Kinh tế tiếp tục phục hồi ổn định
Số liệu kinh tế tháng 4 phản ánh nền kinh tế đang trên đà tăng trưởng, được thúc đẩy nhờ ngành dịch vụ sau khi số ca nhiễm COVID-19 mới hàng ngày giảm đáng kể. Do đó, hoạt động di chuyển đến các trung tâm giải trí và địa điểm du lịch đã trở lại mức trước đại dịch, giúp mảng này hồi phục.
Doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ tăng 12,1% so với cùng kỳ trong tháng 4. Sự phục hồi đã diễn ra trên hầu hết các mặt hàng chính, trong đó doanh số bán lẻ hàng hoá tăng 12,4% so với cùng kỳ, doanh số bán lẻ dịch vụ lưu trú & ăn uống tăng 14,8% so với cùng kỳ và dịch vụ du lịch tăng 49,4% so với cùng kỳ.
Dịch vụ du lịch phục hồi mạnh mẽ nhờ nhu cầu trong nước bị dồn nén và số lượng khách du lịch quốc tế tăng 420,6% so với cùng kỳ và 243,4% so với tháng trước trong tháng 4 lên 101,4 nghìn người – mức cao nhất kể từ tháng 5/2020.
Đối với ngành công nghiệp chế biến & chế tạo, hoạt động thương mại vẫn ổn định với KNXK tăng 25,0% so với cùng kỳ trong tháng 4 từ tăng 17% so với cùng kỳ trong tháng 3/2022. KNNK cũng tăng ổn định 15,5% so với cùng kỳ (tăng chậm hơn mức tăng của KNXK) lên 32,2 tỷ USD so với tăng 14,6% so với cùng kỳ trong tháng 3/2022, đánh dấu tháng tăng thứ 20 liên tiếp của KNNK.
Theo ước tính sơ bộ của Tổng cục Thống kê, Việt Nam thặng dư thương mại 1,1 tỷ USD trong tháng 4. Trong 4 tháng đầu năm 2022, thặng dư thương mại tăng lên 2,5 tỷ USD, cao hơn so với mức thặng dư thương mại 1,5 tỷ USD cùng kỳ năm 2021.
Về mặt giá cả, lạm phát tổng thể trong tháng 4 đã tăng 2,64% so với cùng kỳ so với tăng 2,41% so với cùng kỳ trong tháng 3/2022, trong khi CPI cơ bản tăng 1,47% so với cùng kỳ – mức tăng cao nhất kể từ tháng 11/2020, phản ánh tác động của nhu cầu trong nước bị đè nén. Mặc dù dịch vụ ăn uống đang có xu hướng tăng, chi phí thực phẩm đã giảm so với cùng kỳ trong tháng thứ 7 liên tiếp, nhờ đó lạm phát nhóm lương thực & thực phẩm (tăng 1,08% so với cùng kỳ) đã tăng chậm hơn so với lạm phát tổng thể.
Bảng 1: Xu hướng của các chỉ số kinh tế 
Cập nhật số liệu kinh tế vĩ mô
Số liệu kinh tế tháng 4 phản ánh tín hiệu tăng trưởng tích cực, đặc biệt đối với ngành dịch vụ sau khi số ca nhiễm COVID-19 mới hàng ngày giảm đáng kể. Hoạt động di chuyển đến các trung tâm giải trí đã trở lại mức trước dịch COVID-19. Doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ tăng 12,1% trong tháng 4. Sự phục hồi đã diễn ra trên hầu hết các mặt hàng chính, trong đó doanh số bán lẻ hàng hoá tăng 12,4% so với cùng kỳ, doanh số bán lẻ dịch vụ lưu trú & ăn uống tăng 14,8% so với cùng kỳ và dịch vụ du lịch tăng 49,4% so với cùng kỳ. Dịch vụ du lịch phục hồi mạnh mẽ nhờ nhu cầu trong nước bị dồn nén và số lượng khách du lịch quốc tế tăng 420,6% so với cùng kỳ (tăng 243,4% so với tháng trước) trong tháng 4 lên 101,4 nghìn người – mức cao nhất kể từ tháng 5/2020. Trong khi đó, đối với ngành công nghiệp chế biến & chế tạo, hoạt động thương mại vẫn ổn định với KNXK tăng 25,0% so với cùng kỳ trong tháng 4 từ 17% trong tháng 3/2022. Theo ước tính sơ bộ của Tổng cục Thống kê, Việt Nam thặng dư thương mại 1,1 tỷ USD trong tháng 4. Mặc dù dịch vụ ăn uống đang có xu hướng tăng, chi phí thực phẩm đã giảm so với cùng kỳ trong tháng thứ 7 liên tiếp, nhờ đó lạm phát nhóm lương thực & thực phẩm (tăng 1,08% so với cùng kỳ) đã tăng chậm lại so với lạm phát tổng thể (tăng 2,64% so với cùng kỳ trong tháng 4).
CPI tăng 2,64% so với cùng kỳ dưới tác động của giá năng lượng
Trong tháng 3/2022, lạm phát tổng thể tăng 2,64% so với cùng kỳ so với tăng 2,41% so với cùng kỳ trong tháng 3/2022 (Bảng 2). Nguyên nhân chủ yếu do chi phí giao thông tăng 16,59% so với cùng kỳ, chậm lại so với tăng 18,29% so với cùng kỳ trong tháng 3/2022 (Bảng 3), do giá dầu thế giới trong tháng giảm và khiến giá xăng dầu trong nước tăng chậm lại 46,1% so với cùng kỳ so với tăng 53,3% so với cùng kỳ trong tháng 3/2022 (Bảng 4).
Lạm phát nhóm lương thực & thực phẩm (tăng 1,08% so với cùng kỳ) tăng chậm hơn so với lạm phát tổng thể nhờ chi phí thực phẩm giảm trong tháng thứ 7 liên tiếp (giảm 0,15% so với cùng kỳ). Điều này bù đắp cho chi phí dịch vụ ăn uống tăng 3,78% so với cùng kỳ cũng như lạm phát lương thực tăng 2,05% so với cùng kỳ.
Một thành phần chính khác của CPI – chi phí nhà ở & vật liệu xây dựng đã tăng 2,72% so với cùng kỳ từ tăng 1,72% so với cùng kỳ trong tháng 3/2022 do chi phí vật liệu xây dựng tăng 2,02% so với tháng trước, giá khí đốt tăng 2,63% so với tháng trước và giá thuê nhà tăng 0,47% so với tháng trước.
Biểu đồ 2: Lạm phát tổng thể 
Biểu đồ 3: Cấu phần lạm phát tổng thể 
Biểu đồ 4: Giá xăng dầu trong nước 
Tuy nhiên, áp lực lạm phát đã hạ nhiệt xuống tăng 0,18% so với tháng trước so với tăng 0,7% so với tháng trước trong tháng 3/2022 nhờ chi phí thực phẩm giảm 0,32% so với tháng trước (do giá thịt lợn giảm 1,03% so với tháng trước) và chi phí giao thông giảm 0,59% so với tháng trước. Điều này đã bù đắp vào phần tăng của chi phí nhà ở & vật liệu xây dựng (tăng 0,58% so với tháng trước).
HSC dự báo CPI năm nay sẽ tăng lên 3,6% do triển vọng giá dầu tăng (Mời xem: Căng thẳng địa chính trị ảnh hưởng tới nền kinh tế Việt Nam, ngày 26/3/2022, HSC).
Giá trị sản xuất công nghiệp tăng trưởng ổn định nhờ ngành công nghiệp chế biến & chế tạo
Theo Tổng cục Thống kê, giá trị sản xuất công nghiệp trong tháng 4 đã tăng 9,4% so với cùng kỳ, đánh dấu tháng tăng thứ 6 liên tiếp. Chỉ số công nghiệp chế biến & chế tạo tăng 11,3% so với cùng kỳ sau khi tăng 9,6% so với cùng kỳ trong tháng trước (Bảng 5). Trong khi đó, chỉ số khai thác khoáng sản, điện & khí đốt và cấp nước & quản lý chất thải tăng lần lượt 2,3%, 2,8% và 0,4% so với cùng kỳ, tăng chậm hơn đáng kể so với chỉ số chung.
Trong 4 tháng đầu năm 2022, giá trị sản xuất công nghiệp và chỉ số công nghiệp chế biến & chế tạo đã tăng lần lượt 7,5% và 8,3% so với cùng kỳ, so với tăng lần lượt 10% và 12,7% so với cùng kỳ trong 4 tháng đầu năm 2022.
Biểu đồ 5: Chỉ số công nghiệp chế biến & chế tạo và chỉ số PMI 
Cơ cấu theo lĩnh vực chính, tốc độ tăng trưởng cao đối với sản xuất sản phẩm điện tử dân dụng (tăng 19,9% so với cùng kỳ) và giày dép (tăng 17,4% so với cùng kỳ), trong khi tốc độ tăng trưởng chậm lại đối với sợi (tăng 5,8% so với cùng kỳ), linh kiện điện tử (tăng 10,8% so với cùng kỳ) và sản xuất thiết bị truyền thông (tăng 19,2% so với cùng kỳ) (Bảng 6). Chỉ số PMI sản xuất của Việt Nam duy trì ở mức 51,7 trong tháng 4/2022, đánh dấu tháng hồi phục thứ 7 liên tiếp của môi trường kinh doanh (Bảng 6).
Sản lượng đầu ra và số lượng việc làm đều tăng trở lại trong tháng 4 sau khi giảm trong tháng 3/2022. Doanh nghiệp đã hưởng lợi từ số ca nhiễm COVID-19 giảm sau khi làn sóng COVID-19 gần nhất đạt đỉnh trong tháng 3/2022.
Tình hình dịch bệnh cải thiện đã giúp người lao động có thể trở lại làm việc, trong khi các báo cáo cũng cho thấy nhu cầu tuyển dụng có xu hướng tăng. Trên thực tế, tốc độ tăng việc làm đã đạt mức cao nhất trong vòng 1 năm. Năng lực sản xuất tăng giúp doanh nghiệp tăng sản lượng đầu ra và tận dụng được nhu cầu mạnh mẽ hơn của người tiêu dùng. Sản lượng đầu ra đã tăng trong tháng thứ 6 liên tiếp trong vòng 7 tháng gần đây.
Trong khi đó, áp lực lạm phát đã tăng nhanh, với phần lớn số người trả lời khảo sát cho rằng nguyên nhân đến từ cước vận tải, xăng dầu và khí đốt tăng. Do đó, các doanh nghiệp sản xuất đã nâng giá bán với tốc độ nhanh nhất kể từ tháng 11/2021.
Doanh nghiệp vẫn lạc quan rằng nhu cầu tiêu dùng và hạn chế về nguồn cung sẽ được cải thiện. Tuy nhiên, trở ngại đối với tốc độ tăng trưởng sản lượng đầu ra bao gồm tình hình đại dịch vẫn diễn biến xấu tại Trung Quốc và giá cả vẫn tiếp tục tăng mạnh. Những vấn đề này sẽ tác động đến cả nguồn cung và cầu vào đầu Q2/2022 và có khả năng sẽ hạn chế tăng trưởng trong các tháng tới.
Hoạt động thương mại ổn định trong tháng 4
KNXK trong tháng 4 tăng 25,0% so với cùng kỳ đạt 33,3 tỷ USD, sau khi tăng 17,0% so với cùng kỳ trong tháng 3/2022 (Bảng 7).
Theo các mặt hàng chính, KNXK tăng nhanh hơn đối với điện thoại các loại (tăng 62,8% so với cùng kỳ), máy tính và sản phẩm điện tử (tăng 23,2% so với cùng kỳ), máy móc (tăng 13,4% so với cùng kỳ), hàng dệt may (tăng 25,4% so với cùng kỳ), giày dép (tăng 18,9% so với cùng kỳ), thủy sản (tăng 39,9% so với cùng kỳ), sắt thép (tăng 23,6% so với cùng kỳ), gỗ và sản phẩm từ gỗ (tăng 5,7% so với cùng kỳ), sản phẩm nhựa (tăng 24,6% so với cùng kỳ), cao su (tăng 39,6% so với cùng kỳ), cà phê (tăng 56,6% so với cùng kỳ) và dầu thô (tăng 203,7% so với cùng kỳ).
Ngược lại, tổng KNXK giảm do KNXK rau quả giảm 20,9% so với cùng kỳ, gạo giảm 35,1% so với cùng kỳ, sợi giảm 1,8% so với cùng kỳ và hạt điều giảm 8,6% so với cùng kỳ.
Biểu đồ 6: Đóng góp tăng trưởng xuất khẩu 
Biểu đồ 7: Đóng góp tăng trưởng nhập khẩu 
Trong khi đó, KNNK trong tháng 4 tăng 15,5% so với cùng kỳ đạt 32,2 tỷ USD, sau khi tăng 14,6% so với cùng kỳ trong tháng 3/2022 (Bảng 8) và là tháng tăng thứ 20 liên tiếp của KNNK.
KNNK tăng nhanh đối với nguyên phụ liệu dệt may và da giày (tăng 10,7% so với cùng kỳ), nhựa (tăng 12,8% so với cùng kỳ), ô tô (tăng 19,4% so với cùng kỳ), than (tăng 173,9% so với cùng kỳ), phân bón (tăng 92,6% so với cùng kỳ). Trong khi đó, KNNK tăng chậm lại đối với máy tính và sản phẩm điện tử (tăng 26,7% so với cùng kỳ) và điện thoại các loại (tăng 41,5% so với cùng kỳ). Ngược lại, KNNK máy móc giảm 13,3% so với cùng kỳ, vải giảm 11,5% so với cùng kỳ và sắt thép giảm 16,8% so với cùng kỳ.
So với tháng trước, KNXK và KNNK giảm lần lượt 4,2% và 1,5%.
Trong tháng 2/2022, Việt Nam ghi nhận thặng dư thương mại ước tính khoảng 1,1 tỷ USD, so với mức thặng dư thương mại 2,0 tỷ USD trong tháng 3/2022, tương đương thặng dư thương mại 2,5 tỷ USD luỹ kế 4 tháng đầu năm 2022 so với thặng dư 1,5 tỷ USD trong 4 tháng đầu năm 2021.
Trong 4 tháng đầu năm 2022, KNXK (122,4 tỷ USD) và KNNK (119,8 tỷ USD) tăng lần lượt 16,4% và 15,7% so với cùng kỳ, chậm lại so với mức tăng lần lượt 29,7% và 32,1% so với cùng kỳ trong 4 tháng đầu năm 2021.
Trong năm 2022, HSC dự báo KNXK sẽ tăng trưởng chậm lại 13,1% từ 12,0% trong năm 2021 (Mời xem: Căng thẳng địa chính trị ảnh hưởng tới nền kinh tế Việt Nam, ngày 26/3/2022, HSC).
Vốn FDI giải ngân tăng 7,6% trong 4 tháng đầu năm 2022
Tính từ đầu năm, vốn FDI giải ngân đã tăng 7,6% so với cùng kỳ lên 5,92 tỷ USD – mức cao nhất ghi nhận trong 4 tháng đầu năm kể từ năm 2018 (Bảng 9). Tuy nhiên, FDI cam kết (10,81 tỷ USD) đã giảm 11,7% so với cùng kỳ so với giảm 0,7% so với cùng kỳ trong 4 tháng đầu năm 2021.
Về vốn FDI giải ngân, ngành công nghiệp chế biến & chế tạo (4,49 tỷ USD) nhận khoản đầu tư lớn nhất (đóng góp 75,8%), theo sau là hoạt động kinh doanh BĐS (555 triệu USD) đóng góp 9,4% và lĩnh vực sản xuất, phân phối điện, khí đốt (498,4 triệu USD) đóng góp 8,4%.
Vốn FDI đăng ký mới (3,7 tỷ USD) giảm 56,3% so với cùng kỳ so với tăng 24,7% so với cùng kỳ trong 4 tháng đầu năm 2021 và tập trung vào ngành công nghiệp chế biến & chế tạo (2,46 tỷ USD), đóng góp 66,5% và lĩnh vực kinh doanh BĐS (662 triệu USD), đóng góp 17,9%.
Biểu đồ 8: FDI giải ngân 
Biểu đồ 9: Đầu tư công 
Trong khi đó, vốn bổ sung cho các dự án hiện hữu (5,29 tỷ USD) tăng 92,5% so với cùng kỳ so với giảm 10,6% so với cùng kỳ trong 4 tháng đầu năm 2021, trong đó đáng chú ý là khoản đầu tư bổ sung 920 triệu USD của Samsung cho nhà máy tại Thái Nguyên và 941 triệu USD vào KCN Việt Nam Singapore (VSIP) tại Bắc Ninh.
Nhờ các biện pháp hạn chế đi lại được nới lỏng, góp vốn mua cổ phần (1,82 tỷ USD) tăng 74,5% so với cùng kỳ so với giảm 57,8% so với cùng kỳ trong 4 tháng đầu năm 2021.
Trong năm 2022, HSC dự báo vốn FDI giải ngân và FDI đăng ký mới sẽ tăng trưởng lần lượt 13,3% và 16,2% (Mời xem: Nền kinh tế Việt Nam năm 2022-2023: Bức tranh tươi sáng, ngày 21/2/2022, HSC).
Trong tháng, đầu tư công đạt 33,5 nghìn tỷ đồng (tăng 6,6% so với cùng kỳ) (Bảng 10). Trong 4 tháng đầu năm 2022, đầu tư công (109,6 nghìn tỷ đồng) tương đương 20,6% kế hoạch năm 2022 của Chính phủ (526,1 nghìn tỷ đồng) và tăng 9,1% so với cùng kỳ; thấp hơn so với mức tăng 18,4% so với cùng kỳ trong 4 tháng đầu năm 2021.
Trong 4 tháng đầu năm 2022, ngân sách nhà nước thặng dư 175,1 nghìn tỷ đồng so với mục tiêu thâm hụt 372,9 nghìn tỷ đồng theo kế hoạch năm 2022 (“Quyết định 2432” của Bộ Tài chính). Trong đó, thu ngân sách cao hơn (645,3 nghìn tỷ đồng, tương đương 45,7% kế hoạch năm 2022) so với chi ngân sách (470,2 nghìn tỷ đồng, tương đương 26,3% kế hoạch năm 2022) tính từ đầu năm đến nay.
Doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ tăng 12,1% so với cùng kỳ trong tháng 4
Trong tháng 4, doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ hàng tháng (455,5 nghìn tỷ đồng) tăng 12,1% so với cùng kỳ (tăng 3,1% so với tháng trước), mức cao nhất ghi nhận trong tháng 4 kể từ khi số liệu bắt đầu được thu thập.
Doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ đặc biệt được thúc đẩy nhờ doanh số bán lẻ hàng hóa (đạt 363,6 nghìn tỷ đồng, tăng 12,4% so với cùng kỳ), doanh số bán lẻ dịch vụ lưu trú & ăn uống (đạt 45,5 nghìn tỷ đồng, tăng 14,8% so với cùng kỳ) và dịch vụ du lịch (đạt 1,2 nghìn tỷ đồng, tăng 39,4% so với cùng kỳ) (Bảng 14).
Biểu đồ 10: Doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ hàng tháng 
Biểu đồ 11: Số lượng du khách quốc tế 
Doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ trong 4 tháng đầu năm 2022 đã tăng 6,5% so với cùng kỳ so với tăng 10,0% so với cùng kỳ trong 4 tháng đầu năm 2021, nhờ tiêu dùng dần hồi phục sau khi thị trường lao động được cải thiện và giúp thu nhập hộ gia đình tăng.
Trong năm 2022, HSC dự báo doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ sẽ tăng trưởng 10,1% so với giảm 3,8% trong năm 2021 (Mời xem: Nền kinh tế Việt Nam năm 2022- 2023: Bức tranh tươi sáng, ngày 21/2/2022, HSC).
Hoạt động di chuyển trong nước tiếp tục cải thiện với số lượng hành khách trong nước tăng 6,1% so với cùng kỳ so với tăng 30,7% so với cùng kỳ trong tháng 3/2022 (Bảng 16).
Biểu đồ 12: Dữ liệu di chuyển trong nước hàng tháng 
Sau khi mở cửa trở lại đường bay quốc tế, số lượng khách du lịch quốc tế trong tháng 4/2022 đã tăng 420,6% so với cùng kỳ (243,4% so với tháng trước) lên 101,4 nghìn người – mức cao nhất kể từ tháng 3/2020 (Bảng 15); trong đó khách du lịch chủ yếu đến từ Trung Quốc (7,6 nghìn người), Đài Loan (4,4 nghìn người), Hàn Quốc (14,0 nghìn người), Nhật Bản (4,3 nghìn người), Mỹ (13 nghìn người) và châu Âu (19,6 nghìn người). Trong 4 tháng đầu năm 2022, tổng lượng khách du lịch là 192,4 nghìn người, tăng 184,7% so với cùng kỳ (so với giảm 98,2% so với cùng kỳ trong 4 tháng đầu năm 2021).
Từ ngày 15/3/2022, Việt Nam đã mở cửa biên giới trở lại cho khách du lịch quốc tế và khôi phục chính sách miễn thị thực trước dịch COVID-19 cho công dân từ 24 quốc gia bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc và châu Âu. Du khách nước ngoài đến Việt Nam chỉ cần xuất trình kết quả xét nghiệm âm tính với COVID-19 (Mời xem: Số lượng khách du lịch quốc tế trong quý 1 tăng gần 90%, ngày 29/3/2022, VnExpress).
Trong năm 2022, HSC dự báo số lượng khách du lịch quốc tế sẽ tăng lên 2,46 triệu người từ 157.300 người trong năm 2021 (Mời xem: Nền kinh tế Việt Nam năm 2022- 2023: Bức tranh tươi sáng, ngày 21/2/2022, HSC).
Biểu đồ 13: Số ca nhiễm COVID-19 tại Việt Nam 
Thời gian tới, HSC kỳ vọng nhu cầu trong nước sẽ tăng do số ca nhiễm COVID-19 đã giảm đáng kể từ đỉnh (Biểu đồ 14), từ đó tiếp tục hỗ trợ hoạt động đi lại.
Dự báo kinh tế vĩ mô của HSC
Nguồn: HSC
Tuyên bố miễn trách nhiệm: Báo cáo chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin và nhà đầu tư chỉ nên sử dụng báo cáo phân tích này như một nguồn tham khảo. Dautucophieu.net sẽ không chịu bất kỳ trách nhiệm nào trước nhà đầu tư cũng như đối tượng được nhắc đến trong báo cáo này về những tổn thất có thể xảy ra khi đầu tư hoặc những thông tin sai lệch về doanh nghiệp.
