samsung Electronics TP.HCM cũng giảm số lượng công nhân xuống 3.000 từ 7.000 người và đang thực hiện kế hoạch cách ly nhân viên tại phân xưởng (Mời xem: Đơn vị Samsung TP.HCM tạm ngừng sản xuất 3 phân xưởng do dịch COVID-19 lây lan, ngày 13/7/2021, Bloomberg).

Khi Việt Nam đang tiếp tục cuộc chiến chống lại sự bùng phát của dịch COVID-19, Chính phủ đã chọn bảo vệ danh tiếng của Việt Nam, là một trung tâm công nghệ toàn cầu mới nổi ở châu Á, bằng cách tập trung vào việc giảm thiểu gián đoạn chuỗi cung ứng. Chìa khóa giải quyết vấn đề này là hàng nghìn công nhân đang thực hiện 3 tại chỗ (sản xuất tại chỗ, ăn tại chỗ, nghỉ tại chỗ) để cách ly và những người này đã được thêm vào danh sách ưu tiên tiêm phòng.

Tại các tỉnh phía Bắc như Bắc Ninh và Bắc Giang, những địa phương là trung tâm sản xuất của nhiều gã khổng lồ công nghệ, bao gồm Samsung, Apple và Foxconn, các nhà chức trách cho biết khoảng 150.000 công nhân đang sống và sinh hoạt tại các KCN để giảm nguy cơ lây nhiễm.

Theo trung tâm truyền thông của thành phố, tại TP.HCM, 22 công ty với tổng số nhân lực là 25.000 người cũng đã thiết lập các địa điểm ngủ lại cho một số lượng không xác định nhân viên, (Mời xem: Nhà máy Sleepovers giúp bảo vệ công nhân Việt Nam khỏi dịch COVID-19, 6/7/2021, Bloomberg).

Ngành dịch vụ vốn đã nhạy cảm sẽ tiếp tục suy yếu Ngay cả khi áp dụng các biện pháp hạn chế di chuyển tương đối nghiêm ngặt, chúng tôi dự báo hoạt động dịch vụ sẽ không phải chứng kiến mức giảm tương tự như trong năm 2020. Việt Nam đã tạm dừng các chuyến bay du lịch quốc tế và hầu như không có chuyến bay thương mại nào vào nước ta kể từ tháng 4/2020, do đó, dịch vụ du lịch, vận chuyển, lưu trú và ăn uống không còn nhiều dư địa để giảm sâu hơn nữa trong năm nay (Bảng 10).

Theo đó, sự sụt giảm trong lĩnh vực dịch vụ vốn nhạy cảm với các biện pháp hạn chế đi lại trong năm 2020 sẽ tiếp tục kéo dài sang năm 2021 – nói cách khác, mức độ giảm trong năm 2021 khó có thể lặp lại do ngành dịch vụ chưa bao giờ phục hồi kể từ khi dịch COVID-19 bắt đầu bùng phát. HSC giả định thận trọng về tăng trưởng ngành dịch vụ trong năm 2021, do đó, một lần nữa, GDP sẽ không sụt giảm mạnh như trong năm 2020.

Về mặt tích cực, Phú Quốc đang có kế hoạch thử nghiệm chương trình hộ chiếu vắc[1]xin trong 6 tháng bắt đầu từ tháng 10/2021, chào đón 40.000 du khách quốc tế trở lại đảo (Mời xem: Phú Quốc bắt đầu tiêm phòng cho người dân trên đảo trước khi mở cửa trở lại cho du khách quốc tế, ngày 15/7/2021, VnExpress).

Ngoài ra, làn sóng COVID-19 hiện tại mà Việt Nam đang trải qua chủ yếu chỉ diễn ra tại Việt Nam, do vậy, miễn là có thể xử lý nhanh chóng các vấn đề gián đoạn nguồn cung và nhà máy, hoạt động xuất khẩu sẽ thúc đẩy tăng trưởng trong nửa cuối năm 2021 (Bảng 10) do nhu cầu trên toàn cầu vẫn rất mạnh mẽ.

Biểu đồ 10: Tăng trưởng GDP thực, theo ngành 

Ngoài ra, Bảng 10 cho thấy không phải tất cả các hoạt động dịch vụ đều bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19. Trên thực tế, các ngành dịch vụ tăng trưởng cao bao gồm tài chính, ngân hàng và bảo hiểm (tăng 9,87% so với cùng kỳ so với tăng 8,67% so với cùng kỳ trong Q1/2021), giáo dục và đào tạo (tăng 6,31% so với cùng kỳ so với tăng 6,04% so với cùng kỳ trong Q1/2021) và chăm sóc sức khỏe (tăng 11,18% so với cùng kỳ so với tăng 9,57% so với cùng kỳ trong Q1/2021). Kể từ Q1/2021, các hoạt động tài chính & ngân hàng, BĐS và chăm sóc sức khỏe đã tăng trưởng cao hơn mức bình quân 20 năm qua (Q1/2000-Q2/2021).

Khi nào chúng ta có thể kỳ vọng các biện pháp giãn cách xã hội sẽ được nới lỏng đáng kể?

Trên toàn cầu, việc phong tỏa có thể ngăn chặn hiệu quả sự lây lan của dịch COVID[1]19, nhưng các làn sóng bùng phát sau đó có thể đến nhanh chóng, đặc biệt trong bối cảnh các biến thể mới như Delta.

Mặc dù vậy, chúng tôi dự báo các biện pháp hạn chế sẽ chỉ được nới lỏng đáng kể khi tỷ lệ tiêm chủng của đất nước vượt quá mức 50% dân số.

Trong khu vực ASEAN, Việt Nam hiện là nước có tỷ lệ tiêm chủng thấp nhất (Bảng 3). Tuy nhiên, Chính phủ Việt Nam đã chính thức công bố chương trình tiêm chủng trên toàn quốc từ ngày 10/7/2021. 19.000 trạm tiêm chủng trên toàn quốc đã được thiết lập và chương trình dự kiến sẽ kéo dài đến tháng 4/2022.

Cụ thể, Việt Nam đặt mục tiêu tiêm chủng cho 70% dân số vào tháng 4/2022, với 50% dân số được tiêm chủng vào cuối năm 2021. Cho đến nay, khoảng 105 triệu liều vắc[1]xin từ nhiều nguồn (Astra Zeneca: 30 triệu liều, COVAX: 30 triệu liều, Pfizer: 31 triệu liều, Moderna: 5 triệu liều) đã được cam kết phân phối tại Việt Nam (Mời xem: Việt Nam đặt mục tiêu tiêm chủng cho một nửa số người trưởng thành trong năm nay, 9/7/2021, VnExpress).

Phần lớn lượng vắc-xin cam kết vẫn chưa được tiếp nhận; tính đến nay, trên 4,37 triệu người trên dân số 98 triệu người đã được tiêm chủng, với 324.955 người đã được tiêm đủ 2 mũi.

Điều quan trọng là phải bảo vệ hệ thống chăm sóc sức khỏe. Trong bối cảnh này, Việt Nam có thể sẽ phải duy trì các biện pháp hạn chế tương đối chặt chẽ, đặc biệt là đối với các chuyến bay thương mại quốc tế. Theo chúng tôi, các hạn chế có thể sẽ vẫn chặt chẽ cho đến khi ít nhất 50% dân số được tiêm chủng, mục tiêu mà sẽ không đạt được cho đến cuối Q4/2021.

Cập nhật số liệu kinh tế vĩ mô

GDP tăng nhanh lên 6,61% so với cùng kỳ trong Q2/2021 từ mức điều chỉnh tăng 4,65% so với cùng kỳ trong Q1/2021. Cả 3 khu vực của nền kinh tế đều tăng trưởng. Trong đó, khu vực công nghiệp và xây dựng dẫn đầu tăng 10,28% so với cùng kỳ so với tăng 6,33% so với cùng kỳ trong Q1/2021. Lạm phát chỉ tăng 2,41% so với cùng kỳ trong tháng 6/2021 từ tăng 2,9% so với cùng kỳ trong tháng 5/2021 trong khi tỷ lệ thất nghiệp tăng lên 2,62% trong Q2/2021 từ 2,42% trong Q1/2021. Trong 6 tháng đầu năm 2021, Việt Nam nhập siêu 993 triệu USD (so với xuất siêu 5,86 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm 2020) trong khi vốn FDI giải ngân (9,24 tỷ USD) tăng 6,8% so với cùng kỳ. Do chịu ảnh hưởng mạnh nhất từ dịch COVID-19, doanh số bán lẻ hàng hóa và dịch vụ giảm 6,6% trong tháng 6/2021, kéo mức tăng trưởng từ đầu năm giảm xuống 4,9% so với cùng kỳ.

GDP Q2/2021 tăng mạnh 6,61% so với cùng kỳ một phần nhờ mức nền thấp

Nền kinh tế của Việt Nam tăng nhanh lên 6,61% so với cùng kỳ trong Q2/2021 từ mức điều chỉnh tăng 4,65% so với cùng kỳ trong Q1/2021, vượt dự báo của chúng tôi là tăng 6,17% so với cùng kỳ từ mức nền thấp trong Q2/2020, với mức tăng là 0,39% so với cùng kỳ.

Theo khu vực:

  • Khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng trưởng 4,11% so với cùng kỳ so với tăng 3,51% so với cùng kỳ trong Q1/2021, cao hơn đáng kể so với tăng 1,8% so với cùng kỳ trong Q2/2020, nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi, năng suất lúa và cây trồng tốt hơn, nguồn cung lợn hơi được cải thiện (do dịch tả lợn châu Phi đã được kiểm soát) và kim ngạch xuất khẩu gỗ và các sản phẩm lâm sản khác tăng mạnh.
  • Khu vực công nghiệp và xây dựng tiếp tục phục hồi mạnh mẽ khi tăng 10,28% so với cùng kỳ từ tăng 6,33% so với cùng kỳ trong Q1/2021 và tăng 1,69% so với cùng kỳ trong Q2/2020.
  • Khu vực dịch vụ tăng 4,3% so với cùng kỳ so với tăng 3,62% so với cùng kỳ trong Q1/2021, mặc dù Việt Nam đang trải qua làn sóng bùng phát Thứ 4, của dịch COVID-19 do mức nền thấp trong Q2/2020 (giảm 1,93% so với cùng kỳ) (Bảng 11).

Biểu đồ 11: Tăng trường GDP theo ngành 

Cụ thể, các lĩnh vực tăng trưởng cao (tăng trên 6% so với cùng kỳ) bao gồm ngành công nghiệp chế biến & chế tạo (tăng 13,84% so với cùng kỳ so với tăng 8,9% so với cùng kỳ trong Q1/2021), điện (tăng 11,9% so với cùng kỳ so với tăng 4,32% so với cùng kỳ trong Q1/2021), cung cấp nước (tăng 8,24% so với cùng kỳ so với tăng 5,38% so với cùng kỳ trong Q1/2021), tài chính, ngân hàng và bảo hiểm (tăng 9,87% so với cùng kỳ so với tăng 8,67% so với cùng kỳ trong Q1/2021) , giáo dục và đào tạo (tăng 6,31% so với cùng kỳ so với tăng 6,04% so với cùng kỳ trong Q1/2021) và y tế (tăng 11,18% so với cùng kỳ so với tăng 9,57% so với cùng kỳ trong Q1/2021) (Bảng 12).

Các lĩnh vực tăng trưởng âm bao gồm khai khoáng (giảm 4,68% so với cùng kỳ so với giảm 8,54% so với cùng kỳ trong Q1/2021), đánh dấu quý giảm thứ 7 liên tiếp, dịch vụ lưu trú và ăn uống (giảm 4,47% so với cùng kỳ so với giảm 5,48% so với cùng kỳ trong Q1/2021), ghi nhận quý giảm thứ 6 liên tiếp, vận chuyển và kho bãi (giảm 0,11% so với cùng kỳ so với giảm 0,65% so với cùng kỳ trong Q1/2021) và nghệ thuật & giải trí (giảm 4,31% so với cùng kỳ so với giảm 6,05% so với cùng kỳ trong Q1/2021).

Về mặt tích cực, kinh doanh BĐS tiếp tục tăng trưởng trong 3 quý liên tiếp (tăng 4,18% so với cùng kỳ so với tăng 3,88% so với cùng kỳ trong Q1/2021).

Trong 6 tháng đầu năm 2021, nền kinh tế tăng 5,64% so với cùng kỳ, thấp hơn mục tiêu của Chính phủ là tăng trưởng 5,8%. Trong năm 2021, Chính phủ sẽ phấn đấu để tăng trưởng kinh tế đạt 6,5%, vượt mục tiêu chính thức là tăng trưởng 6% do Quốc hội đề ra. Trong bối cảnh số ca nhiễm COVID-19 gia tăng và tốc độ tiêm chủng chậm chạp, đây là một mục tiêu đầy tham vọng. HSC dự báo nền kinh tế sẽ tăng trưởng 5,89% cho năm 2021.

Biểu đồ 12: Cơ cấu GDP theo ngành 

Biểu đồ 13: Lạm phát tổng thể 

Biểu đồ 14: Đóng góp vào lạm phát tổng thể 

CPI vừa phải ở mức thấp nhất kể từ tháng 3/2021

Trong tháng 6/2021, lạm phát tổng thể tăng 2,41% so với cùng kỳ so với tăng 2,9% so với cùng kỳ trong tháng 5/2021 (Bảng 13). Kết quả này chủ yếu do chi phí giao thông tăng chậm lại (tăng 15,54% so với cùng kỳ so với tăng 21,24% so với cùng kỳ trong tháng 5/2021) trong khi chi phí thực phẩm giảm tháng thứ 3 liên tiếp, giảm 2,01% so với cùng kỳ so với giảm 1,12% so với cùng kỳ trong tháng 5/2021 (do giá thịt lợn bình ổn, giảm 2,0% so với tháng trước).

Mặc dù vậy, chi phí giao thông tăng so với cùng kỳ tháng Thứ 4, liên tiếp từ mức nền thấp cùng kỳ năm ngoái và sẽ tiếp tục góp phần gây áp lực lên lạm phát trong nửa cuối năm 2021 (Bảng 14).

Trong khi đó, chi phí nhà ở và vật liệu xây dựng tiếp tục tăng 4,02% so với cùng kỳ so với tăng 2,93% so với cùng kỳ trong tháng 5/2021 do chi phí điện nước và giá sắt thép tăng. Giá thép tăng 3,78% so với tháng trước và 15,28% so với cùng kỳ.

Lạm phát tổng thể và lạm phát cơ bản bình quân 6 tháng lần lượt là 1,47% và 0,87% so với cùng kỳ, mức thấp nhất kể từ năm 2016 (Bảng 6) và thấp hơn nhiều so với mục tiêu tăng 4% của Chính phủ.

Từ đó, dự báo lạm phát bình quân năm 2021 đạt 3,2% của chúng tôi là tương đối thận trọng. Ngoài ra, HSC dự báo lạm phát bình quân sẽ duy trì ở mức dưới 4% trong năm 2022 và 2023 (lần lượt là 3,5% và 3,0%).

Do lạm phát được kiểm soát, chúng tôi kỳ vọng NHNN sẽ duy trì chính sách tiền tệ phù hợp để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong phần còn lại của năm.

Biểu đồ 15: Lạm phát bình quân trong 5 tháng đầu năm qua các năm 

Biểu đồ 16: PMI và chỉ số ngành công nghiệp chế biến & chế tạo

Giá trị sản xuất công nghiệp tăng chậm lại còn 6,8% so với cùng kỳ

Giá trị sản xuất công nghiệp tăng chậm lại 6,8% so với cùng kỳ và 0,5% so với tháng trước trong tháng 6/2021, sau khi tăng 11,8% so với cùng kỳ và 1,6% so với tháng trước trong tháng 5/2021. Điều này là do hoạt động sản xuất tăng chậm lại sau khi dịch COVID-19 bùng phát. Chỉ số công nghiệp chế biến chế tạo tăng 8,1% so với cùng kỳ và 0,3% so với tháng trước trong tháng 6/2021 so với tăng 14,4% so với cùng kỳ và 2,6% so với tháng trước trong tháng 5/2021 (Bảng 16).

Trong khi số liệu của Tổng cục Thống kê chưa phản ánh đầy đủ tác động từ diễn biến dịch COVID-19 bùng phát gần đây khiến một số hoạt động sản xuất bị gián đoạn, thì ngược lại, chỉ số PMI của Markit là 44,1 vào tháng 6/2021, giảm mạnh so với mức 53,1 vào tháng 5/2021 kết thúc giai đoạn 6 tháng liên tiếp hoạt động sản xuất tăng trưởng (Bảng 16).

Chỉ số PMI mới nhất cũng là mức thấp nhất trong 13 tháng do các biện pháp phong tỏa và đóng cửa công ty tạm thời khi toàn quốc phải đối mặt với làn sóng bùng phát của các ca COVID-19 mới gần đây.

Biểu đồ 17: Động lực chính cho hoạt động sản xuất 

Sản lượng và số lượng đơn đặt hàng mới đều giảm mạnh nhất kể từ đợt bùng phát đầu tiên vào đầu năm 2020, trong khi số lượng việc làm giảm lần đầu tiên sau 5 tháng. Mặc dù vậy, đợt bùng phát COVID-19 dự kiến sẽ được kiểm soát và nhiều hoạt động sẽ trở lại bình thường trong Q3/2021.

Trong số các phân ngành sản xuất chính, tốc độ tăng trưởng chậm lại đối với linh kiện điện tử (tăng 5,3% so với cùng kỳ so với tăng 23,0% so với cùng kỳ trong tháng 5/2021), thiết bị truyền thông (giảm 0,19% so với cùng kỳ so với tăng 17,5% so với cùng kỳ trong tháng 5/2021), điện tử tiêu dùng (giảm 11,4% so với cùng kỳ so với tăng 28,5% so với cùng kỳ trong tháng 5/2021), dệt may (tăng 27,6% so với cùng kỳ từ tăng 40,3% so với cùng kỳ trong tháng 5/2021) và giày dép (tăng 19,7% so với cùng kỳ so với tăng 21,2% so với cùng kỳ trong tháng 5/2021) (Bảng 17).

Nhờ nhu cầu toàn cầu phục hồi và mức nền thấp trong năm 2020, trong 6 tháng đầu năm 2021, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 9,3% so với cùng kỳ (so với tăng 2,8% so với cùng kỳ trong 6 tháng đầu năm 2020 và tăng 9,5% so với cùng kỳ trong 6 tháng đầu năm 2019), trong khi ngành công nghiệp chế biến và chế tạo tăng 11,6% so với cùng kỳ (so với tăng 4,6% so với cùng kỳ trong 6 tháng đầu năm 2020). Mặc dù vậy, ngành khai khoáng giảm 6% so với cùng kỳ trong 6 tháng đầu năm 2021 so với giảm 7,9% trong 6 tháng đầu năm 2020, khiến tăng trưởng chung của hoạt động công nghiệp bị thu hẹp.

Hoạt động thương mại chậm lại do hiệu ứng từ mức nền thấp giảm dần

Kim ngạch xuất khẩu trong tháng 6/2021 (27,2 tỷ USD) điều chỉnh tăng lên 20.4% từ mức ước tính 17,3% so với cùng kỳ, chậm lại so với tăng 36,6% so với cùng kỳ trong tháng 5/2021 (Bảng189). Các nguyên nhân chính khiến tăng trưởng chung chậm lại là máy tính và sản phẩm điện tử (tăng 5,4% so với cùng kỳ so với tăng 14,6% so với cùng kỳ trong tháng 5/2021), điện thoại di động (giảm 9,6% so với cùng kỳ so với tăng 22,5% so với cùng kỳ trong tháng 5/2021), giày dép (tăng 37,8% so với cùng kỳ so với tăng 44,0% so với cùng kỳ trong tháng 5/2021), hàng dệt may (tăng 16,2% so với cùng kỳ so với tăng 36,4% so với cùng kỳ trong tháng 5/2021), máy móc & thiết bị (tăng 24,0% so với cùng kỳ so với tăng 48,0% so với cùng kỳ trong tháng 5/2021) và sắt thép (tăng 123% so với cùng kỳ so với tăng 239,3% so với cùng kỳ trong tháng 5/2021).

Biểu đồ 18: Đóng góp vào tăng trưởng xuất khẩu 

Biểu đồ 19: Đóng góp vào tăng trưởng nhập khẩu 

Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu (27,7 tỷ USD) điều chỉnh tăng lên 34,3% so với cùng kỳ, chậm lại so với tăng 57,9% so với cùng kỳ trong tháng 5/2021 (Bảng 19). Nguyên nhân chính khiến tốc độ tăng trưởng chậm lại là điện thoại các loại và linh kiện (tăng 39,4% so với cùng kỳ so với tăng 88,3% so với cùng kỳ trong tháng 5/2021), máy tính và sản phẩm điện tử (tăng 11,9% so với cùng kỳ so với tăng 29,3% so với cùng kỳ trong tháng 5/2021), máy móc & thiết bị (tăng 36,5% so với cùng kỳ so với tăng 67,8% so với cùng kỳ trong tháng 5/2021), ô tô (tăng 112,4% so với cùng kỳ so với tăng 209,9% so với cùng kỳ trong tháng 5/2021) và vải (tăng 37,0% so với cùng kỳ so với tăng 62,6% so với cùng kỳ trong tháng 5/2021).

Kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu tăng trưởng chậm lại cũng do hiệu ứng mức nền thấp giảm dần, khi kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu giảm lần lượt 12,4% và 22,4% so với cùng kỳ trong tháng 5/2020 và tăng trở lại lần lượt 5,4% và 5,9% so với cùng kỳ vào tháng 6/2020. Mặc dù vậy, so với tháng trước, kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng 3,9%, trong khi nhập khẩu giảm 2,1%.

Trong 6 tháng đầu năm 2021, kim ngạch xuất khẩu (158,3 tỷ USD) và kim ngạch nhập khẩu (159,3 tỷ USD) tăng lần lượt 29,0% và 36,3% so với cùng kỳ so với tăng 0,2% so với cùng kỳ và giảm 3,3% so với cùng kỳ trong 6 tháng đầu năm 2020. Trong 5 tháng đầu năm 2021, kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường chính: Mỹ (44,9 tỷ USD), Trung Quốc (24,4 tỷ USD) và EU (19,3 tỷ USD) tăng lần lượt 42,6%, 24,0% và 17,4% so với cùng kỳ nhờ nhu cầu cải thiện sau khi các nước này tiếp tục đẩy mạnh triển khai tiêm chủng vắc-xin.

Trong tháng 6/2021, Việt Nam nhập siêu ước tính là 455 triệu USD, đưa nhập siêu lũy kế 6 tháng đầu năm 2021 lên 993 triệu USD so với xuất siêu 5,9 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm 2020. Để đạt được dự báo thặng dư thương mại 16,6 tỷ USD trong năm 2021 (so với thặng dư 20 tỷ USD trong năm 2020) của chúng tôi (Mời xem: Điều chỉnh dự báo thương mại; xu hướng trái chiều, ngày 6/7/2021, HSC), hoạt động xuất khẩu sẽ cần phải bắt kịp hoạt động nhập khẩu trong phần còn lại của năm.

Đầu tư – bức tranh trái chiều

Vốn FDI giải ngân vẫn mạnh mẽ nhưng đầu tư công giảm so với cùng kỳ.

Trong 6 tháng đầu năm 2021, FDI đăng ký và thực hiện ước tính lần lượt đạt 15,27 tỷ USD (giảm 2,6% so với cùng kỳ) và 9,24 tỷ USD (tăng 6,8% so với cùng kỳ) (Bảng 20).

Về FDI giải ngân, ngành công nghiệp chế biến & chế tạo (6,65 tỷ USD) chiếm 72%, hoạt động kinh doanh BĐS (1,28 tỷ USD) chiếm 13,8% và lĩnh sản xuất, phân phối điện, khí đốt (691 triệu USD) chiếm 7,5%.

Biểu đồ 20: Vốn FDI giải ngân 

Biểu đồ 21: Vốn đầu tư sử dụng ngân sách nhà nước 

Trong khi đó, đối với FDI đăng ký, ngành công nghiệp chế biến & chế tạo (6,65 tỷ USD) chiếm 45,7%, hoạt động kinh doanh BĐS (1,2 tỷ USD) chiếm 7,5% và lĩnh sản xuất, phân phối điện, khí đốt (5,3 tỷ USD) chiếm 35%.

Điều đáng khích lệ là vốn FDI đăng ký mới (9,55 tỷ USD) tăng 13,2% so với cùng kỳ, tập trung vào các dự án năng lượng, bao gồm các nhà máy nhiệt điện LNG do Singapore phát triển 3,1 tỷ USD (Long An 1 và 2) ở phía Nam tỉnh Long An, Nhà máy nhiệt điện 1,3 tỷ USD do Nhật Bản phát triển (Ô Môn 2) ở phía Nam thành phố Cần Thơ và nhà máy pin mặt trời 498 triệu USD do Hồng Kông phát triển ở tỉnh Quảng Ninh.

Vốn bổ sung cho các dự án hiện hữu (4,12 tỷ USD) tăng 10,6% so với cùng kỳ. Một trong những dự án quan trọng là đầu tư bổ sung 750 triệu USD vào nhà máy LG Display Hải Phòng vào tháng 2/2021 (tổng vốn đầu tư vào dự án này hiện là 3,25 tỷ USD).

Mặc dù vậy, hạn chế di chuyển tiếp tục cản trở các NĐT trong việc ra quyết định đầu tư mới. Góp vốn mua cổ phần (1,6 tỷ USD) giảm 54,3% so với cùng kỳ.

Trong tháng 6/2021, đầu tư công đạt 38,4 nghìn tỷ đồng (giảm 4,5% so với cùng kỳ và tăng 12,0% so với tháng trước) (Bảng 21). Trong 6 tháng đầu năm 2021, đầu tư (171,9 tỷ đồng) tương đương 36,8% kế hoạch năm 2021 của Chính phủ (477,3 tỷ đồng) và tăng 10,2% so với cùng kỳ. so với tăng 20,5% so với cùng kỳ. trong 6 tháng đầu năm 2020.

Trong khi đó, tính đến ngày 15/6/2021, thặng dư ngân sách nhà nước lên tới 80,6 nghìn tỷ đồng so với thâm hụt 343,7 nghìn tỷ đồng theo kế hoạch năm 2021 (“Quyết định 1927” của Bộ Tài chính). Điều này phản ánh mức thu ngân sách tăng (775 nghìn tỷ đồng, tương đương 57,7% kế hoạch năm 2021) so với chi ngân sách (694,4 nghìn tỷ đồng, tương đương 42,2% kế hoạch năm 2021).

Doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ giảm 6,6% so với cùng kỳ trong tháng 6/2021

Trong tháng 6/2021, doanh số bán lẻ hàng hóa và dịch vụ đạt 381,9 nghìn tỷ đồng, giảm 6,6% so với cùng kỳ và 2,0% so với tháng trước, đưa giá trị lũy kế đạt 2.463,8 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm 2021 (tăng 4,9% so với cùng kỳ so với giảm 5,8% so với cùng kỳ trong 6 tháng đầu năm 2020) (Bảng 22).

Biểu đồ 22: Doanh số bán lẻ sản phẩm, dịch vụ hàng tháng 

Biểu đồ 23: Lưu lượng khách quốc tế hàng tháng 

Biểu đồ 24: Lưu lượng khách di chuyển trong nước hàng tháng 

Doanh số bán lẻ hàng hóa và dịch vụ sụt giảm chủ yếu do doanh số bán lẻ hàng hóa (330,1 nghìn tỷ đồng, giảm 0,3% so với tháng trước), doanh số bán lẻ dịch vụ lưu trú và ăn uống (26 nghìn tỷ đồng, giảm 20% so với tháng trước) và dịch vụ du lịch (183 tỷ đồng, giảm 49,2% so với tháng trước).

Do hầu như không thực hiện các chuyến bay thương mại kể từ tháng 4/2020, lượng khách du lịch quốc tế tiếp tục giảm 18% so với cùng kỳ trong tháng 6/2021 xuống còn 7,2 nghìn lượt (Bảng 23); những hành khách đến Việt Nam chủ yếu là các chuyên gia nước ngoài và lao động tay nghề cao. Trung Quốc (2,6 nghìn lượt), Hàn Quốc (1,5 nghìn lượt), Nhật Bản (582 lượt), Mỹ (278 lượt) và Châu Âu (790 lượt) hầu như không có khách du lịch đến Việt Nam trong tháng 6/2021. Trong 6 tháng đầu năm 2021, lượng khách du lịch đạt 88,2 nghìn lượt, giảm 97,6% so với cùng kỳ (so với giảm 55,8% so với cùng kỳ trong 6 tháng đầu năm 2020).

Bên cạnh việc hạn chế các chuyến bay quốc tế đã diễn ra trong thời gian dài, việc thắt chặt hạn chế di chuyển trong nước do làn sóng Thứ 4, bùng phát là nguyên nhân chính ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu dùng trong tháng 5/2021. Do các biện phấp hạn chế di chuyển, số lượng hành khách vận chuyển trong nước giảm 13,1% so với tháng trước trong tháng 6/2021 (Bảng 24).

Chìa khóa cho sự hồi sinh ngành du lịch của Việt Nam sẽ phụ thuộc vào việc dỡ bỏ rộng rãi các hạn chế di chuyển. Trước tình hình làn sóng dịch COVID-19 mới, theo quan điểm của chúng tôi, điều này sẽ không xảy ra ít nhất đến Q4/2021.

Dự báo kinh tế vĩ mô của HSC 

Lịch sự kiện kinh tế quan trọng 

Các cổ phiếu HSC khuyến nghị

Nguồn: HSC

CÁC TIN LIÊN QUAN

Gọi ngay
Messenger
Zalo
Mở tài khoản