Thương mại và tiêu dùng tăng nhanh nhất kể từ tháng 12/2007
GDP tăng mạnh 7,72% so với cùng kỳ trong Q2/2022, mức tăng cao nhất kể từ tháng 12/2007. GDP được thúc đẩy nhờ ngành công nghiệp chế biến & chế tạo (tăng 11,45%), bán buôn & bán lẻ hàng hoá (tăng 8,34%), giao thông & kho bãi (tăng 9,37%), dịch vụ lưu trú & ăn uống (tăng 25,92%) – đóng góp tổng cộng 41% vào GDP. Tăng trưởng GDP tổng thể cao hơn so với dự báo của chúng tôi (5,5%) và dự báo của thị trường (5,9%).
Trong 6 tháng đầu năm, doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ tăng 11,7% nhờ động lực tăng trưởng mạnh mẽ được duy trì, trong đó doanh số bán lẻ hàng hoá tăng 11,3% so với cùng kỳ, doanh số bán lẻ dịch vụ lưu trú & ăn uống tăng 20,9% và dịch vụ du lịch tăng 94,4%, trong khi số lượng khách du lịch quốc tế tăng trở lại 582,2%. Hoạt động di chuyển trong nước hồi phục, số lượng khách du lịch quốc tế và thị trường lao động được cải thiện đã thúc đẩy tiêu dùng mạnh mẽ. Trong Q2/2022, tỷ lệ thất nghiệp đã giảm xuống 2,32%, mức thấp nhất kể từ Q4/2019, thu nhập của lao động đã cải thiện trong quý thứ 3 liên tiếp.
Do số liệu kinh tế 6 tháng đầu năm 2022 vượt kỳ vọng, HSC nâng dự báo tăng trưởng GDP năm 2022 lên 6,83% (từ 6,2% trước đó). Các rủi ro chính bao gồm giá năng lượng tăng cao và nhu cầu tại các thị trường ngoài nước yếu đi (Mời xem: Căng thẳng địa chính trị ảnh hưởng tới nền kinh tế Việt Nam, ngày 26/3/2022, HSC).
Kim ngạch XNK tăng 16,4% so với cùng kỳ trong 6 tháng đầu năm nay, so với tăng 33,1% trong 6 tháng đầu năm 2021 và có thể sẽ tiếp tục chững lại trong 6 tháng cuối năm 2022 do nhu cầu tiêu dùng toàn cầu chuyển đổi từ hàng hoá sang dịch vụ. Samsung đã cắt giảm sản lượng điện thoại thông minh tại Việt Nam sau khi điều chỉnh giảm mục tiêu xuất xưởng điện thoại trong năm nay trên toàn cầu (từ 334 triệu chiếc xuống 280 triệu chiếc).
Về mặt giá cả, lạm phát tháng 6 đã tăng 3,37% so với cùng kỳ so với tăng 2,86% trong tháng 5/2022, trong khi CPI cơ bản tăng 1,98% so với cùng kỳ – mức tăng cao nhất kể từ tháng 8/2020. HSC dự báo CPI bình quân trong năm nay sẽ tăng lên 3,8% do triển vọng giá dầu tăng và lạm phát nhóm lương thực & thực phẩm tăng trở lại trong bối cảnh nhu cầu trong nước cải thiện cùng với chi phí nguyên liệu đầu vào và giao thông tăng. CPI điều chỉnh cao hơn 0,2 điểm phần trăm so với dự báo trước đó của chúng tôi. Ngoài ra, chúng tôi cũng nâng dự báo CPI bình quân năm 2023 lên 3% từ 2,5% theo dự báo trước đó.
Bảng 1: Xu hướng của các chỉ số kinh tế 
Cập nhật số liệu kinh tế vĩ mô
HSC nâng dự báo tăng trưởng GDP năm 2022 lên 6,83% nhờ số liệu kinh tế khả quan trong 6 tháng đầu năm 2022. GDP tăng mạnh 7,72% trong Q2/2022, mức tăng cao nhất kể từ tháng 12/2007, được thúc đẩy nhờ ngành công nghiệp chế biến & chế tạo, bán buôn & bán lẻ hàng hoá, giao thông, dịch vụ lưu trú & ăn uống. Chúng tôi dự báo CPI bình quân trong năm nay sẽ tăng lên 3,8% do triển vọng giá dầu tăng và lạm phát nhóm lương thực & thực phẩm tăng trở lại trong bối cảnh nhu cầu trong nước cải thiện cùng với chi phí nguyên liệu đầu vào và giao thông tăng. CPI điều chỉnh cao hơn 0,2 điểm phần trăm so với dự báo trước đó của chúng tôi Ngoài ra, chúng tôi cũng nâng dự báo CPI bình quân năm 2023 lên 3% từ 2,5% theo dự báo trước đó. Thương mại đã tăng trưởng mạnh mẽ 16,4% so với cùng kỳ trong 6 tháng đầu năm 2022, thấp hơn so với tăng 33,1% so với cùng kỳ trong 6 tháng đầu năm 2021 và có thể tiếp tục chững lại trong 6 tháng cuối năm 2022 do nhu cầu tiêu dùng toàn cầu chuyển đổi từ hàng hoá sang dịch vụ.
GDP tăng 7,72% so với cùng kỳ, vượt dự báo của chúng tôi và khảo sát của Bloomberg
GDP của Việt Nam tăng 7,72% so với cùng kỳ trong Q2/2022, so với mức tăng 5,05% so với cùng kỳ trong Q1/2022 (điều chỉnh tăng từ 5,03% so với cùng kỳ trước đó) và mức tăng 6,73% so với cùng kỳ trong Q2/2021. Đây là mức tăng cao nhất kể từ tháng 12/2007 (Bảng 2) và cao hơn so với dự báo của chúng tôi là 5,5% so với cùng kỳ (Mời xem: Vĩ mô đầu tuần: GDP của Việt Nam được kỳ vọng sẽ tăng 5,5% trong Q2/2022, ngày 28/6/2022, HSC) và mức trung vị là 5,9% trong một khảo sát do Bloomberg thực hiện với các nhà kinh tế học (Mời xem: Việt Nam tăng trưởng vượt kế hoạch năm 2022 nhờ tốc độ phục hồi nhanh chóng, ngày 29/6/2022, Bloomberg). Số liệu kinh tế khả quan ghi nhận trong Q2/2022 đã giúp tăng trưởng trong nửa đầu năm 2022 đạt 6,42% so với cùng kỳ, so với mức tăng lần lượt 5,74% và 2,04% so với cùng kỳ trong nửa đầu năm 2021 và 2020.
Cơ cấu theo ngành:
- Ngành nông lâm & ngư nghiệp tăng 3,02% so với cùng kỳ từ tăng 2,53% so với cùng kỳ trong Q1/2022.
- Ngành công nghiệp và xây dựng tăng 8,87% so với cùng kỳ sau khi tăng 6,41% so với cùng kỳ trong Q1/2022.
- Ngành dịch vụ cũng tăng 8,56% so với cùng kỳ so với tăng 4,64% so với cùng kỳ trong Q1/2022 (Bảng 2), được thúc đẩy chủ yếu nhờ sự hồi phục mạnh mẽ của lĩnh vực bán buôn & bán lẻ hàng hoá, giao thông, dịch vụ lưu trú & ăn uống.
Biểu đồ 2: Tăng trường GDP theo ngành 
Cụ thể hơn, các khu vực có tốc độ tăng trưởng cao hơn so với lạm phát tổng thể bao gồm ngành công nghiệp chế biến & chế tạo (tăng 11,45% so với cùng kỳ), bán buôn & bán lẻ hàng hoá (tăng 8,34% so với cùng kỳ), giao thông & kho bãi (tăng 9,37% so với cùng kỳ), dịch vụ lưu trú & ăn uống (tăng 25,92% so với cùng kỳ), tài chính ngân hàng & bảo hiểm (tăng 9,17% so với cùng kỳ), nghệ thuật & giải trí (tăng 14,01% so với cùng kỳ) (Bảng 3).
Tốc độ tăng trưởng cũng ghi nhận sự tăng tốc đối với ngành lâm nghiệp (tăng 5,36% so với cùng kỳ), ngư nghiệp (tăng 4,89% so với cùng kỳ), khai thác khoáng sản (tăng 3,4% so với cùng kỳ), cấp nước (tăng 6,56% so với cùng kỳ), xây dựng (tăng 3,96% so với cùng kỳ), thông tin & truyền thông (tăng 6,27% so với cùng kỳ), kinh doanh BĐS (tăng 6,14% so với cùng kỳ) và giáo dục & đào tạo (tăng 5,33% so với cùng kỳ).
Mặt khác, tốc độ tăng trưởng chậm lại đối với ngành nông nghiệp (tăng 2,22% so với cùng kỳ), sản xuất điện (tăng 5,17% so với cùng kỳ) và y tế (tăng 6,34% so với cùng kỳ).
Về sử dụng GDP, tiêu dùng cuối trong Q2/2022 tăng 7,32% so với cùng kỳ so với tăng 4,28% so với cùng kỳ trong Q1/2022. Trong khi đó, tích luỹ tài sản cố định gộp tăng 4,57% so với cùng kỳ, cao hơn so với tăng 3,22% so với cùng kỳ trong Q1/2022. Ngoài ra, tốc độ tăng trưởng tăng của xuất nhập khẩu hàng hoá & dịch vụ trong Q2/2022 (lần lượt đạt 12,33% và 4,88% so với cùng kỳ) cũng góp phần thúc đẩy GDP tăng.
Nhờ tăng trưởng trong 6 tháng đầu năm 2022 vượt kỳ vọng, HSC nâng dự báo tăng trưởng GDP năm 2022 lên 6,83% (từ 6,2% trước đó) trong khi duy trì các yếu tố khác trong mô hình dự báo của chúng tôi. Các rủi ro chính bao gồm giá năng lượng tăng cao và nhu cầu tại các thị trường ngoài nước yếu đi (Mời xem: Căng thẳng địa chính trị ảnh hưởng tới nền kinh tế Việt Nam, ngày 26/3/2022, HSC).
Biểu đồ 3: Cơ cấu GDP theo ngành 
CPI tăng 3,37% so với cùng kỳ dưới tác động của giá năng lượng và lương thực
Trong tháng 6/2022, lạm phát tổng thể tăng 3,37% so với cùng kỳ so với tăng 2,86% so với cùng kỳ trong tháng 5/2022, trong khi CPI cơ bản tăng 1,98% so với cùng kỳ – mức tăng cao nhất kể từ tháng 8/2020 (Bảng 4). Nguyên nhân chủ yếu do chi phí giao thông tăng 21,41% so với cùng kỳ – tháng tăng thứ 6 liên tiếp – sau khi tăng 18,42% so với cùng kỳ trong tháng 5/2022 (Bảng 5). Giá dầu thế giới trong tháng tăng đã khiến giá xăng dầu trong nước điều chỉnh tăng 3 lần trong kỳ, bình quân tăng 8,23% so với tháng trước.
Giá nguyên liệu đầu vào và chi phí giao thông tăng đã được chuyển sang cho chi phí lương thực & thực phẩm (tăng 2,27% so với cùng kỳ) – tháng tăng thứ 4 liên tiếp – mặc dù vẫn tăng chậm hơn so với lạm phát tổng thể. Nguyên nhân là do chi phí lương thực và thực phẩm chỉ tăng nhẹ lần lượt 2,87% và 1,29% so với cùng kỳ.
Điều này bù đắp cho chi phí dịch vụ ăn uống tăng 4,48% so với cùng kỳ. Một thành phần chính khác của CPI – chi phí nhà ở & vật liệu xây dựng đã tăng chậm lại 1,53% so với cùng kỳ từ tăng 2,18% so với cùng kỳ trong tháng 5/2022 nhờ giá khí đốt trong tháng 6 tiếp tục giảm 6,17% so với tháng trước sau khi giảm 5,38% so với tháng trước trong tháng 5/2022.
Biểu đồ 4: Lạm phát tổng thể 
Biểu đồ 5: Đóng góp vào lạm phát tổng thể 
Biểu đồ 6: Lạm phát bình quân 6 tháng đầu năm 
Áp lực lạm phát đã tăng lên 0,69% so với tháng trước sau khi tăng 0,38% so với tháng trước trong tháng 5/2022, đánh dấu tháng tăng thứ 6 liên tiếp, chủ yếu do chi phí giao thông tăng 3,62% so với tháng trước (đóng góp 0,35% điểm phần trăm vào lạm phát tổng thể) và chi phí lương thực & thực phẩm tăng 0,8% so với tháng trước (đóng góp 0,27% điểm phần trăm vào lạm phát tổng thể).
Mặc dù lạm phát tổng thể đã tăng lên mức cao nhất kể từ tháng 7/2020, bình quân lạm phát tổng thể và lạm phát cơ bản trong 6 tháng gần đây lần lượt là 2,44% và 1,25% so với cùng kỳ, thấp hơn nhiều so với mục tiêu của Chính phủ là 4% (Bảng 6).
HSC dự báo CPI bình quân trong năm nay sẽ tăng lên 3,8% do triển vọng giá dầu tăng và lạm phát nhóm lương thực & thực phẩm tăng trở lại trong bối cảnh nhu cầu trong nước cải thiện cùng với chi phí nguyên liệu đầu vào và giao thông tăng. CPI điều chỉnh cao hơn 0,2 điểm phần trăm so với dự báo trước đó của chúng tôi (Mời xem: Căng thẳng địa chính trị ảnh hưởng tới nền kinh tế Việt Nam, ngày 26/3/2022, HSC). Ngoài ra, chúng tôi cũng nâng dự báo CPI bình quân năm 2023 lên 3% từ 2,5% theo dự báo trước đó.
Giá trị sản xuất công nghiệp tăng trưởng ổn định trong tháng 6
Theo Tổng cục Thống kê, giá trị sản xuất công nghiệp trong tháng 6 đã tăng 11,5% so với cùng kỳ, đánh dấu tháng tăng thứ 9 liên tiếp. Chỉ số công nghiệp chế biến & chế tạo tăng 13,1% so với cùng kỳ sau khi tăng 12,1% so với cùng kỳ trong tháng trước (Bảng 7). Trong khi đó, chỉ số khai thác khoáng sản, điện & khí đốt, cấp nước & quản lý chất thải tăng lần lượt 3,3%, 6,3% và 8,5% so với cùng kỳ, tăng chậm hơn đáng kể so với chỉ số chung.
Trong 6 tháng đầu năm 2022, giá trị sản xuất công nghiệp và chỉ số công nghiệp chế biến & chế tạo đã tăng lần lượt 8,7% và 9,7% so với cùng kỳ, so với tăng lần lượt 9,3% và 16,6% so với cùng kỳ trong 6 tháng đầu năm 2021.
Cơ cấu theo lĩnh vực chính, tốc độ tăng trưởng cao đối với linh kiện điện tử (tăng 18,8% so với cùng kỳ) và sợi (tăng 4,1% so với cùng kỳ), trong khi tốc độ tăng trưởng chậm lại đối với thiết bị truyền thông (tăng 15,0% so với cùng kỳ) và giày dép (tăng 12,4% so với cùng kỳ). Ngược lại, tốc độ tăng trưởng âm được ghi nhận đối với điện tử tiêu dùng (giảm 4,8% so với cùng kỳ) (Bảng 8).
Biểu đồ 7: PMI và chỉ số công nghiệp chế biến & chế tạo 
Biểu đồ 8: Động lực tăng trưởng chính cho hoạt động sản xuất 
Chỉ số PMI sản xuất của Việt Nam đã giảm xuống 54 trong tháng 6/2022 từ 54,7 trong tháng 5, nhưng vẫn đánh dấu tháng hồi phục thứ 9 liên tiếp của môi trường kinh doanh do việc thiếu sự gián đoạn từ dịch COVID-19 đã không có tác động tiêu cực đến nhu cầu và sản xuất (Bảng 7).
Sản lượng đầu ra và số lượng đơn đặt hàng mới được ghi nhận tăng đáng kể, trong khi các doanh nghiệp đẩy mạnh hoạt động thu mua và tuyển dụng.
Số lượng đơn đặt hàng mới đã tăng nhanh nhất trong vòng 4 tháng gần đây, mặc dù khó khăn trong vận chuyển đã hạn chế các cơ hội xuất khẩu (theo báo cáo trả lời khảo sát).
Số lượng đơn đặt hàng mới tăng đã khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất tiếp tục tuyển dụng lao động trong tháng 6, và tốc độ tăng việc làm đã đạt mức cao nhất trong vòng 3 năm 6 tháng. Việc tăng công suất lao động đã giúp lượng công việc tồn đọng giảm lần thứ 2 trong vòng 3 tháng gần đây, trong khi việc vận chuyển hàng tồn kho thành phẩm tiếp tục giảm trong tháng 6.
Về mặt giá cả, lạm phát giá nguyên liệu đầu vào đã tăng nhanh, chủ yếu do giá dầu và khí đốt tăng. Theo báo cáo trả lời khảo sát, nguyên nhân còn đến từ giá cước vận chuyển cùng với giá nguyên liệu thô tăng. Giá bán hàng hoá đã tăng chậm lại nhưng vẫn ở mức đáng kể và cao hơn nhiều so với mức bình quân kể từ khi số liệu bắt đầu được thu thập từ tháng 3/2011.
Tình trạng đứt gãy chuỗi cung ứng vẫn tiếp diễn khiến việc giao hàng bị trì hoãn, nhưng tình hình đã được cải thiện so với tháng 5. Các doanh nghiệp cho rằng nguyên nhân là do tình trạng phong toả vì dịch COVID-19 tại Trung Quốc, vấn đề vận chuyển, giá cả tăng và nguồn nguyên liệu thiếu hụt.
Các doanh nghiệp sản xuất kỳ vọng dịch bệnh sẽ được kiểm soát, giúp ổn định các điều kiện thị trường và thúc đẩy sản xuất trong 12 tháng tới.
Thương mại tăng trưởng nhanh trong tháng 6
KNXK trong tháng 6 tăng 20,0% so với cùng kỳ đạt 32,6 tỷ USD, sau khi tăng 18,1% so với cùng kỳ trong tháng 5/2022 (Bảng 9).
Theo các mặt hàng chính, KNXK tăng đối với máy móc (tăng 69% so với cùng kỳ), điện thoại các loại (tăng 15,3% so với cùng kỳ), giày dép (tăng 25,9% so với cùng kỳ), sắt thép (tăng 9,4% so với cùng kỳ), sản phẩm nhựa (tăng 24,5% so với cùng kỳ), dầu thô (tăng 129,7% so với cùng kỳ), gạo (tăng 53,3% so với cùng kỳ) và cà phê (tăng 34,7% so với cùng kỳ), trong khi tăng chậm lại đối với máy tính và sản phẩm điện tử (tăng 9,9% so với cùng kỳ), hàng dệt may (tăng 18,8% so với cùng kỳ), cao su (tăng 14,1% so với cùng kỳ) và thủy sản (tăng 23,9% so với cùng kỳ).
Ngược lại, tổng KNXK giảm do KNXK rau quả giảm 21,8% so với cùng kỳ, gỗ và sản phẩm từ gỗ giảm 1,8% so với cùng kỳ và sợi giảm 13,6% so với cùng kỳ.
Biểu đồ 9: Đóng góp vào tăng trưởng xuất khẩu 
Biểu đồ 10: Đóng góp vào tăng trưởng nhập khẩu

Trong khi đó, KNNK trong tháng 6 tăng 16,3% so với cùng kỳ đạt 32,4 tỷ USD, sau khi tăng 14,3% so với cùng kỳ trong tháng 5/2022 (Bảng 10) và là tháng tăng thứ 22 liên tiếp của KNNK.
KNNK tăng nhanh đối với nhựa (tăng 14,2% so với cùng kỳ), sản phẩm nhựa (tăng 22,9% so với cùng kỳ), hoá chất (tăng 36,8% so với cùng kỳ), sản phẩm hoá học (tăng 27,3% so với cùng kỳ) và than (tăng 186,7% so với cùng kỳ). Trong khi đó, KNNK tăng chậm lại đối với máy tính và sản phẩm điện tử (tăng 13% so với cùng kỳ), điện thoại các loại (tăng 0,2% so với cùng kỳ), nguyên phụ liệu dệt may và da giày (tăng 2,7% so với cùng kỳ), vải (tăng 0,8% so với cùng kỳ), sắt thép (tăng 28,3% so với cùng kỳ), sản phẩm xăng dầu (tăng 90,9% so với cùng kỳ) và ô tô (tăng 0,9% so với cùng kỳ).
Ngược lại, KNNK máy móc giảm 0,8% so với cùng kỳ và phân bón giảm 5% so với cùng kỳ.
So với tháng trước, KNXK và KNNK giảm lần lượt 5,6% và 0,8%.
Trong tháng 6/2022, Việt Nam ghi nhận thặng dư thương mại ước tính khoảng 276 triệu USD, tương đương thặng dư thương mại 0,7 tỷ USD luỹ kế 6 tháng đầu năm 2022 so với thâm hụt 1,9 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm 2021.
Trong nửa đầu năm 2022, KNXK (185,9 tỷ USD) và KNNK (185,2 tỷ USD) tăng lần lượt 17,3% và 15,5% so với cùng kỳ, chậm lại so với mức tăng lần lượt 29,2% và 37,2% so với cùng kỳ trong nửa đầu năm 2021.
Trong năm 2022, HSC dự báo KNXK sẽ tăng trưởng chậm lại 13,1% từ 12,0% trong năm 2021 (Mời xem: Căng thẳng địa chính trị ảnh hưởng tới nền kinh tế Việt Nam, ngày 25/3/2022, HSC).
Vốn FDI giải ngân tăng 8,9% trong 6 tháng đầu năm 2022
Tính từ đầu năm, vốn FDI giải ngân đã tăng 8,9% so với cùng kỳ lên 10 tỷ USD – mức cao nhất ghi nhận trong 6 tháng đầu năm kể từ năm 2018 (Bảng 11). Tuy nhiên, FDI cam kết (14 tỷ USD) đã giảm 8,1% so với cùng kỳ so với giảm 2,6% so với cùng kỳ trong 6 tháng đầu năm 2021.
Về vốn FDI giải ngân, ngành công nghiệp chế biến & chế tạo (7,65 tỷ USD) dự kiến sẽ nhận khoản đầu tư lớn nhất (đóng góp 76,1%), theo sau là hoạt động kinh doanh BĐS (881,3 triệu USD) đóng góp 8,8% và lĩnh vực sản xuất, phân phối điện, khí đốt (823,2 triệu USD) đóng góp 8,2%.
Vốn FDI đăng ký mới (4,94 tỷ USD) giảm 48,2% so với cùng kỳ so với tăng 13,2% so với cùng kỳ trong 6 tháng đầu năm 2021 và tập trung vào ngành công nghiệp chế biến & chế tạo (3,32 tỷ USD), đóng góp 67,1% và lĩnh vực kinh doanh BĐS (940,2 triệu USD), đóng góp 19%.
Biểu đồ 11: Vốn FDI giải ngân 
Biểu đồ 12: Đầu tư công sử dụng ngân sách 
Trong khi đó, vốn bổ sung cho các dự án hiện hữu (6,82 tỷ USD) tăng 65,6% so với cùng kỳ so với tăng 10,6% so với cùng kỳ trong 6 tháng đầu năm 2021, trong đó đáng chú ý là khoản đầu tư bổ sung 920 triệu USD của Samsung cho nhà máy tại Thái Nguyên và 941 triệu USD vào KCN Việt Nam Singapore (VSIP) tại Bắc Ninh.
Góp vốn mua cổ phần (2,27 tỷ USD) tăng 41,4% so với cùng kỳ so với giảm 54,3% so với cùng kỳ trong 6 tháng đầu năm 2021.
Trong năm 2022, HSC dự báo vốn FDI giải ngân và FDI đăng ký mới sẽ tăng trưởng lần lượt 13,3% và 16,2% (Mời xem: Nền kinh tế Việt Nam năm 2022-2023: Bức tranh tươi sáng, ngày 21/2/2022, HSC).
Trong tháng, đầu tư công đạt 44,4 nghìn tỷ đồng (tăng 13,7% so với cùng kỳ) (Bảng 12). Trong 6 tháng đầu năm 2022, đầu tư công (192,2 nghìn tỷ đồng) tương đương chỉ 35,3% kế hoạch năm 2022 của Chính phủ (526,1 nghìn tỷ đồng), tăng 10,1% so với cùng kỳ nhưng thấp hơn so với mức tăng 11,9% so với cùng kỳ trong 6 tháng đầu năm 2021.
Trong 6 tháng đầu năm 2022, ngân sách nhà nước thặng dư 219,9 nghìn tỷ đồng so với mục tiêu thâm hụt 372,9 nghìn tỷ đồng theo kế hoạch năm 2022 (“Quyết định 2432” của Bộ Tài chính). Trong đó, thu ngân sách cao hơn (932,9 nghìn tỷ đồng, tương đương 66,1% kế hoạch năm 2022) so với chi ngân sách (713 nghìn tỷ đồng, tương đương 40% kế hoạch năm 2022) tính từ đầu năm đến nay. Lưu ý, do giá dầu tăng, thu ngân sách từ dầu thô trong 6 tháng đầu năm 2022 đạt 34,2 nghìn tỷ đồng, tương đương 121,3% kế hoạch cả năm và tăng 80,8% so với cùng kỳ.
Doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ tăng 27,3% so với cùng kỳ trong tháng 6 và tăng 11,7% trong 6 tháng đầu năm 2022
Trong tháng 6, doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ hàng tháng (471,8 nghìn tỷ đồng) tăng 27,3% so với cùng kỳ (tăng 1,4% so với tháng trước), mức cao nhất ghi nhận trong tháng 6 kể từ khi số liệu bắt đầu được thu thập. Doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ đặc biệt được thúc đẩy nhờ doanh số bán lẻ hàng hóa (đạt 373,6 nghìn tỷ đồng, tăng 21% so với cùng kỳ), doanh số bán lẻ dịch vụ lưu trú & ăn uống (đạt 49,1 nghìn tỷ đồng, tăng 80% so với cùng kỳ) và dịch vụ du lịch (đạt 2,5 nghìn tỷ đồng, tăng 1.659,4% so với cùng kỳ) (Bảng 13).
Doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ (2.717 nghìn tỷ đồng) trong 6 tháng đầu năm 2022 đã tăng 11,7% so với cùng kỳ so với tăng 4,9% so với cùng kỳ trong 6 tháng đầu năm 2021, nhờ tiêu dùng hồi phục mạnh mẽ.
Kết quả này sát với dự báo của chúng tôi. Trong năm 2022, HSC dự báo doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ sẽ tăng trưởng 10,1% so với giảm 3,8% trong năm 2021 (Mời xem: Nền kinh tế Việt Nam năm 2022-2023: Bức tranh tươi sáng, ngày 21/2/2022, HSC).
Sự phục hồi của doanh số bán lẻ cũng được hỗ trợ nhờ hoạt động di chuyển trong nước cải thiện so với cùng kỳ, với số lượng hành khách trong nước tăng 80,9% so với cùng kỳ trong tháng 6/2022 (Bảng 15).
Ngoài ra, số lượng khách du lịch quốc tế trong tháng 6/2022 tiếp tục tăng mạnh 3.185% so với cùng kỳ (tăng 36,8% so với tháng trước) lên 236,7 nghìn người – mức cao nhất kể từ tháng 3/2020 (Bảng 14); trong đó khách du lịch chủ yếu đến từ Hàn Quốc (51,4 nghìn người), Trung Quốc (10 nghìn người), Nhật Bản (11,6 nghìn người), Malaysia (10,8 nghìn người), Thái Lan (11,1 nghìn người), Đài Loan (6,7 nghìn người), Australia (11,5 nghìn người), Mỹ (27,1 nghìn người) và châu Âu (31,1 nghìn người). Trong 6 tháng đầu năm 2022, tổng lượng khách du lịch đạt 602 nghìn người, tăng 582,2% so với cùng kỳ (so với giảm 97,6% so với cùng kỳ trong 6 tháng đầu năm 2021).
Trong năm 2022, HSC dự báo số lượng khách du lịch quốc tế sẽ tăng lên 2,46 triệu người từ 157.300 người trong năm 2021 (Mời xem: Nền kinh tế Việt Nam năm 2022- 2023: Bức tranh tươi sáng, ngày 21/2/2022, HSC).
Biểu đồ 13: Doanh số bán lẻ hàng hóa, dịch vụ hàng tháng 
Biểu đồ 14: Lưu lượng hành khách quốc tế hàng tháng 
Biểu đồ 15: Dữ liệu về di chuyển trong nước hàng tháng 
Biểu đồ 16: Tỷ lệ thất nghiệp và thu nhập bình quân đầu người theo tháng 
Trong tương lai, HSC kỳ vọng nhu cầu trong nước của Việt Nam sẽ tiếp tục hồi phục nhờ thị trường lao động được cải thiện. Trong Q2/2022, tỷ lệ thất nghiệp đã giảm xuống 2,32%, mức thấp nhất kể từ Q4/2019, trong khi thu nhập của lao động đã cải thiện trong quý thứ 3 liên tiếp (Bảng 16).
Dự báo kinh tế vĩ mô của HSC
Nguồn: HSC
Tuyên bố miễn trách nhiệm: Báo cáo chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin và nhà đầu tư chỉ nên sử dụng báo cáo phân tích này như một nguồn tham khảo. Dautucophieu.net sẽ không chịu bất kỳ trách nhiệm nào trước nhà đầu tư cũng như đối tượng được nhắc đến trong báo cáo này về những tổn thất có thể xảy ra khi đầu tư hoặc những thông tin sai lệch về doanh nghiệp.
