NHNN vừa đưa ra hạn mức tăng trưởng tín dụng ban đầu cho từng ngân hàng cụ thể, dao động từ 10,5-13% đối với các NHTMCP và từ 8-10% đối với các NHTM có vốn nhà nước. Hạn mức này thấp hơn khoảng 2% so với hạn mức tăng trưởng bình quân ban đầu của năm ngoái, mặc dù mục tiêu tăng trưởng tín dụng của toàn ngành ngân hàng vẫn không đổi ở mức 14% trong năm 2020 (trước khi bùng phát dịch bệnh).
Bảng 1: Chỉ số ngành ngân hàng so với đầu năm

Bảng 1 thể hiện hạn mức tăng trưởng tín dụng ban đầu ước tính mà các ngân hàng nhận được từ NHNN. Nhìn chung, NHTM có vốn nhà nước được cấp hạn mức tăng trưởng tín dụng thấp hơn ở mức 8-10% trong khi các NHTMCP được cấp hạn mức tín dụng cao hơn ở mức khoảng 10,5-13%.
Bảng 2: Hạn mức tăng trưởng tín dụng ban đầu năm 2020

Nhận định của chúng tôi
Việc đặt hạn mức tăng trưởng tín dụng ban đầu thận trọng đã được thực hiện từ nhiều năm nay. Thông thường, hạn mức tăng trưởng tín dụng cuối cùng sẽ được quyết định vào khoảng quý 3 hàng năm. Tuy nhiên, do tác động của dịch COVID-19, nhiều khả năng mức tăng trưởng tín dụng trong năm 2020 sẽ thấp hơn so với các năm trước, chủ yếu là do nhu cầu tín dụng giảm. Cho năm 2020, chúng tôi hiện ước tính tổng tăng trưởng tín dụng là 13,3% trong trường hợp cơ sở và 11,2% trong trường hợp thận trọng.
Theo chúng tôi, hạn mức tăng trưởng tín dụng ban đầu được cấp cho các ngân hàng dường như được đưa ra căn cứ trên một số yếu tố (1) chính sách hạ nhiệt tốc độ tăng trưởng tín dụng trong trung và dài hạn, (2) hệ số CAR theo Basel 2 của từng ngân hàng cụ thể và (3) những quan ngại ban đầu về nhu cầu tín dụng suy yếu từ khách hàng vay vốn do tác động của COVID19.
Trong Bảng 2, tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam đã tăng liên tục kể từ năm 2012 và ước tính đạt mức 136% vào cuối năm 2019. Do đó, để giảm tỷ lệ này một cách từ từ, cùng với kỳ vọng GDP danh nghĩa tăng trưởng dưới 12% so với cùng kỳ, NHNN sẽ áp dụng chính sách tăng trưởng tín dụng thận trọng dưới 12% trong trung và dài hạn. Theo đó, tốc độ tăng trưởng tín dụng giảm dần là điều đã được dự báo và sẽ không gây tác động trọng yếu đến tăng trưởng lợi nhuận của toàn ngành ngân hàng khi cơ cấu thu nhập chuyển dịch dần sang thu nhập ngoài lãi.
Bên cạnh đó, một trong những yếu tố dẫn đến sự khác biệt về tỷ lệ tăng trưởng tín dụng ban đầu của các ngân hàng là do sự khác biệt về hệ số CAR. Cụ thể, các ngân hàng có hệ số CAR cao sẽ được cấp hạn mức tăng trưởng tín dụng cao và ngược lại. Do đó, đối với 3 NHTM có vốn nhà nước có hệ số CAR theo Basel 2 thấp (trong trường hợp CTG, hệ số CAR vẫn theo Basel 1), tổng hạn mức tăng trưởng tín dụng chỉ là 9,1%. Mặt khác, các NHTMCP đã được cấp tổng hạn mức tăng trưởng tín dụng là 11,7%.
Cuối cùng, dưới tác động tiêu cực của dịch COVID-19, toàn bộ nền kinh tế đã bị đình trệ kể từ cuối tháng 1/2020. Do đó, chúng tôi dự báo rằng nhu cầu tín dụng cũng sẽ giảm nghiêm trọng cho đến khi dịch bệnh được ngăn chặn. Vì vậy, thông qua việc đặt hạn mức tăng trưởng tín dụng ban đầu thấp, NHNN cũng thể hiện chủ trương mong muốn các ngân hàng tập trung vào việc hỗ trợ các khách hàng hiện tại đang phải đối phó với dịch bệnh, thay vì tập trung vào tăng trưởng nóng.
Bảng 3: Tín dụng/GDP của Việt Nam

Bảng 4: Hệ số CAR theo Basel 2 năm 2019

Cập nhật tác động của COVID-19 đến ngành ngân hàng
Để đối phó với tác động của dịch COVID-19 đối với nền kinh tế, cũng như kết quả kinh doanh của ngành ngân hàng, NHNN đã nhanh chóng ban hành dự thảo thông tư hướng dẫn các ngân hàng áp dụng các biện pháp cần thiết để hỗ trợ các khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19. Thông tư chính thức sẽ được ban hành sau khi NHNN nhận được ý kiến đóng góp cho dự thảo.
Các nội dung chính của dự thảo thông tư như sau:
- Các ngân hàng có thể cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn và giảm lãi vay đối với: (a) các khoản nợ chưa chuyển nợ quá hạn từ các khách hàng được đánh giá không có khả năng hoàn trả đầy đủ nợ gốc và/hoặc lãi do chịu ảnh hưởng của dịch COVID-19. Và (b) các khoản nợ đã chuyển nợ quá hạn trong khoảng thời gian từ ngày 23/1/2020 đến ngày thông tư có hiệu lực do ảnh hưởng của dịch COVID-19.
- Tổng thời gian cơ cấu lại thời hạn trả nợ không vượt quá thời gian cấp tín dụng ban đầu theo hợp đồng đã ký.
- Đối với các khoản nợ được cơ cấu lại, các ngân hàng có thể giữ nguyên phân loại nhóm nợ tại thời điểm ngày 23/1/2020 đến tối đa 90 ngày sau khi chính phủ Việt Nam chính thức công bố hết dịch COVID-19.
- Đối với toàn bộ số lãi phải thu của phần dư nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi vay, các ngân hàng sẽ thực hiện theo dõi ngoại bảng và chỉ ghi nhận thu nhập lãi vay khi thu được.
- Trong 5 ngày đầu tiên của mỗi tháng, và khi có yêu cầu, các ngân hàng phải gửi báo cáo cho NHNN để cập nhật chi tiết về việc thực hiện cơ cấu lại do tác động của COVID-19 theo phụ lục cụ thể.
Động thái của các ngân hàng
Cùng với chính sách của NHNN, các ngân hàng cũng bắt đầu triển khai các gói hỗ trợ cho những khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh.
Nhìn chung, gói hỗ trợ bao gồm: (1) tung ra các gói cho vay mới với lãi suất ưu đãi từ 1-2% đối với các khoản vay VNĐ và từ 0,5-0,75% đối với khoản vay USD; (2) giảm lãi suất cho vay và chi phí giao dịch khác đối với các khoản vay hiện tại của các khách hàng bị ảnh hưởng bởi COVID19 và (3) cung cấp hỗ trợ kỹ thuật về việc sắp xếp lại lịch thanh toán nợ gốc và lãi, cũng như giữ nguyên nhóm nợ theo hướng dẫn của NHNN trong dự thảo thông tư.
Trong Bảng 4 dưới đây, chúng tôi tóm tắt thông tin về một số gói hỗ trợ đã được các ngân hàng công bố trong vài ngày qua; chúng tôi sẽ tiếp tục cập nhật khi có thêm thông tin.
Tại một cuộc họp gần đây với NHNN, đã có 23 ngân hàng báo cáo rằng tổng dư nợ của các khách hàng bị ảnh hưởng của COVID-19 hiện là 926 nghìn tỷ đồng, chiếm 14,27% dư nợ của các ngân hàng này và 11,3% dư nợ toàn ngành.
Bảng 5: Tóm tắt quy mô một số gói hỗ trợ tín dụng

Nhận định của chúng tôi
Việc đánh giá tác động của dịch cần thêm nhiều thời gian; tuy nhiên, những tổn thất do dịch bệnh gây ra có thể vẫn nằm trong giới hạn kiểm soát nhờ sự chuẩn bị kỹ lưỡng từ tất cả các bên liên quan.
Hiện tại vẫn còn quá sớm để đưa ra đánh giá toàn diện về tác động của COVID-19 đối với hoạt động kinh doanh và lợi nhuận của ngành ngân hàng. Cũng khó xác định và so sánh ảnh hưởng cụ thể của COVID-19 đối với từng ngân hàng tại thời điểm hiện tại. Tuy nhiên, COVID-19 rõ ràng có khả năng ảnh hưởng đến không chỉ tăng trưởng doanh thu mà còn ảnh hưởng đến tăng trưởng lợi nhuận của ngành ngân hàng.
Đầu tiên, ảnh hưởng của COVID-19 có thể khiến nền kinh tế đình trệ, theo đó làm giảm nhu cầu vay nợ. Tăng trưởng cho vay của ngành ngân hàng nhiều khả năng sẽ giảm mạnh trong giai đoạn dịch COVID-19.
Hiện tại, HSC dự báo tổng tăng trưởng cho vay cộng gộp trong năm 2020 đối với 11 ngân hàng chúng tôi phân tích là 13,3% trong trường hợp cơ sở (11,7% đối với 3 NHTM có vốn nhà nước và 16,2% đối với 8 NHTMCP). Trong trường hợp thận trọng, chúng tôi ước tính rằng 11 ngân hàng niêm yết có thể ghi nhận tổng tăng trưởng cho vay chỉ ở mức 11,2% (NHTM có vốn nhà nước là 9,9% và NHTMCP là 13,7%).
Bên cạnh đó, chính sách giảm lãi suất hỗ trợ các khách hàng vay vốn bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19 chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến tỷ lệ NIM và sau đó là ảnh hưởng đến mức tăng trưởng thu nhập lãi thuần của toàn hệ thống ngân hàng. Vẫn chưa có số liệu thống kê đầy đủ về tổng dư nợ cho vay bị ảnh hưởng bởi COVID-19. Tuy nhiên, với giả định các số liệu được báo cáo bởi 23/35 ngân hàng nêu trên là tương đối đầy đủ, với tổng dư nợ là 926 nghìn tỷ đồng, nếu tất cả ngân hàng đồng thời giảm lãi suất cho vay 1% trong khi duy trì chi phí huy động bình quân không đổi, thì tỷ lệ NIM của toàn ngành ngân hàng sẽ giảm 0,11%. Theo ước tính của chúng tôi, con số này tương đương với 6,3% LNTT của toàn bộ ngành ngân hàng trong năm 2019.
Bảng 6: Tăng trưởng tín dụng

Bảng 7: Tăng trưởng tín dụng

Tuy nhiên, để giảm thiểu tác động của việc giảm thu nhập lãi vay, các ngân hàng cũng đã nhanh chóng và chủ động giảm lãi suất tiền gửi có kỳ hạn. Nhu cầu tín dụng ở mức thấp trong 2 tháng đầu năm (và dự báo sẽ tiếp tục duy trì trong giai đoạn dịch bệnh kéo dài) là nền tảng tốt để các ngân hàng áp dụng chính sách này. Đáng chú ý, chúng tôi thấy một số ngân hàng đã tuyên bố cắt giảm lãi suất tiền gửi có kỳ hạn từ 0,1% xuống 0,3%. Theo chúng tôi, nếu các ngân hàng có thể đạt được sự đồng thuận về việc cắt giảm lãi suất tiền gửi, tác động của COVID-19 đối với thu nhập lãi vay có thể giảm đáng kể (có thể giảm khoảng một nửa so với ước tính nêu trên).
Không kém phần quan trọng, COVID-19 có thể khiến nợ xấu của ngành ngân hàng gia tăng đáng kể do sự gián đoạn nghiêm trọng của dòng tiền thanh toán nợ. Tuy nhiên, theo thông tư dự thảo trên, các ngân hàng được phép miễn, giảm lãi vay, cũng như gia hạn thời gian trả nợ gốc và lãi mà không phải chuyển các khoản nợ này sang nợ xấu. Do đó, tác động kép của COVID19 đến lợi nhuận của ngành ngân hàng từ việc giảm thu nhập lãi thuần và tăng chi phí dự phòng có thể được giảm thiểu một cách hiệu quả.
Tóm lại, trong trường hợp cơ bản, chúng tôi dự báo rằng 11 ngân hàng mà chúng tôi đánh giá phân tích sẽ có mức tăng trưởng LNTT là 22,3% trong năm 2020 trước khi bùng phát dịch COVID-19 nhờ cho vay khách hàng tăng trưởng 13,3% và tỷ lệ NIM tăng 0,12%. Tuy nhiên, nếu chúng tôi giả định COVID-19 sẽ tác động chủ yếu đến tăng trưởng doanh thu với tổng cho vay khách hàng giảm khoảng 2% và tỷ lệ NIM giảm 0,01%, thì tăng trưởng LNTT sẽ bị điều chỉnh giảm 5 – 7% xuống 15-17% so với năm ngoái từ dự báo trước đó là 22,3%.
Bảng 8: So sánh các doanh nghiệp ngân hàng Việt Nam

Nguồn: HSC
