DANH MỤC

Mobile / Fb / Zalo: 0912 842 224 | 0982 842 224
Đầu tư Cổ phiếu Group Facebook

Thị trường trái phiếu hàng tháng – Quy mô thị trường TPDN vượt 1 triệu tỷ đồng

Lượt xem: 104 - Ngày:
Chia sẻ

Quy mô thị trường TPDN đã tăng 20% so với đầu năm

Quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) Việt Nam tiếp tục tăng nhanh (tăng 20% so với đầu năm), vượt qua mốc 1 triệu tỷ đồng trong nửa đầu năm 2021, và hiện đã vượt quy mô thị trường TPDN của Indonesia và Philippines (ở đây chúng tôi chỉ nói về TPDN phát hành bằng đồng nội tệ). Mặc dù thiếu vắng một hệ thống xếp hạng tín nhiệm hiệu quả, cho đến nay vẫn chưa có trường hợp mất khả năng thanh toán nào được ghi nhận trên thị trường.

Các NHTM là những tổ chức phát hành chính trên thị trường TPDN với tổng giá trị trái phiếu đang lưu hành là là 368 nghìn tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 35% toàn thị trường). Trong vai trò là NĐT, hiện các NHTM cũng đang nắm giữ tổng cộng khoảng 500 nghìn tỷ đồng TPDN (chiếm tỷ trọng 50%).

Các doanh nghiệp BĐS là những tổ chức phát hành lớn thứ 2 trên thị trường TPDN với tổng giá trị trái phiếu đang lưu hành là 317 nghìn tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 30% toàn thị trường). Nếu tính cả TPDN của các tổ chức phát hành liên quan đến lĩn vực BĐS thì tỷ trọng đóng góp của lĩnh vực BĐS trong tổng số dư TPDN đang lưu hành có thể lên đến 50%, vượt tỷ trọng của các NHTM.

Việc tiếp cận thị trường TPDN của các doanh nghiệp từ các lĩnh vực không phải ngân hàng hay BĐS là rất hạn chế.

NĐT cá nhân hiện chiếm vị trí số 2 về thị phần đầu tư trên thị trường và hiện đang nắm giữ khoảng 300-350 nghìn tỷ đồng TPDN, chủ yếu là trái phiếu của các NHTM và doanh nghiệp BĐS. Tỷ trọng tham gia thị trường của NĐTNN là khoảng 2%, xấp xỉ 1 tỷ USD – cao hơn nhiều so với dự tính trước đây của HSC.

Gia tăng sự cạnh tranh giữa các công ty chứng khoán (CTCK) trong lĩnh vực tư vấn, bảo lãnh phát hành và môi giới TPDN với sự xuất hiện của nhiều cái tên mới như TVS, VPS, SHS và HDBS.

Thanh khoản thị trường TPDN vẫn là một dấu hỏi khi có sự chênh lệch lớn về lãi suất giữa thị trường sơ cấp và thứ cấp.

Biểu đồ 1: Qy mô trị trường TPDN bằng đồng nội tệ của các nước trong khu vực ASEAN (tỷ đồng) 

Thị trường TPDN tăng trưởng nhanh nhưng có mức độ tập trung cao

Thị trường TPDN Việt Nam tiếp tục phát triển nhanh chóng với quy mô tăng 20% trong 8 tháng đầu năm 2021 và lần đầu tiên cán mốc 1 triệu tỷ đồng, với NHTM và doanh nghiệp BĐS chiếm ưu thế ở đầu phát hành. Hơn 1/3 lượng TPDN đang lưu hành do NHTM phát hành và NHTM cũng đồng thời nắm giữ 1/2 số lượng TPDN đang lưu hành. Các doanh nghiệp BĐS đứng thứ 2 về lượng TPDN phát hành trên thị trường, nhưng nếu tính cả những tổ chức phát hành liên quan thì các doanh nghiệp BĐS giữ vị trí số 1 ở đầu phát hành.

Thị trường TPDN đang phát triển nhanh chóng

Chúng ta đang chứng kiến sự phát triển nhanh chóng của thị trường TPDN Việt Nam bắt đầu từ năm 2017. Số dư TPDN trên thị trường đã tăng 5 lần kể từ năm 2017, từ 200 tỷ đồng lên 1 triệu tỷ đồng vào cuối tháng 8/2021, tương đương mức tăng trưởng bình quân năm là 40%. Quy mô thị trường TPDN Việt Nam đã vượt Philippines và Indonesia nhưng vẫn đứng sau Thái Lan và Malaysia.

Nếu tiếp tục tăng trưởng 30% mỗi năm, thì quy mô thị trường TPDN Việt Nam sẽ vượt Thái Lan trong 3 năm tới và bắt kịp Malaysia trong 5 năm tới.

Tuy nhiên, 2/3 khối lượng TPDN Việt Nam sẽ đáo hạn trong 3 năm tới là áp lực lớn đối với các tổ chức phát hành trong việc tái tục các khoản nợ này và điều này có thể dẫn đến sự biến động lớn trên thị trường.

Biểu đồ 2: Thị trường TPDN đang tăng trưởng nhanh chóng (tỷ đồng) 

Biểu đồ 3: Phân loại TPDN theo kỳ hạn 

Vẫn còn nhiều thách thức

Bên cạnh rủi ro biến động mạnh của thị trường liên quan đến việc tái tục số đến hạn, thị trường TPDN Việt Nam còn gặp nhiều thách thức trong quá trình phát triển như:

  • Thị trường tập trung cao độ vào ngành ngân hàng và BĐS (mỗi ngành chiếm khoảng 1/3 thị phần), nghĩa là thị trường TPDN chủ yếu phục vụ các doanh nghiệp lớn trong khi các doanh nghiệp nhỏ chưa tiếp cận được nhiều. Và sự hình thành một hệ thống xếp hạng tín nhiệm có hiệu lực có thể cải thiện tình trạng này.
  • Đến 92,9% TPDN đang lưu hành được phát hành riêng lẻ (tỷ lệ này ở ngành ngân hàng là 86,5% và ở các ngành còn lại là 96,5%), nghĩa là khả năng tiếp cận của các NĐT đại chúng đối với thị trường TPDN là hạn chế.
  • Mặc dù các tổ chức lưu ký được yêu cầu báo cáo định kỳ về giao dịch trái phiếu (đối với trái phiếu chưa niêm yết), hiện thông tin này chưa được phổ biến công khai, trong khi tỷ trọng trái phiếu niêm yết còn rất nhỏ, dưới 2%.
  • Việc nới lỏng quy định phát hành riêng lẻ TPDN theo Nghị định 153/2020/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 1/1/2021), thay thế Nghị định 81/2020/NĐ-CP (quy định chặt chẽ hơn nhưng chỉ tồn tại trong thời gian ngắn), đã lý giải cho việc phát hành riêng lẻ đang là phương thức được sử dụng phổ biến. NĐT chấp nhận phương thức phát hành riêng lẻ trong khi quy định về phát hành riêng lẻ được nới lỏng và có lợi hơn cho tổ chức phát hành. HSC cho rằng cần có các quy định hạn chế số lượng và giá trị các đợt phát hành riêng lẻ để bảo vệ lợi ích NĐT cuối cùng.
  • Sự thiếu vắng một hệ thống xếp hạng tín nhiệm hiệu quả làm tăng rủi ro thị trường đối với NĐT, đặc biệt là khi gần 90% TPDN do NHTM phát hành và 25% TPDN do doanh nghiệp khác phát hành không có tài sản thế chấp hoặc được bảo lãnh.
  • Một lý do khiến các tổ chức phát hành tránh phát hành ra công chúng vì theo Nghị định 155/2020/NĐ-CP, tổ chức phát hành phải được xếp hạng tín nhiệm để được phép chào bán TPDN ra công chúng trong các trường hợp: a) tổng giá trị TPDN huy động trong khoảng thời gian 12 tháng lớn hơn 500 tỷ đồng và lớn hơn 50% vốn CSH; hoặc b) tổng dư nợ TPDN theo mệnh giá tại ngày đăng ký chào bán lớn hơn vốn CSH.
  • Phân tích của HSC cho thấy ít nhất 200 trong số 486 tổ chức phát hành có thể rơi vào các trường hợp trên với số dư TPDN khoảng 630 nghìn tỷ đồng, chiếm hơn 60% tổng số dư TPDN đang lưu hành. TPDN phát hành riêng lẻ không được xếp hạng tín nhiệm nên NĐT có thể sẽ khó khăn hơn trong việc xác định rủi ro của trái phiếu. Vì vậy, để tránh sự lạm dụng phương thức phát hành riêng lẻ của tổ chức phát hành và bảo vệ NĐT, cần có những quy định hạn chế số lượng và giá trị các đợt phát hành riêng lẻ.
  • Ngoài ra, chỉ 25% lượng trái phiếu phát hành ra công chúng được niêm yết và trong năm nay không có trái phiếu niêm yết mới. Theo thông tin công bố trên website của HSX, chỉ 18 nghìn tỷ đồng TPDN (theo mệnh giá) được niêm yết trên HSX trong khi tổng số dư TPDN phát hành ra công chúng là khoảng 75 nghìn tỷ đồng (theo thông tin tổng hợp từ cổng thông tin trái phiếu của VBMA và HNX).

Bảng 4: Phân loại trái phiếu doanh nghiệp theo ngành và theo phương thức phát hành 

Bảng 5: Phân loại trái phiếu doanh nghiệp theo hình thức bảo lãnh 

Tình hình phát hành TPDN trong 8 tháng đầu năm 2021

Lượng TPDN phát hành trong 8 tháng đầu năm 2021 vượt mọi kỷ lục với tổng giá trị phát hành đạt 326 nghìn tỷ đồng, cao hơn một chút tổng lượng TPDN phát hành trong cả năm 2020 (324 nghìn tỷ đồng), gần gấp đôi lượng TPDN phát hành trong năm 2019, và cao hơn tổng lượng TPDN phát hành trong giai đoạn 2014-2019.

NHTM là những tổ chức phát hành tích cực nhất trong năm nay với tỷ trọng trong tổng lượng TPDN phát hành tăng từ 24,7% lên 37,4% trong khi tỷ trọng của các doanh nghiệp BĐS giảm xuống 33,7% từ 40% trong năm 2020 (con số này chưa bao gồm TPDN do các doanh nghiệp có liên quan đến ngành BĐS phát hành).

Biểu đồ 6: Phân loại TPDN theo năm phát hành 

Biểu đồ 7: Các đợt phát hành trái phiếu doanh nghiệp hàng tháng theo ngành 

Tuy nhiên, lượng trái phiếu phát hành thuần chỉ là 183 nghìn tỷ đồng, thấp hơn 15% so với 8 tháng đầu năm 2020 và chỉ bằng 65% so với cả năm 2020. Điều này là vì lượng trái phiếu đáo hạn cao (65 nghìn tỷ đồng) cũng như lượng trái phiếu được mua lại trước hạn lớn (78 nghìn tỷ đồng).

Việc mua lại trái phiếu trước hạn thường thấy ở các NHTM với tỷ lệ mua lại cao nhất, là 16,7%. Tỷ lệ mua lại trái phiếu trước hạn ở các CTCK là 14,2% và các doanh nghiệp BĐS là 9,8%.

Những tổ chức phát hành riêng lẻ TPDN thường phải có thêm các điều khoản để thỏa mãn yêu cầu của NĐT, bao gồm lãi suất coupon cao và cam kết mua lại trái phiếu, vì vậy trái phiếu kỳ hạn dài được phát hành kèm điều khoản mua lại trái phiếu là lựa chọn phù hợp.

Và dựa trên những thông tin chúng tôi thu thập được, 85% trái phiếu phát hành trong năm nay có thêm điều khoản mua lại trái phiếu.

Bảng 8: Diễn biến thị trưởng TPDN 

Bảng 9: Phân loại trái phiếu doanh nghiệp theo loại hình phát hành 

Bảng 10: Khối lượng TPDN 

Bảng 11: TPDN mua lại theo năm từ các đợt phát hành 

Bảng 12: TPDN được mua lại theo thời hạn còn lại 

Khoảng 2/3 lượng TPDN phát hành từ đầu năm có kỳ hạn từ 3 năm trở xuống trong khi 43,5 nghìn tỷ đồng TPDN phát hành có kỳ hạn từ 6 năm trở lên, trong đó 27,6 nghìn tỷ đồng là trái phiếu cấp 2 do các NHTM phát hành. Tuy nhiên, vì hầu hết có thể được mua lại trước hạn, nên TPDN có thể không tồn tại đến khi đáo hạn; nên thời hạn bình quân trên thực tế của TPDN nhiều khả năng chỉ khoảng 2 năm trở xuống.

Bảng 13: Trái phiếu doanh nghiệp phát hành năm nay theo kỳ hạn 

Niềm tin vào sự ổn định của mặt bằng lãi suất tại Việt Nam khá thấp, cho dù đã được cải thiện nhiều những năm gần đây. Vì vậy hầu hết TPDN phát hành (60% lượng TPDN phát hành trong năm nay, không tính TPDN do NHTM phát hành) có lãi suất thả nổi hoặc hỗn hợp – cố định trong năm đầu và thả nổi trong những năm tiếp theo.

TPDN do NHTM phát hành thường có lãi suất cố định, chiếm khoảng 80% tổng lượng trái phiếu phát hành có lãi suất cố định.

Hầu hết TPDN thanh toán lãi định kỳ, chỉ khoảng 7,5% tổng lượng trái phiếu phát hành thanh toán lãi tại thời điểm đáo hạn.

Bảng 14: Phân loại TPDN phát hành theo lãi suất coupon 

Bảng 15: Phát hành TPDN theo kỳ hạn thanh toán lãi suất coupon 

Bảng 16: Phát hành trái phiếu doanh nghiệp theo loại trái phiếu 

Lợi suất và lãi suất TPDN

Lãi suất coupon là lợi suất danh nghĩa của một chứng khoán thu nhập cố định và được ấn định vào thời điểm phát hành. Lãi suất coupon có thể khác với lợi suất thực tế mà NĐT nhận được trên thị trường thứ cấp.

Lợi suất trái phiếu phản ánh sự biến động giá trái phiếu. Khi giá trái phiếu tăng thì lợi suất giảm – nghĩa là lợi suất trái phiếu sau khi NĐT mua trên thị trường thứ cấp có thể cao hơn hoặc thấp hơn lãi suất coupon ở vào thời điểm trái phiếu được phát hành.

Tuy nhiên, như đã đề cập, hiện không có dữ liệu tập trung cho thị trường thứ cấp để xác định lợi suất thực tế cũng như thanh khoản. Vì vậy, HSC sử dụng lãi suất coupon trong phân tích của mình.

Lãi suất coupon thấp nhất thuộc về TPDN do NHTM phát hành với mức bình quân trong tháng 8 là 5,6%; tăng 0.3% so với tháng trước nhưng giảm 2.5% so với cùng kỳ năm trước. Lãi suất coupon cao nhất thuộc về TPDN của doanh nghiệp BĐS với mức bình quân trong tháng 8 là 11,1%; tăng 0.4% so với tháng trước nhưng giảm 0.3% so với cùng kỳ năm trước. Lãi suất coupon của TPDN do các doanh nghiệp ở ngành nghề khác phát hành bình quân đạt 8,6%; tăng 1.0% so với tháng trước nhưng giảm 2.0% so với cùng kỳ năm trước.

Biểu đồ 17: Tỷ lệ phát hành trung bình theo ngành và thời gian 

Từ cuối năm 2020 và đầu năm 2021, lãi suất đã bắt đầu giảm và biến động mạnh nhất là lãi suất coupon của TPDN do NHTM phát hành. Trong khi đó lãi suất coupon của TPDN do doanh nghiệp BĐS phát hành gần như không thay đổi. Theo đó chênh lệch giữa lãi suất TPDN do NHTM phát hành và doanh nghiệp BĐS phát hành đã nới rộng lên 5.5% vào cuối tháng 8 từ 3.8% vào cuối năm 2020.

Chênh lệch giữa lãi suất TPDN ngân hàng và BĐS lớn nhất ở kỳ hạn dưới 5 năm. Cụ thể lãi suất coupon của TPDN do NHTM phát hành không quá 4,2% trong khi lãi suất coupon của TPDN do doanh nghiệp BĐS phát hành rơi vào 8,1-13%.

Ở kỳ hạn dài (từ 5 năm trở lên), lãi suất TPDN ngân hàng dao động trong khoảng 6- 7,8%. Trong khi đó doanh nghiệp BĐS ít phát hành trái phiếu kỳ hạn dài, chỉ có 1 trái phiếu kỳ hạn 5 năm với lãi suất 10% và 1 trái phiếu kỳ hạn 10 năm với lãi suất 9,5%.

Giữa TPDN đã niêm yết và chưa niêm yết cũng có sự chênh lệch lãi suất. Trái phiếu niêm yết có lãi suất gần như không đổi ở mức 8.5% cho các kỳ hạn từ 2,5 năm đến 7 năm; trong khi trái phiếu chưa niêm yết có lãi suất coupon dao động từ 6% đến 13,7%. Lãi suất bình quân của trái phiếu chưa niêm yết là 10%, cao hơn 1.5% so với lãi suất bình quân của trái phiếu niêm yết.

Biểu đồ 18: Lãi suất coupon của TPDN (ngành tài chính) 

Biểu đồ 19: Lãi suất coupon của TPDN (phi tài chính) 

Chênh lệch lãi suất giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp cũng nới rộng. Biểu đồ 20 cho thấy đường cong lợi suất TPDN do các doanh nghiệp lớn (không phải NHTM) giao dịch trên thị trường thứ cấp, thấp hơn 2.0%-3.0% so với lãi suất trên thị trường sơ cấp.

Có thể nói phần chênh lãi suất giữa 2 thị trường sơ cấp và thứ cấp là “phí” dành cho nhà tạo lập – người cung cấp thanh khoản cho thị trường.

Biểu đồ 20: Lợi suất TPDN trên thị trường thứ cấp 

Thành phần NĐT

Hiện vẫn chưa có thông tin cụ thể về thành phần NĐT trên thị trường TPDN.

Nhờ có cổng thông tin TPDN của HNX, chúng tôi hiện đã có thêm thông tin phát hành TPDN và NĐT trên thị trường sơ cấp nhưng thiếu thông tin trên thị trường thứ cấp; nên khó có thể phác họa một bức tranh rõ ràng về thành phần NĐT tham gia thị trường.

Theo báo cáo về lượng trái phiếu phát hành thành công trong 6 tháng qua, 3/4 lượng trái phiếu được phát hành được các NHTM và CTCK mua (mỗi nhóm mua khoảng 38% lượng phát hành); 13,9% được phát hành cho các NĐT tổ chức khác, trong khi NĐT cá nhân chiếm tỷ trọng 9% và NĐTNN chiếm tỷ trọng dưới 1%.

Hiện tại, 1/3 lượng trái phiếu phát hành thành công không có báo cáo chi tiết về NĐT.

Biểu đồ 21: Lượng trái phiếu phát hành hàng tháng theo nhà đầu tư (tỷ đồng) 

Sau khi phân tích toàn bộ các báo cáo công bố, tỷ trọng tham gia thị trường TPDN sơ cấp của NĐT cá nhân là 11%; NĐTNN là 2% còn NHTM và CTCK cùng là 40%. Còn lại 7-8% là NĐT tổ chức khác.

Dựa trên dữ liệu do IMF trích dẫn từ nguồn NHNN và FiinPro (sử dụng BCTC của các NHTM), có thể kết luận rằng NHTM nắm khoảng 500 nghìn tỷ đồng TPDN, xấp xỉ 1/2 tổng số dư TPDN hiện tại, trong đó khoảng 1/2 là trái phiếu ngành ngân hàng.

CTCK là trụ cột trong hoạt động giao dịch TPDN. HSC ước tính các CTCK đã mua khoảng 40% lượng TPDN phát hành trên thị trường sơ cấp trong năm nay, và giả định các CTCK sẽ bán lại 10% cho các NHTM và phân phối 20-25% cho NĐT cá nhân; đồng thời nắm giữ khoảng 5-10% nhằm cung cấp thanh khoản với vai trò là nhà tạo lập thị trường.

Theo đó, NĐT cá nhân có thể đang nắm giữ 30-35% trong tổng số dư TPDN trên thị trường thứ cấp (cao gấp 3 lần lượng TPDN mà các NĐT này đầu tư trên thị trường sơ cấp), trong đó 40% là TPDN do NHTM phát hành và 40% là TPDN do doanh nghiệp BĐS phát hành.

Tỷ trọng tham gia của NĐTNN khoảng 2%, tương đương 20 nghìn tỷ đồng, nghĩa là chưa đến 1 tỷ USD.

Biểu đồ 22: Tỷ trọng tham gia của các NĐT trên thị trường sơ cấp 

Thành phần tham gia thị trường

Tổ chức phát hành là NHTM:

BIDV là tổ chức phát hành đứng đầu trên thị trường TPDN với hơn 100 mã trái phiếu đã phát hành trong 3 năm qua. Số dư trái phiếu của BIDV là 44 nghìn tỷ đồng, cao hơn một chút so với vốn điều lệ. Tuy nhiên tính từ đầu năm, BIDV chỉ đứng thứ 3 về lượng trái phiếu phát hành, sau ACB và VPB (có số dư trái phiếu tăng 160% trong năm nay).

Điểm đáng chú ý là các NHTM có vốn nhà nước có xu hướng phát hành trái phiếu kỳ hạn dài (bình quân trên 7 năm), chủ yếu là trái phiếu cấp 2. Điều này là vì các NHTM có vốn nhà nước gặp khó khăn khi tăng vốn vì nhà nước với vai trò là cổ đông chính không muốn góp thêm tiền, bao gồm cả việc trả cổ tức bằng cổ phiếu vì áp lực ngân sách. Tình hình đã dịu xuống gần đây nhưng phát hành trái phiếu cấp 2 vẫn là giải pháp tốt nhất.

Bảng 23: Top 10 TPDN của các ngân hàng thương mại trên thị trường 

Bảng 24: Top 10 TPDN của các ngân hàng thương mại trong năm nay 

Tổ chức phát hành là doanh nghiệp BĐS:

Hầu hết tổ chức phát hành lớn nhất trong lĩnh vực BĐS là các doanh nghiệp chưa niêm yết nên khó có thể tìm được thông tin về tổ chức phát hành.

Hầu hết TPDN BĐS mới được phát hành trong 12 tháng qua, cho thấy áp lực tái tục cũng như sự bất ổn tăng lên đối với các tổ chức phát hành.

Ngoài ra, nhiều tổ chức phát hành không được HNX phân loại vào doanh nghiệp BĐS nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ với ngành BĐS. Nếu phân loại các tổ chức phát hành này vào nhóm doanh nghiệp BĐS, thì TPDN do các doanh nghiệp BĐS phát hành cao hơn TPDN do các NHTM phát hành.

Bảng 25: Top 10 TPDN BĐS đang lưu hành 

Bảng 26: Top 10 TPDN BĐS theo số lượng phát hành trong năm nay (tỷ đồng) 

Các tổ chức phát hành khác:

Trong số 10 tổ chức phát hành lớn nhất không thuộc lĩnh vực ngân hàng và BĐS, có những doanh nghiệp có mối quan hệ rõ ràng với lĩnh vực BĐS như Sovico, Tập đoàn Đầu tư An Đông, Tập đoàn Đầu tư Phú Quốc và Hưng Thịnh Quy Nhơn. Còn lại là các công ty con, công ty liên kết trực tiếp của các doanh nghiệp BĐS, chẳng hạn Vinfast, Vinpearl và Vietjet Air.

Bảng 27: Top 10 TPDN (không thuộc NHTM / BDDS) theo số lượng TP đang lưu hành 

Bảng 28: Top 10 TPDN (không thuộc NHTM / BDDS) theo số lượng phát hành trong năm nay 

Tổ chức lưu ký:

Tổ chức lưu ký cũng là tổ chức bảo lãnh phát hành và nhà tạo lập cho TPDN được lưu ký.

Đứng đầu ở lĩnh vực này vẫn là Cty TNHH Chứng khoán Kỹ Thương (TCBS) với số dư TPDN lưu ký là 134,8 nghìn tỷ đồng với hơn 1/2 là TPDN BĐS.

CTCP Chứng khoán VPS (VPS) đang thách thức vị trí dẫn đầu của TCBS với số dư TPDN bảo lãnh phát hành trong năm nay là 33,5 nghìn tỷ đồng, sát với con số 35,2 nghìn tỷ đồng của TCBS. Tuy nhiên số dư TPDN lưu ký của VPS mới chỉ là 75,9 nghìn tỷ đồng, thấp hơn nhiều TCBS và mới chỉ đứng thứ 3 trên thị trường.

CTCP Chứng khoán Tân Việt (TVS) có số dư TPDN lưu ký đứng thứ 2 trên thị trường với số dư TPDN lưu ký là 78,6 nghìn tỷ đồng, chủ yếu là TPDN BĐS (giống với TCBS). NHTMCP Hàng hải Việt Nam cũng là một trong những tổ chức lưu ký đứng đầu với tỷ trọng TPDN BĐS lớn.

Những CTCK khác tập trung vào TPDN của NHTM, gồm CTCP Chứng khoán Sài Gòn Hà Nội (SHS), CTCP Chứng khoán VNDirect (VNDS) và Cty TNHH Chứng khoán ACB (ACBS).

Bảng 29: Top 10 tổ chức lưu ký theo số lượng TPDN đang lưu hành 

Bảng 30: Top 10 tổ chức lưu ký theo số lượng TPDN phát hành trong năm nay 

Bảng 31: Dự báo kinh tế vĩ mô của HSC

Nguồn: HSC

BÌNH LUẬN()

CÁC TIN LIÊN QUAN

Đối tác

Gọi ngay
Messenger
Zalo chát
Mở tài khoản
Góp ý