DANH MỤC

Mobile / Zalo: 0989 490 980

Kinh tế vĩ mô hàng tháng – Hạ dự báo GDP năm 2021 và 2022

Lượt xem: 1,863 - Ngày:

Các biện pháp phong tỏa ảnh hưởng tới tăng trưởng nửa cuối năm 2021

Làn sóng COVID-19 hiện tại sẽ dẫn đến một cú sốc kinh tế trong nước lớn hơn so với những làn sóng trước đó. Tốc độ lây nhiễm của biến thể Delta và tỷ lệ tiêm chủng thấp hơn so với các nước trong khu vực khiến Việt Nam sẽ mất nhiều thời gian để kiềm chế các ổ dịch. Theo đó, mức độ ảnh hưởng tới GDP sẽ mạnh hơn so với dự báo trước đây.

Hà Nội, TP.HCM và 18 tỉnh thành phía Nam khác (đóng góp 2/3 GDP của Việt Nam) hiện đang bị phong tỏa theo Chỉ thị 16, yêu cầu dừng hoạt động tất cả các lĩnh vực không thiết yếu. Số ca nhiễm COVID-19 tập trung chủ yếu tại các tỉnh phía Nam, khu vực đóng góp đáng kể vào GDP của Việt Nam. TP.HCM (đóng góp 17,5% GDP cả nước), Bình Dương (4,7%) và Đồng Nai (4,5%) bị ảnh hưởng nặng nề.

Dữ liệu của Google cho thấy hoạt động di chuyển hàng ngày đến các khu vực bán lẻ và vui chơi giải trí đã giảm gần 70% so với mức trước dịch COVID-19 sau khi áp dụng các biện pháp hạn chế di chuyển nghiêm ngặt nhất (Chỉ thị 16) tại Hà Nội và 19 tỉnh thành tại miền nam Việt Nam. Theo đó, doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ trong tháng 7/2021 giảm 25% so với tháng 1/2020.

Kim ngạch xuất khẩu tăng chậm hơn nhiều so với kim ngạch nhập khẩu, một phần do giá nguyên vật liệu và các hàng hóa trung gian khác tăng, do đó, Việt Nam nhập siêu 2,4 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2021 so với xuất siêu 8,7 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2020.

Bên cạnh tác động tiêu cực đến lĩnh vực dịch vụ và sản xuất, làn sóng COVID-19 hiện nay đang ảnh hưởng tới lĩnh vực nông nghiệp. Kim ngạch xuất khẩu rau quả đã giảm trong 3 tháng liên tiếp; giảm 17,2% so với tháng trước trong tháng 7/2021 so với giảm 5,2% so với tháng trước trong tháng 6/2021.

Triển vọng nửa cuối năm 2021 và nửa đầu năm 2022 suy yếu đã hạn chế tăng trưởng GDP năm 2021 và 2022 xuống lần lượt 4,46% và 6,80%, từ mức tăng trưởng lần lượt 5,89% và 7,70% trong dự báo trước đó. HSC duy trì dự báo tăng trưởng năm 2023 là 6,50%.

Rủi ro khiến tăng trưởng thực tế thấp hơn so với dự báo của chúng tôi sẽ do tốc độ triển khai tiêm chủng chậm hơn dự kiến, theo đó, các hạn chế di chuyển sẽ tiếp tục kéo dài trong Q4/2021. Trong kịch bản này, chúng tôi dự báo tăng trưởng năm 2021 sẽ chỉ còn 3,63%.

Biểu đồ 1: Xu hướng của các chỉ số kinh tế

Dịch COVID-19 đang tác động tiêu cực tới nền kinh tế

Dữ liệu của Google cho thấy hoạt động di chuyển hàng ngày đến các khu vực bán lẻ và vui chơi giải trí đã giảm gần 70% so với mức trước dịch COVID-19 sau khi áp dụng các biện pháp hạn chế di chuyển nghiêm ngặt nhất (Chỉ thị 16) tại Hà Nội và 19 tỉnh thành tại miền nam Việt Nam. Theo đó, doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ trong tháng 7/2021 giảm 25% so với tháng 1/2020. Trong khi đó, kim ngạch xuất khẩu rau quả giảm liên tiếp trong 3 tháng, giảm 17,2% so với tháng trước trong tháng 7/2021. HSC hạ dự báo lạm phát bình quân năm 2021 xuống 2,3% từ 3,2% và hạ dự báo tăng trưởng doanh số bán lẻ hàng hóa và dịch vụ năm 2021 xuống giảm 2,3% từ tăng trưởng 5,5%. Chúng tôi hạ dự báo tăng trưởng GDP năm 2021 và 2022 xuống lần lượt 4,46% và 6,80% từ lần lượt 5,89% và 7,70% trong dự báo trước đây. Chúng tôi duy trì dự báo tăng trưởng GDP năm 2023 là 6,50%.

Gặp khó khi đối phó với dịch COVID-19

Trong khi nhiều quốc gia châu Á đã áp dụng các biện pháp phong tỏa khác nhau, đợt bùng phát chủng Delta mới nhất không cho thấy dấu hiệu giảm bớt (Bảng 2) khiến nhiều quốc gia trong khu vực phải thắt chặt các biện pháp hạn chế (Bảng 5).

Tại Việt Nam, số ca mắc mới hàng ngày đã tăng lên hơn 9.000 ca trong tháng 8/2021, từ mức một con số trong tháng 4/2021 (Bảng 2). Hiện tại, tỷ lệ tiêm chủng đủ 2 mũi là khoảng 1,7%. Theo đó, Việt Nam đang đứng cuối bảng về tỷ lệ này trong khu vực ASEAN tính đến ngày 19/8/2021 (Bảng 3).

TP.HCM đã kéo dài thời gian phong tỏa nghiêm ngặt thêm một tháng đến hết ngày 15/9/2021. Trong khi đó, Hà Nội cũng kéo dài thời gian giãn cách xã hội thêm 2 tuần nữa cho đến ngày 6/9/2021. Bắt đầu từ 23/8/2021, TP.HCM đã siết chặt hơn nữa, bằng khẩu hiệu yêu cầu người dân “ai ở đâu ở yên đó “. (Mời xem: TP.HCM cấm người dân ra đường bắt đầu từ 23/8/2021, ngày 20/8/2021, VnExpress).

Biểu đồ 2: Số ca nhiễm covid tại khu vực ASEAN 

Biểu đồ 3: Tỷ lệ tiêm Vacxin trong khu vực ASEAN 

Bảng 4 và Bảng 5 cho thấy mức độ nghiêm trọng của các biện pháp hạn chế di chuyển được áp dụng gần đây. Hoạt động di chuyển của Việt Nam giảm tới 70% so với mức trước đại dịch, mức giảm mạnh nhất trong khu vực ASEAN (Bảng 5). Doanh số bán lẻ hàng hóa và dịch vụ đã giảm 25% so với mức trước COVID-19 trong tháng 1/2020 (Bảng 4).

Biểu đồ 4: Dữ liệu di chuyển nổi địa và doanh số bán lẻ tại Việt Nam 

Biểu đồ 5: Tổng hợp biện pháp hạn chế tại các nước trong khu vực ASEAN 

Bảng 5 cũng cho thấy không chỉ ở Việt Nam, mà ở Indonesia, Malaysia, Thái Lan, đã thắt chặt các biện pháp hạn chế gần đây sau khi số ca nhiễm mới tăng đột biến. Tại Singapore, tần suất di chuyển được cải thiện đáng kể nhờ vị trí dẫn đầu trong khu vực châu Á về tốc độ tiêm chủng (Bảng 3).

Mặc dù vậy, nhờ nhu cầu toàn cầu gia tăng (kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam đã tăng lần lượt 26,2% và 35,8% so với cùng kỳ trong 7 tháng đầu năm 2021), hoạt động sản xuất của Việt Nam là ngành ổn định duy nhất, tăng 9,9% so với cùng kỳ. Điều này là nguyên nhân lý giải, mặc dù các biện pháp phong tỏa đang được áp dụng, mức tiêu thụ năng lượng hàng tháng vẫn tăng lên mức cao kỷ lục trong tháng 7/2021 (Bảng 6).

Chọn năm 2019 làm năm cơ sở (loại trừ tác động từ mức nền thấp do đại dịch trong năm 2020), kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu hàng tháng bình quân vẫn cao hơn 20% so với năm 2019 (Bảng 7). Điều này cho thấy hoạt động xuấy khẩu tới tất cả các đối tác chính bao gồm Mỹ (tăng 37,4% so với cùng kỳ trong 7 tháng đầu năm 2021), châu Âu (tăng 24,2% so với cùng kỳ) và Trung Quốc (tăng 15,5% so với cùng kỳ) vẫn rất mạnh mẽ.

Biểu đồ 6: Mức tiêu thụ năng lượng hàng tháng tại Việt Nam 

Biểu đồ 7: Hoạt động thương mại hàng tháng so với năm 2019 

Chính phủ Việt Nam đã thực hiện các biện pháp chủ động để giảm thiểu tác động của làn sóng COVID-19 hiện tại đối với các mặt hàng xuất khẩu chủ chốt bao gồm điện tử, máy móc và hàng may mặc.

Các cơ quan quản lý đã chấp thuận cho các doanh nghiệp sản xuất cho phép công nhân ngủ qua đêm tại nhà máy trong thời gian dài để tạo ra những khu vực cách biệt; các công ty tự chịu trách nhiệm cung cấp thức ăn và chỗ ở tại nhà máy cũng như trả thêm trợ cấp cho những người làm việc.

Biểu đồ 8: Xu hướng cán cân thương mại 

Biểu đồ 9: Xu hướng đầu tư công 

Tuy nhiên, kể từ tháng 6/2021, chuỗi cung ứng trên toàn quốc, đặc biệt là tại miền nam, đã bị gián đoạn nghiêm trọng. Chỉ số PMI sản xuất của Việt Nam đã giảm xuống dưới 50 trong tháng thứ 2 liên tiếp xuống 45,1 trong tháng 7/2021 so với 44,1 trong tháng 6/2021.

Theo Bloomberg, Samsung Electronics cho biết doanh thu mảng kinh doanh điện thoại di động của họ đã bị ảnh hưởng bởi sự bùng phát dịch bệnh tại Việt Nam. Các ngành công nghiệp khác cũng đang bị ảnh hưởng – “tình hình ngày càng trở nên tồi tệ hơn khi hầu hết các nhà máy tại các tỉnh phía Nam đã phải ngừng hoạt động và các công ty ở phía Bắc phải đối mặt với nhiều khó khăn để duy trì một số hoạt động sản xuất”, Phạm Hồng Việt, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc điều hành của Công ty TNHH Sản xuất Giày và Nguyên Phụ Liệu HARCO cho biết trong một cuộc phỏng vấn qua điện thoại gần đây với Bloomberg. (Mời xem: Chuỗi cung ứng toàn cầu đang bị phá hủy bởi các làn sóng COVID-19 mới, ngày 15/8/2021, Bloomberg).

Trong Bảng 8, kim ngạch xuất khẩu tăng chậm hơn nhiều so với kim ngạch nhập khẩu, một phần do chi phí nguyên vật liệu và các hàng hóa trung gian khác tăng, theo đó, Việt Nam thâm hụt 2,4 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2021 so với thặng dư 8,7 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2020.

HSC dự báo động lực tăng trưởng thương mại sẽ chậm lại trong thời gian còn lại của năm do dịch COVID-19 lan rộng trên toàn cầu. Việc thực hiện lại một số hạn chế nhất định đã làm giảm nhu cầu tiêu dùng ở các thị trường xuất khẩu chủ chốt như Mỹ (Bảng 10) và Trung Quốc (Bảng 11).

Biểu đồ 10: Nhu cầu tiêu dùng tại Mỹ 

Biểu đồ 11: Nhu cầu tiêu dùng tại Trung Quốc 

Các biện pháp hạn chế di chuyển cũng đã cản trở việc triển khai các dự án đầu tư công. Trong tháng 7/2021, đầu tư công giảm 12,4% so với cùng kỳ và 1,7% so với tháng trước (Bảng 9). Trong Bảng 9, ngoại trừ tháng 1/2021, đầu tư công hàng tháng đã chậm lại đáng kể trong năm 2021 so với cùng kỳ năm 2020.

Biểu đồ 12: Chúng tôi điều chỉnh giảm dự báo lạm phát 

Biểu đồ 13: Dự báo giá dầu WTI 

Mặc dù giá năng lượng và hàng hóa tăng kéo theo chi phí giao thông, nhà ở và vật liệu xây dựng tăng, nhưng bình quân chỉ số CPI cơ bản và tổng thể trong 7 tháng đang ở mức thấp nhất kể từ năm 2016. Điều này cho thấy nhu cầu tiêu dùng yếu trong bối cảnh các biện pháp hạn chế di chuyển kéo dài và thị trường lao động khó khăn. Tỷ lệ thất nghiệp đã tăng lên 2,62% trong Q2/2021 từ 2,42% trong Q1/2021.

HSC dự báo mặt bằng lạm phát thấp sẽ duy trì trong phần còn lại của năm do:

  • Đầu tiên, HSC dự báo các hạn chế di chuyển của Việt Nam sẽ chỉ nới lỏng đáng kể khi tỷ lệ dân số được tiêm chủng đầy đủ vượt qua mức 50% (từ mức hiện tại là 14,4% (Bảng 3) . HSC kỳ vọng Việt Nam sẽ đạt được tỷ lệ này vào cuối Q4/2021.
  • Thứ hai, mức giảm 10-15% trên hóa đơn tiền điện (trước VAT) sẽ được áp dụng cho khách hàng từ tháng 8 đến tháng 9/2021 tại các tỉnh thành thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16. Điều này chắc chắn sẽ bù đắp phần nào áp lực lạm phát trong những tháng tới (Mời xem: Giảm hóa đơn tiền điện cho khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19, 31/7/2021, Thông tin Chính phủ).
  • Thứ ba, EIA dự báo giá dầu WTI sẽ giảm xuống mức bình quân 59 USD/thùng vào tháng 12/2022 từ mức 72,6 USD/thùng trong tháng 7/2021 (Bảng 13). Điều này sẽ giúp giảm áp lực lạm phát lên chi phí giao thông vốn chiếm tỷ trọng 9,67% trong giỏ tính CPI.

Do đó, HSC hạ dự báo lạm phát bình quân năm 2021 xuống tăng 2,3% từ tăng 3,2% trong dự báo trước đó (Bảng 12). Ngoài ra, HSC tiếp tục dự báo lạm phát bình quân sẽ duy trì ở mức dưới 4% trong năm 2022 và 2023 (lần lượt là 3,5% và 3,0%).

Biểu đồ 14: Dự báo doanh số bán lẻ 

Biểu đồ 15: Dự báo GDP thực hàng quý 

HSC hạ dự báo tăng trưởng GDP năm 2021 từ 5,89% xuống 4,51%

Hiện tại, việc nới lỏng các hạn chế và cấm di chuyển ở TP.HCM, Hà Nội cũng như các tỉnh thành khác đang áp dụng Chỉ thị 16, dự kiến sẽ diễn ra từ nửa cuối tháng 9/2021. Tuy nhiên, chúng tôi tin rằng một số hạn chế nhất định sẽ vẫn được áp dụng cho đến khi ít nhất 50% dân số cả nước được tiêm chủng đầy đủ, theo chúng tôi, điều này sẽ chỉ có thể đạt được vào cuối Q4/2021.

Chúng tôi cho rằng những hạn chế kéo dài và tâm lý thận trọng có thể sẽ cản trở sự phục hồi tiêu dùng trong những tháng tới. HSC hạ dự báo tăng trưởng doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ năm 2021 xuống giảm 2,3% từ tăng trưởng 5,5% trong dự báo trước đó (Bảng 14).

Trong khi đó, động lực tăng trưởng là đầu tư công và hoạt động thương mại dự kiến sẽ suy yếu còn một con số trong nửa cuối năm 2021 do mức nền cao trong nửa cuối năm 2020 và nhu cầu toàn cầu giảm, như đã phân tích ở trên.

Bên cạnh tác động tiêu cực đến lĩnh vực dịch vụ và sản xuất, làn sóng COVID-19 thứ 4 tại Việt Nam đang ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng như hoạt động xuất khẩu hàng hóa sang các thị trường trọng điểm bao gồm Trung Quốc và Mỹ.

Kim ngạch xuất khẩu rau quả đã giảm trong tháng thứ 3 liên tiếp, giảm 17,2% so với tháng trước trong tháng 7/2021 và giảm 5,2% so với tháng trước trong tháng 6/2021. Theo Bộ Nông nghiệp được trích dẫn trên Bloomberg, kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam có thể giảm 30% so với cùng kỳ trong nửa cuối năm nay do miền nam Việt Nam là nơi khu vực sản xuất nông nghiệp trọng điểm (Mời xem: Tình hình dịch COVID-19 ngày càng nghiêm trọng tại Việt Nam đang ảnh hưởng tiêu cực tới ngành công nghiệp thực phẩm, ngày 6/8/2021, Bloomberg).

Những khó khăn do dịch COVID-19 đặt ra những thách thức trong ngắn hạn và theo đó chúng tôi hạ dự báo tăng trưởng trong nửa cuối năm 2021 và nửa đầu năm 2022. HSC dự báo GDP Q3/2021 và Q4/2021 tăng lần lượt 2,39% và 5,17% so với cùng kỳ so với tăng lần lượt 4,46% và 7,06% so với cùng kỳ trong dự báo trước đó (Bảng 15).

Biểu đồ 16: Dự báo GDP hàng năm 

Do triển vọng tăng trưởng kinh tế nửa cuối năm 2021 và nửa đầu năm 2022 suy yếu, HSC hạ dự báo tăng trưởng GDP năm 2021 và 2022 xuống lần lượt 4,46% và 6,80% từ mức tăng trưởng lần lượt 5,89% và 7,70% trong dự báo trước đó. Trong khi đó, chúng tôi duy trì dự báo tăng trưởng năm 2023 là 6,5% (Bảng 16).

Rủi ro chính có thể khiến tăng trưởng thực tế thấp hơn so với dự báo của chúng tôi sẽ là diễn biến dịch COVID-19 – nếu tình hình xấu đi hoặc tốc độ triển khai tiêm chủng chậm hơn dự kiến, tình trạng phong tỏa chặt chẽ có thể kéo dài sang Q4/2021. Trong kịch bản này, chúng tôi dự báo tăng trưởng GDP trong năm 2021 sẽ là 3,63% (Bảng 16).

Cập nhật số liệu kinh tế vĩ mô

CPI tăng 2,64% so với cùng kỳ so với tăng 2,41% so với cùng kỳ trong tháng 6/2021. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng chậm lại 2,2% so với cùng kỳ so với tăng 4,9% so với cùng kỳ trong tháng 6/2021. Theo đó, giá trị sản xuất công nghiệp từ đầu năm chỉ còn tăng 7,9% so với cùng kỳ so với tăng 2,6% so với cùng kỳ trong 7 tháng đầu năm 2020 và tăng 9,4% so với cùng kỳ trong 7 tháng đầu năm 2019. Trong tháng 7/2021, đầu tư công giảm 1,7% so với tháng trước và giảm 12,4% so với cùng kỳ. FDI đăng ký giảm 11,1% so với cùng kỳ trong khi FDI giải ngân tăng 3,8% so với cùng kỳ trong 7 tháng đầu năm 2021. Kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu chỉ còn tăng lần lượt 11,9% và 31,8% so với cùng kỳ trong tháng 7/2021. Việt Nam nhập siêu lũy kế 2,4 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2021 so với xuất siêu 8,7 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2020. Trong khi đó, doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ giảm 8,3% so với tháng trước và 19,8% so với cùng kỳ trong tháng 7/2021.

Biểu đồ 17: Lạm phát tổng thể 

Biểu đồ 18: Đóng góp vào lạm phát tổng thể 

Lạm phát trong tháng 7 năm 2021 tăng 2,64% so với cùng kỳ

Trong tháng 7/2021, lạm phát tổng thể tăng 2,64% so với cùng kỳ trong so với tăng 2,41% so với cùng kỳ trong trong tháng 6/2021 (Bảng 2) dù chi phí vận chuyển tăng chậm lại (tăng 13,82% so với cùng kỳ trong so với tăng 15,54% so với cùng kỳ trong trong tháng 6/2021) và chi phí nhà ở và vật liệu xây dựng tăng tháng thứ 6 liên tiếp (tăng 4,44% so với cùng kỳ so với tăng 4,02% so với cùng kỳ trong trong tháng 6/2021).

Ngoài ra, chi phí lương thực và thực phẩm cũng tăng 0,52% so với cùng kỳ trong so với giảm 0,33% so với cùng kỳ trong trong tháng 6/2021. Theo chúng tôi, điều này là do người tiêu dùng đẩy mạnh tích lũy hàng hóa do lo ngại về các biện pháp hạn chế và cũng như diễn biến phức tạp của dịch COVID-19.

Giá năng lượng và hàng hóa cơ bản tăng đã phản ánh trong lạm phát giao thông, nhà ở và xây dựng, vốn có mức nền thấp trong cùng kỳ năm ngoái. Theo chúng tôi, các lĩnh vực này sẽ tiếp tục gây áp lực lạm phát trong nửa cuối năm 2021 (Bảng 18).

Tuy nhiên, hóa đơn tiền điện (trước VAT) giảm 15% sẽ được áp dụng cho khách hàng trong tháng 8-9/2021 tại các tỉnh thành thực hiện các biện pháp giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16. Điều này chắc chắn sẽ bù đắp phần nào áp lực lạm phát trong những tháng tới (Mời xem: Giảm hóa đơn tiền điện cho khách hàng bị ảnh hưởng bởi COVID-19, 31/7/2021, Thông tin Chính phủ).

Mặc dù lạm phát đã tăng ngắn hạn trong tháng 7/2021, bình quân lạm phát tổng thể và lạm phát cơ bản trong 7 tháng đầu năm 2021 lần lượt tăng 1,64% và 0,89% so với cùng kỳ, mức thấp nhất kể từ năm 2016 (Bảng 9) và thấp hơn nhiều so với mục tiêu tăng 4% của Chính phủ.

HSC hạ dự báo lạm phát bình quân năm 2021 xuống tăng 2,3% từ tăng 3,2% trong dự báo trước đó. Ngoài ra, HSC tiếp tục dự báo lạm phát bình quân sẽ duy trì ở mức dưới 4% trong năm 2022 và 2023 (lần lượt là 3,5% và 3,0%).

Do kiểm soát tốt lạm phát, HSC kỳ vọng NHNN sẽ duy trì chính sách tiền tệ phù hợp để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ít nhất là trong phần còn lại của năm 2021.

Biểu đồ 19: Lạm phát bình quân 7 tháng đầu năm 

Sản xuất công nghiệp mất đà tăng, chỉ còn tăng 2,2% so với cùng kỳ

Biểu đồ 20: PMI và chỉ số ngành công nghiệp chế biến & chế tạo 

Giá trị sản xuất công nghiệp tăng chậm lại 2,2% so với cùng kỳ từ tăng 4,9% so với cùng kỳ trong tháng 6/2021. Nếu không tính tháng 2/2021 (kỳ nghỉ Tết), đây là tốc độ tăng trưởng thấp nhất kể từ tháng 8/2020.

Số liệu cho thấy, hoạt động sản xuất đang tăng trưởng chậm lại đáng kể trong bối cảnh số ca nhiễm COVID-19 ngày càng gia tăng. Chỉ số công nghiệp chế biến & chế tạo chỉ tăng 2,9% so với cùng kỳ sau khi tăng 6,0% so với cùng kỳ trong tháng 6/2021 (Bảng 20).

Ngoài ra, chỉ số PMI tiếp tục cho thấy đà tăng trưởng của lĩnh vực sản xuất của Việt Nam đang suy yếu. Chỉ số PMI của Markit của Việt Nam tăng lên 45,1 trong tháng 7/2021 từ mức 44,1 trong tháng 6/2021. Số liệu này cho thấy hoạt động sản xuất tiếp tục suy giảm rõ rệt trong tháng thứ 2 liên tiếp (Bảng 20).

Sản lượng và số lượng đơn đặt hàng mới đều giảm nhanh hơn các tháng trước trong khi tỷ lệ thất nghiệp giảm mạnh trong tháng thứ 2 liên tiếp trong bối cảnh nhiều công ty phải tạm thời đóng cửa và các biện pháp hạn chế đang được áp dụng.

Ngoài ra, chuỗi cung ứng đang bị gián đoạn khi thời gian giao hàng của các nhà cung cấp kéo dài hơn cả giai đoạn sau khi dịch COVID-19 bùng phát vào đầu năm 2020. Từ đó, lĩnh vực sản xuất có thể sẽ vẫn chịu ảnh hưởng cho đến khi làn sóng COVID-19 này được kiểm soát.

Biểu đồ 21: Động lực chính cho hoạt động sản xuất 

Trong số các phân ngành sản xuất chính, các phân ngành tăng trưởng chậm lại bao gồm hàng dệt may (tăng 5,4% so với cùng kỳ so với tăng 27,6% so với cùng kỳ trong tháng 6/2021) và giày dép (tăng 8,9% so với cùng kỳ so với tăng 19,7% so với cùng kỳ trong tháng 6/2021). Trong khi đó, linh kiện điện tử chuyển chuyển sang giảm (giảm 10,0% so với cùng kỳ so với tăng 5,3% so với cùng kỳ trong tháng 6/2021) do ngành điện tử gia dụng giảm mạnh hơn (giảm 26,9% so với cùng kỳ so với giảm 11,4% so với cùng kỳ trong tháng 6/2021) (Bảng 21).

Nhờ nhu cầu toàn cầu phục hồi và mức nền thấp năm ngoái, trong 7 tháng đầu năm 2021, giá trị sản xuất công nghiệp vẫn tăng 7,9% so với cùng kỳ (so với tăng 2,6% so với cùng kỳ trong 7 tháng đầu năm 2020 và tăng 9,4% so với cùng kỳ trong 7 tháng đầu năm 2019) trong khi lĩnh vực công nghiệp chế biến & chế tạo tăng 9,9% so với cùng kỳ (so với tăng 4,2% so với cùng kỳ trong 7 tháng đầu năm 2020). Mặc dù vậy, lĩnh vực khai khoáng vẫn giảm 6,3% so với cùng kỳ trong 7 tháng đầu năm 2021 so với giảm 7,8% so với cùng kỳ trong 7 tháng đầu năm 2020, kéo tăng trưởng chung của hoạt động sản xuất giảm.

Hoạt động thương mại chậm lại do chuỗi cung ứng bị gián đoạn

Kim ngạch xuất khẩu trong tháng 7/2021 (tổng giá trị 27,9 tỷ USD) tăng 11,9% so với cùng kỳ (điều chỉnh từ tăng 8,4% so với cùng kỳ trước đó), chậm lại so với tăng 20,4% so với cùng kỳ trong tháng 6/2021 (Bảng 22). Các ngành chủ chốt khiến tăng trưởng giảm là máy tính và sản phẩm điện tử (giảm 9,1% so với cùng kỳ so với tăng 5,4% so với cùng kỳ trong tháng 6/2021), giày dép (tăng 2,3% so với cùng kỳ so với tăng 37,8% so với cùng kỳ trong tháng 6/2021), hàng dệt may (tăng 1,8% so với cùng kỳ so với tăng 16,2% so với cùng kỳ trong tháng 6/2021), gỗ và sản phẩm từ gỗ (tăng 17,1% so với cùng kỳ so với tăng 63,2% so với cùng kỳ trong tháng 6/2021) và các sản phẩm sắt thép (tăng 28,1% so với cùng kỳ so với tăng 54,0% so với cùng kỳ trong tháng 6/2021).

Biểu đồ 22: Đóng góp vào tăng trưởng xuất khẩu 

Biểu đồ 23: Đóng góp vào tăng trưởng nhập khẩu 

Chuỗi cung ứng bị ảnh hưởng đã được thể hiện rõ ràng trong số liệu tháng 7/2021. TP.HCM, trung tâm kinh tế của Việt Nam, hiện là tâm dịch COVID-19 của quốc gia. Khoảng 90% nhà máy sản xuất dệt may, giày dép, túi xách, điện tử và sản phẩm gỗ tại TP.HCM đã phải tạm ngừng hoạt động sau khi không đáp ứng được yêu cầu cung cấp chỗ ngủ tại nhà máy cho công nhân (Mời xem: Rủi ro thương mại trở nên tồi tệ khi biến chủng Delta lây lan nhanh chóng tại nhà máy khu vực Đông Nam Á, 30/7/2021, Bloomberg).

Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu tăng 31,9% so với cùng kỳ (điều chỉnh từ tăng 29,9% so với cùng kỳ trước đó), chậm lại so với tăng 34,3% so với cùng kỳ trong tháng 6/2021 (Bảng 23). Các ngành chủ chốt khiến tăng trưởng chậm lại là vải (tăng 20,9% so với cùng kỳ so với tăng 37,0% so với cùng kỳ trong tháng 6/2021), hàng dệt may và giày dép (tăng 29,7% so với cùng kỳ so với tăng 44,0% so với cùng kỳ trong tháng 6/2021), sắt thép (tăng 34,4% so với cùng kỳ so với tăng 75,3% so với cùng kỳ trong tháng 6/2021) và ô tô (tăng 55,9% so với cùng kỳ so với tăng 112,4% so với cùng kỳ trong tháng 6/2021), nhựa (tăng 20,7% so với cùng kỳ so với tăng 40,9% so với cùng kỳ trong tháng 6/2021).

So với tháng trước, kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu tăng lần lượt 2,4% và 5,3%.

Trong 7 tháng đầu năm 2021, kim ngạch xuất khẩu (186,4 tỷ USD) và kim ngạch nhập khẩu (188,8 tỷ USD) tăng lần lượt 26,2% và 35,8% so với cùng kỳ so với lần lượt tăng 1,5% và giảm 3,2% so với cùng kỳ trong 7 tháng đầu năm 2020. Trong 7 tháng đầu năm 2021, kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường chính bao gồm Mỹ (53,6 tỷ USD), Trung Quốc (28,7 tỷ USD) và châu Âu (22,5 tỷ USD) tăng lần lượt 37,4%, 24,2% và 15,5% so với cùng kỳ do nhu cầu được cải thiện sau khi hoạt động tiêm chủng được đẩy mạnh tại các quốc gia/khu vực này.

Trong tháng 7/2021, Việt Nam nhập siêu ước tính là 1,2 tỷ USD, đưa mức nhập siêu lũy kế 7 tháng đầu năm 2021 lên 2,4 tỷ USD so với thặng dư 8,7 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2020. Xu hướng nhập siêu gần đây đang gây ra rủi ro đối với dự báo của chúng tôi là thặng dư 16,6 tỷ USD trong năm 2021 so với thặng dư 20 tỷ USD trong năm 2020.

FDI và giải ngân vốn đầu tư công suy yếu

Trong 7 tháng đầu năm 2021, FDI đăng ký và thực hiện ước tính đạt lần lượt 17,72 tỷ USD (giảm 11,1% so với cùng kỳ so với giảm 6,9% so với cùng kỳ trong 7 tháng đầu năm 2020) và 10,5 tỷ USD (tăng 3,8% so với cùng kỳ so với giảm 4,1% so với cùng kỳ trong 7 tháng đầu năm 2020) (Bảng 24).

Đối với vốn FDI giải ngân, ngành công nghiệp chế biến & chế tạo (7,54 tỷ USD) chiếm 71,8%, hoạt động kinh doanh BĐS (1,3 tỷ USD) chiếm 12,3% và lĩnh sản xuất, phân phối điện, khí đốt (984 triệu USD) chiếm 9,4%.

Biểu đồ 24: Vốn FDI giải ngân 

Biểu đồ 25: Investment using state budget 

Trong khi đó, đối với FDI đăng ký, ngành công nghiệp chế biến & chế tạo (7,9 tỷ USD) chiếm 47,3%, hoạt động kinh doanh BĐS (1,2 tỷ USD) chiếm 6,9% và lĩnh sản xuất, phân phối điện, khí đốt (5,5 tỷ USD) chiếm 32,8%.

Vốn FDI đăng ký mới (10,1 tỷ USD) tăng 7% so với cùng kỳ so với tăng 14,4% so với cùng kỳ trong 7 tháng đầu năm 2020, tập trung vào các dự án năng lượng, bao gồm các nhà máy nhiệt điện LNG do Singapore phát triển 3,1 tỷ USD (Long An 1 và 2) ở phía Nam tỉnh Long An, Nhà máy nhiệt điện 1,3 tỷ USD do Nhật Bản phát triển (Ô Môn 2) ở phía Nam thành phố Cần Thơ và nhà máy pin mặt trời 498 triệu USD do Hồng Kông phát triển ở tỉnh Quảng Ninh.

Các biện pháp hạn chế đi lại kéo dài tiếp tục cản trở các NĐT đưa ra quyết định đầu tư. Vốn bổ sung cho các dự án hiện hữu (4,54 tỷ USD) giảm 3,7% so với cùng kỳ so với tăng 37,7% so với cùng kỳ trong 7 tháng đầu năm 2020. Một trong những dự án quan trọng là đầu tư bổ sung 750 triệu USD vào nhà máy LG Display Hải Phòng vào tháng 2/2021 (tổng vốn đầu tư vào dự án này hiện là 3,25 tỷ USD). Trong khi đó, góp vốn mua cổ phần (2,1 tỷ USD) giảm 55,8% so với cùng kỳ so với giảm 45,6% so với cùng kỳ trong 7 tháng đầu năm 2020.

Do 19 tỉnh thành phía Nam đang áp dụng các biện pháp phong tỏa và giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16 và một số địa phương khác đang thực hiện Chỉ thị 15, đã cản trở việc triển khai các dự án đầu tư công.

Trong tháng 7/2021, đầu tư công là 38,3 nghìn tỷ đồng (giảm 12,4% so với cùng kỳ và giảm 1,7% so với tháng trước) (Bảng 25). Trong 7 tháng đầu năm 2021, đầu tư (210,8 nghìn tỷ đồng) tương đương 44,3% kế hoạch năm 2021 của Chính phủ (477,3 nghìn tỷ đồng) và tăng 5,6% so với cùng kỳ so với tăng 25,2% so với cùng kỳ trong 7 tháng đầu năm 2020.

Tính đến ngày 15/7/2021, thặng dư ngân sách nhà nước là 61,9 nghìn tỷ đồng so với thâm hụt 343,7 nghìn tỷ đồng trong kế hoạch năm 2021 (“Quyết định 1927” của Bộ Tài chính). Trong đó, thu ngân sách cao hơn (819,4 nghìn tỷ đồng, tương đương 61% kế hoạch năm 2021) so với chi ngân sách (757,5 nghìn tỷ đồng, tương đương 44,9% kế hoạch năm 2021).

Doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ trong tháng 7/2021 giảm 19,8% so với cùng kỳ và 8,3% so với tháng trước.

Doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ hàng tháng (339,4 nghìn tỷ đồng) giảm 19,8% so với cùng kỳ và 8,3% so với tháng trước trong tháng 7/2021, kéo mức tăng từ đầu năm xuống tăng 0,7% so với cùng kỳ so với giảm 0,5% so với cùng kỳ trong 7 tháng đầu năm 2020 (Bảng 26).

Biểu đồ 26: Doanh số bán lẻ sản phẩm, dịch vụ hàng tháng 

Biểu đồ 27: Lưu lượng khách quốc tế hàng tháng 

Biểu đồ 28: Lưu lượng khách di chuyển trong nước hàng tháng 

Doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ tổng thể sụt giảm là do doanh số bán lẻ hàng hóa (291,8 nghìn tỷ đồng, giảm 5,5% so với tháng trước và 11,4% so với cùng kỳ), doanh số bán lẻ dịch vụ lưu trú và ăn uống (21,2 nghìn tỷ đồng, giảm 22,4% so với tháng trước và 53,8% so với cùng kỳ) và dịch vụ du lịch (133 tỷ đồng, giảm 4,8% so với tháng trước và 92,6% so với cùng kỳ).

Do hầu như không thực hiện các chuyến bay thương mại kể từ tháng 4/2020, lượng khách du lịch quốc tế giảm 46,4% so với cùng kỳ xuống còn 7,5 nghìn lượt (Bảng 27); những lượt khách này chủ yếu là các chuyên gia nước ngoài và lao động tay nghề cao. Trung Quốc (2,8 nghìn lượt), Hàn Quốc (1,2 nghìn lượt), Nhật Bản (380 lượt), Mỹ (427 lượt) và Châu Âu (871 lượt) hầu như không có du khách đến Việt Nam trong tháng 7/2021. Trong 7 tháng đầu năm 2021, tổng lượng khách quốc tế đạt 95,7 nghìn lượt, giảm 97,5% so với cùng kỳ (so với giảm 61,6% so với cùng kỳ trong 7 tháng đầu năm 2020).

Bên cạnh việc hạn chế các chuyến bay quốc tế đã diễn ra trong thời gian dài, việc thắt chặt hạn chế di chuyển trong nước do làn sóng thứ 4 bùng phát là nguyên nhân chính ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu dùng trong tháng 5/2021. Do các biện phấp hạn chế di chuyển, số lượng hành khách vận chuyển trong nước giảm 24,4% so với tháng trước và giảm 50,4% so với cùng kỳ trong tháng 7/2021 (Bảng 28).

Chìa khóa cho sự hồi sinh ngành du lịch của Việt Nam sẽ phụ thuộc vào việc dỡ bỏ rộng rãi các hạn chế di chuyển. Trước tình hình làn sóng dịch COVID-19 mới, theo quan điểm của chúng tôi, điều này sẽ không xảy ra ít nhất đến cuối Q4/2021.

Dự báo kinh tế vĩ mô của HSC 

Lịch sự kiện kinh tế quan trọng 

Các cổ phiếu HSC khuyến nghị

Nguồn: HSC

CÁC TIN LIÊN QUAN

Gọi ngay
Messenger
Zalo
Mở tài khoản