DANH MỤC

Mobile / Fb / Zalo: 0912 842 224 | 0982 842 224
Đầu tư Cổ phiếu Group Facebook

Cập nhật Kinh tế vĩ mô – Số liệu kinh tế tháng 10/2021: Xuất khẩu hồi phục

Lượt xem: 138 - Ngày:
Chia sẻ

Xuất khẩu hồi phục; giá trị xuất khẩu cà phê tăng theo giá thế giới

Kim ngạch xuất khẩu tháng 10/2021 tăng 0,3% so với cùng kỳ – mức tăng hàng tháng đầu tiên kể từ tháng 7/2021. Đáng chú ý, kim ngạch xuất khẩu cà phê và dầu thô lần lượt tăng 13,5% và 150,4% so với cùng kỳ nhờ giá và nhu cầu toàn cầu tăng. Các nhà xuất khẩu cà phê Việt Nam đã hưởng lợi từ giá cà phê Robusta trên toàn cầu tăng lên mức cao trong thập kỷ trong bối cảnh tồn kho giảm dần và hạn chế nguồn cung do dịch COVID-19. Cà phê được xếp hạng thứ 20 trong số các sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam và hiện Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ 2 thế giới. Kim ngạch xuất khẩu cà phê đạt 2,4 tỷ USD trong 10 tháng đầu năm 2021, tăng 4,1% so với cùng kỳ.

Ngoài giá xăng tăng lên mức cao nhất trong 7 năm, lạm phát các mặt hàng lạm phát tăng không đáng kể

Chi phí giao thông tăng 16,5% so với cùng kỳ trong tháng 10/2021 do giá dầu trên thế giới tăng. Trong kì báo cáo, giá xăng trong nước phải điều chỉnh 3 lần (ngày 25/9, 11/10 và 26/10/2021). Đáng chú ý, giá xăng hiện đã tăng 51,2% so với cùng kỳ lên mức cao nhất trong vòng 7 năm. Mặc dù vậy, CPI tăng chậm lại 1,77% so với cùng kỳ do giá lương thực & thực phẩm và nhà ở & vật liệu xây dựng giảm. Ngoài ra, lạm phát cơ bản chỉ tăng 0,5% so với cùng kỳ trong tháng 10/2021 do nhu cầu tiêu dùng yếu. Trong 10 tháng đầu năm 2021, Doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ giảm 8,6% so với cùng kỳ.

Dịch vụ mở cửa trở lại

Doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ tăng 18,1% so với tháng trước trong tháng 10/2021. Kết quả này cho thấy hoạt động dịch vụ đang hồi phục. Đáng chú ý, sau khi nối lại các chuyến bay nội địa và các hoạt động du lịch, doanh số bán lẻ dịch vụ lưu trú và ăn uống và dịch vụ du lịch tăng lần lượt 47,2% và 298,9% so với tháng trước. Một số khu du lịch nghỉ dưỡng nổi tiếng đã hoạt động trở lại và một số nơi đã kín phòng đặt trong những ngày cuối tuần.

Đầu tư công tăng nhưng thấp hơn đáng kể so với kế hoạch

Đầu tư công tăng 18,6% so với tháng trước trong tháng 10/2021, nhưng vẫn giảm 17,4% so với cùng kỳ. Trong 10 tháng đầu năm 2021, đầu tư công chỉ hoàn thành 64,7% kế hoạch năm 2021 của Chính phủ. Trong khi đó, vốn FDI giải ngân tăng 10% so với cùng kỳ trong tháng 10/2021 nhưng vẫn giảm 4,1% so với cùng kỳ trong 10 tháng đầu năm 2021.

Bảng 1: Xu hướng của các chỉ số kinh tế 

Cập nhật số liệu kinh tế vĩ mô

Số liệu tháng 10/2021 cho thấy nền kinh tế đang cải thiện. Lạm phát tăng chậm lại 1,77% so với cùng kỳ do giá lương thực & thực phẩm và nhà ở & vật liệu xây dựng giảm trong khi chi phí giao thông tăng do giá xăng dầu trong nước tăng. Chỉ số PMI trong tháng 10/2021 đã vượt mức 50 lên 52,1; từ đó có thể thấy ngành công nghiệp chế biến & chế tạo đã tăng trưởng trở lại. Kim ngạch xuất khẩu trong tháng 10/2021 tăng trở lại kể từ tháng 7/2021, đưa thặng dư thương mại ước tính lên 1,1 tỷ USD trong tháng 10. Cuối cùng, do các tỉnh thành trọng điểm đã nới lỏng các biện pháp phong tỏa, đầu tư công tăng 18,6% so với tháng trước (tuy nhiên vẫn giảm 17,4% so với cùng kỳ) và doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ tăng 18,1% so với cùng kỳ.

Lạm phát vừa phải do giá lương thực & thực phẩm và nhà ở & vật liệu xây dựng hạ nhiệt

Trong tháng 10/2021, lạm phát tổng thể tăng chậm lại 1,77% so với cùng kỳ so với tăng 2,06% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021 (Bảng 2) chủ yếu do chi phí lương thực & thực phẩm hạ nhiệt (tăng 0,14% so với cùng kỳ so với tăng 1,30% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021) (Bảng 3). Trong đó, lạm phát lương thực tăng chậm lại 4,31% so với cùng kỳ (giảm 0,17% so với tháng trước) so với tăng 4,66% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021, do giá gạo giảm 0,25% so với tháng trước trong bối cảnh giá giảm bột mì, ngô và các loại ngũ cốc khác giảm 0,48% so với tháng trước. Trong khi đó, chi phí thực phẩm giảm 1,38% so với cùng kỳ (giảm 2,05% so với tháng trước) do giá thịt lợn giảm 9,38% so với tháng trước trong bối cảnh các nhà chăn nuôi đang nỗ lực giải phóng hàng tồn kho tích lũy từ những tháng trước đó.

Biểu đồ 2: Lạm phát tổng thể 

Biểu đồ 3: Đóng góp vào lạm phát tổng thể 

Động lực chính khác thúc đẩy lạm phát tổng thể là nhà ở & xây dựng tăng chậm lại 1,07% so với cùng kỳ trong tháng 10/2021 so với tăng 1,63% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021 nhờ giá thuê giảm 4,67% so với tháng trước và giá điện giảm 0,99% so với tháng trước do nhu cầu tiêu thụ thấp trong mùa thu.

Ngoài ra, chi phí giao thông tăng 16,52% so với cùng kỳ so với tăng 13,58% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021 do giá dầu thế giới tăng khiến giá xăng dầu trong nước phải điều chỉnh tăng 3 lần trong kỳ báo cáo (ngày 25//9, và 11/10 và 26/10/2021). Giá xăng trong nước đã tăng 51,2% so với cùng kỳ lên mức cao nhất trong 7 năm (Bảng 4).

Trong khi đó, lạm phát tổng thể và lạm phát cơ bản bình quân trong 10 tháng lần lượt tăng 1,81% và 0,84% so với cùng kỳ, mức tăng thấp nhất kể từ năm 2016 (Bảng 5) và thấp hơn nhiều so với mục tiêu lạm phát 4,0% của Chính phủ.

Biểu đồ 4: Giá xăng dầu 

Biểu đồ 5: Lạm phát bình quân 10 tháng đầu năm 

Xu hướng lạm phát sát với dự báo lạm phát bình quân tăng 2,3% trong năm 2021 của chúng tôi. Ngoài ra, chúng tôi giữ nguyên dự báo lạm phát bình quân sẽ duy trì ở mức dưới 4,0% trong năm 2022 và 2023 (lần lượt tăng 3,5% và 3,0%).

Do lạm phát được kiểm soát, HSC kỳ vọng NHNN sẽ duy trì chính sách tiền tệ phù hợp để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ít nhất là trong phần còn lại của năm nay.

Giá trị sản xuất công nghiệp hồi phục 6,9% so với tháng trước nhưng giảm 1,6% so với cùng kỳ

Giá trị sản xuất công nghiệp giảm với chậm lại là 1,6% so với cùng kỳ so với giảm 7,6% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021. Chỉ số công nghiệp chế biến & chế tạo cũng giảm nhẹ 1,6% so với cùng kỳ, so với giảm 6,5% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021, trong bối cảnh các hạn chế di chuyển dần được nới lỏng (Bảng 6). So với tháng trước, giá trị sản xuất công nghiệp và chỉ số công nghiệp chế biến & chế tạo tăng trở lại lần lượt 6,9% và 6,7% trong tháng 10/2021.

Sát với ước tính của Tổng cục Thống kê, chỉ số PMI sản xuất của Việt Nam cũng vượt mức 50 lên 52,1 nhờ sản lượng tăng trở lại trong tháng 10/2021, qua đó chấm dứt chuỗi 4 tháng giảm liên tiếp (Bảng 6).

Biểu đồ 6: Chỉ số ngành công nghiệp chế biến & chế tạo 

Biểu đồ 7: Động lực chính thúc đẩy hoạt động sản xuất 

Số lượng đơn hàng xuất khẩu mới tăng lần đầu kể từ tháng 5/2021 trong bối cảnh các hạn chế dần được nới lỏng giúp một số công ty trở lại sản xuất trong khi một số công ty khác đẩy mạnh sản xuất trong tháng 10/2021.

Mặc dù vậy, có 2 vấn đề kéo dài do đợt bùng phát gần đây gây ra:

  • Thứ nhất, những thách thức đối với vận tải và chuỗi cung ứng khiến chi phí đầu vào tăng mạnh nhất kể từ tháng 4/2021 trong bối cảnh cước vận tải tăng và thiếu hụt nguyên vật liệu. Đáp lại, các công ty cũng tích lũy thêm tồn kho đầu vào tháng thứ 3 liên tiếp trong tháng 10/2021 để đề phòng giá tăng trong tương lai.
  • Thứ hai, số lượng việc làm tiếp tục giảm đáng kể trong tháng 10/2021. Một số công ty cho biết nhân viên của họ đã về quê và vẫn chưa quay lại làm việc. Tình trạng thiếu hụt lao động góp phần làm tăng khối lượng công việc tồn đọng trong bối cảnh áp lực từ các đơn hàng mới ngày càng lớn.

Thời gian tới, những thách thức này được kỳ vọng sẽ giảm bớt do ngành công nghiệp chế biến & chế tạo sẽ tiếp tục trở lại bình thường trong những tháng tới.

Cơ cấu theo lĩnh vực chính, tốc độ giảm đã chậm lại đối với hàng điện tử tiêu dùng (giảm 34,6% so với cùng kỳ so với giảm 47,1% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021) và dệt may (giảm 16,1% so với cùng kỳ so với giảm 30,2% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021). Trong khi đó, giày dép (tăng 0,4% so với cùng kỳ so với giảm 21,7% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021) đã tăng trở lại (Bảng 7). Về mặt tích cực, linh kiện điện tử (tăng 13,3% so với cùng kỳ so với tăng 0,1% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021) và thiết bị truyền thông (tăng 2,5% so với cùng kỳ so với tăng 10,1% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021) tăng tháng thứ 2 liên tiếp.

Tuy nhiên, giá trị sản xuất công nghiệp và chỉ số công nghiệp chế biến & chế tạo sụt giảm trong tháng 10/2021 đã kéo tổng giá trị lũy kế trong 10 tháng đầu năm 2021 chỉ còn tăng lần lượt 3,3% và 4,5% so với cùng kỳ, từ lần lượt tăng 4,1% và 5,5% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2021. Tuy nhiên, mức tăng vẫn cao hơn so với cùng kỳ (lần lượt tăng 2,7% và 4,2% so với cùng kỳ trong 10 tháng đầu năm 2020). Ngoài ra, ngành khai khoáng giảm 7,0% so với cùng kỳ trong 10 tháng đầu năm 2021 so với giảm 8,1% so với cùng kỳ trong 10 tháng đầu năm 2020, ảnh hưởng tiêu cực tới tăng trưởng chung của ngành công nghiệp.

Kim ngạch xuất khẩu tháng 10/2021 tăng 0,3% lần đầu kể từ tháng 7/2021

Kim ngạch xuất khẩu trong tháng 10/2021 tăng 0,3% so với cùng kỳ lên 27,3 tỷ USD, so với giảm 0,5% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021 (Bảng 8). Trong số các mặt hàng chính, kim ngạch xuất khẩu đã tăng đối với máy tính và sản phẩm điện tử (tăng 8,3% so với cùng kỳ so với tăng 6,8% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021), máy móc (tăng 13,1% so với cùng kỳ so với tăng 5,7% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021), sắt thép (tăng 140,0% so với cùng kỳ so với tăng 158,8% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021), sợi (tăng 5,3% so với cùng kỳ so với tăng 33,6% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021) ), sản phẩm nhựa (tăng 10,6% so với cùng kỳ so với tăng 17,4% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021), hạt điều (tăng 2,4% so với cùng kỳ so với tăng 11,2% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021), cao su (tăng 21,9% so với cùng kỳ so với tăng 12,9% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021), gạo (tăng 44,8% so với cùng kỳ so với tăng 50,1% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021), cà phê (tăng 13,5% so với cùng kỳ so với tăng 11,7% so với cùng kỳ tháng 9/2021) và dầu thô (tăng 150,4% so với cùng kỳ so với tăng 27,2% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021).

Kim ngạch xuất khẩu cà phê tăng trong tháng 10/2021, đứng thứ 20 trong số các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam và đứng thứ 2 về sản lượng xuất khẩu cà phê trên thế giới, là do giá cà phê Robusta toàn cầu tăng lên mức cao trong thập kỷ trong bối cảnh tồn kho ngày càng giảm (Mời xem: Biến động giá hợp đồng tương lai cà phê tăng khi hàng tồn kho giảm dần, ngày 29/10/2021, Bloomberg).

Trái lại, kim ngạch xuất khẩu giảm tại các mặt hàng điện thoại các loại (giảm 3,6% so với cùng kỳ so với tăng 9,3% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021), hàng dệt may (giảm 4,4% so với cùng kỳ so với giảm 21,1% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021), giày dép (giảm 46,4% so với cùng kỳ so với giảm 45,9% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021), gỗ và sản phẩm từ gỗ (giảm 39,2% so với cùng kỳ so với giảm 39,5% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021) và sản phẩm thủy sản (giảm 23,5% so với cùng kỳ so với giảm 23,9% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021).

Biểu đồ 8: Đóng góp vào tăng trưởng xuất khẩu 

Biểu đồ 9: Đóng góp vào tăng trưởng nhập khẩu 

Kim ngạch khập khẩu tăng 8,1% so với cùng kỳ lên 26,2 tỷ USD trong tháng 10/2021, giảm nhẹ so với tăng 10,2% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021 (Hình 9). Đây là tháng tăng thứ 15 liên tiếp của kim ngạch nhập khẩu trong bối cảnh nhu cầu trong nước ổn định. Kim ngạch nhập khẩu tăng chậm lại đối với máy tính và sản phẩm điện tử (tăng 0,1% so với cùng kỳ so với tăng 9,3% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021), máy móc (tăng 6,3% so với cùng kỳ so với tăng 7,1% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021).

Kim ngạch nhập khẩu tăng tốc đối với nhựa (tăng 10,6% so với cùng kỳ so với tăng 8,35 so với cùng kỳ trong tháng 9/2021) và ô tô (tăng 0,6% so với cùng kỳ so với giảm 19,7% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021). Ngược lại, kim ngạch nhập khẩu điện thoại các loại giảm (giảm 2,4% so với cùng kỳ so với tăng 18,2% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021), vải (giảm 4,9% so với cùng kỳ so với tăng 0,8% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021), và nguyên phụ liệu dệt may và da giày (giảm 14,8% so với cùng kỳ so với giảm 6,0% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021).

So với tháng trước, kim ngạch xuất khẩu tăng 1,0%, nhưng kim ngạch nhập khẩu giảm 1,7% do những khó khăn đối với chuỗi cung ứng và hoạt động logistics.

Trong 10 tháng đầu năm 2021, kim ngạch xuất khẩu (267,9 tỷ USD) và kim ngạch nhập khẩu (269,4 tỷ USD) lần lượt tăng 16,6% và 28,2% so với cùng kỳ so với lần lượt tăng 4,9% và 0,2% so với cùng kỳ trong 10 tháng đầu năm 2020. Trong 10 tháng đầu năm 2021, kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường chính bao gồm Mỹ (76 tỷ USD), Trung Quốc (44,2 tỷ USD) và châu Âu (31,7 tỷ USD) lần lượt tăng 21,9%, 16,8% và 8,9% so với cùng kỳ nhờ nhu cầu cải thiện sau khi tiếp tục triển khai vắc-xin tại những các quốc gia này.

Trong tháng 10/2021, Việt Nam xuất siêu ước tính là 1,1 tỷ USD, từ đó thu hẹp thâm hụt thương mại lũy kế 10 tháng đầu năm 2021 xuống còn 1,5 tỷ USD so với thặng dư 19,6 tỷ USD trong 10 tháng đầu năm 2020.

Xu hướng dự trữ thương mại, chuyển từ thâm hụt sang thặng dư trong 2 tháng liên tiếp, sát với dự báo của chúng tôi là thặng dư 4,3 tỷ USD trong năm 2021 so với thặng dư 19,9 tỷ USD trong năm 2020.

Vốn FDI giải ngân giảm 4,1% trong 10 tháng đầu năm 2021 nhưng tăng 10% trong tháng 10/2021

Trong 10 tháng đầu năm 2021, FDI giải ngân giảm 4,1% so với cùng kỳ xuống 15,15 tỷ USD so với giảm 2,5% so với cùng kỳ trong 10 tháng đầu năm 2020 (Bảng 10). Về mặt tích cực, FDI cam kết (23,74 tỷ USD) tăng 1,1% so với cùng kỳ so với giảm 19,4% so với cùng kỳ trong 10 tháng đầu năm 2020. Về FDI giải ngân, ngành công nghiệp chế biến & chế tạo (10,94 tỷ USD) đóng góp 72,2%, hoạt động kinh doanh BĐS (2,08 tỷ USD) đóng góp 13,7% và lĩnh vực sản xuất, phân phối điện, khí đốt (1,15 tỷ USD) đóng góp 7,6%.

Biểu đồ 10: Vốn FDI giải ngân 

Biểu đồ 11: Đầu tư công sử dụng ngân sách nhà nước 

Vốn FDI đăng ký mới (13,02 tỷ USD) tăng 11,6% so với cùng kỳ so với giảm 9,1% so với cùng kỳ trong 10 tháng đầu năm 2020 và tập trung vào các dự án năng lượng, bao gồm các nhà máy nhiệt điện LNG do Singapore phát triển 3,1 tỷ USD (Long An 1 và 2) tại tỉnh Long An, Nhà máy nhiệt điện 1,3 tỷ USD do Nhật Bản phát triển (Ô Môn 2) tại thành phố Cần Thơ và nhà máy pin mặt trời 498 triệu USD do Hồng Kông phát triển ở tỉnh Quảng Ninh.

Trong khi đó, vốn bổ sung cho các dự án hiện hữu (7,09 tỷ USD) cũng tăng 24,2% so với cùng kỳ so với tăng 4,4% so với cùng kỳ trong 10 tháng đầu năm 2020. Một trong những dự án quan trọng là đầu tư bổ sung 1,5 tỷ USD vào nhà máy LG Display Hải Phòng vào ngày 31/8/2021 (tổng vốn đầu tư vào dự án này hiện là 4,65 tỷ USD).

Mặc dù vậy, các biện pháp hạn chế đi lại kéo dài tiếp tục cản trở các NĐT đưa ra quyết định đầu tư. Góp vốn mua cổ phần (3,63 tỷ USD) giảm 40,6% so với cùng kỳ so với giảm 43,5% so với cùng kỳ trong 10 tháng đầu năm 2020. Đồng thời, Do các biện pháp phong tỏa, giãn cách xã hội và hạn chế di chuyển tại các tỉnh thành lớn dần được nới lỏng, tốc độ giải ngân vốn đầu tư công sẽ được đẩy nhanh trong phần còn lại của năm. Trong tháng 10/2021, đầu tư công đạt 41,7 nghìn tỷ đồng (tăng 18,6% so với tháng trước nhưng giảm 17,4% so với cùng kỳ) (Bảng 11). Trong 10 tháng đầu năm 2021, đầu tư (318,6 nghìn tỷ đồng) tương đương 64,7% kế hoạch năm 2021 của Chính phủ (477,3 so với cùng kỳ tỷ đồng) và giảm

Tính đến ngày 15/10/2021, thặng dư ngân sách nhà nước là 19,7 nghìn tỷ đồng so với thâm hụt 343,7 nghìn tỷ đồng theo kế hoạch năm 2021 (“Quyết định 1927” của Bộ Tài chính). Trong đó, thu ngân sách cao hơn (1.118,2 nghìn tỷ đồng, tương đương 83,2% kế hoạch năm 2021) so với chi ngân sách (1088,5 nghìn tỷ đồng, tương đương 65,1% kế hoạch năm 2021). 8,3% so với cùng kỳ và thấp hơn so với mức tăng trong 10 tháng đầu năm 2020 (tăng 31,6% so với cùng kỳ).

Biểu đồ 12: Doanh số bán lẻ sản phẩm, dịch vụ hàng tháng 

Biểu đồ 13: Lưu lượng khách quốc tế hàng tháng 

Biểu đồ 14: Lưu lượng khách di chuyển trong nước hàng tháng 

Doanh số bán lẻ tháng 10/2021 giảm 19,5% so với cùng kỳ nhưng tăng 18,1% so với tháng trước

Doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ hàng tháng (357,9 nghìn tỷ đồng) giảm 19,5% so với cùng kỳ nhưng tăng 18,1% so với tháng trước trong tháng 10/2021. Theo đó, doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ trong 10 tháng đầu năm 2021 (3.720 nghìn 4 tỷ đồng) giảm 8,6% so với cùng kỳ so với tăng 1,3% so với cùng kỳ trong 10 tháng đầu năm 2020.

Tổng doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ trong tháng 10/2021 giảm so với cùng kỳ do doanh số bán lẻ hàng hóa (304,7 nghìn tỷ đồng, giảm 13,5% so với cùng kỳ), doanh số bán lẻ dịch vụ lưu trú và ăn uống (27,6 nghìn tỷ đồng, giảm 37% so với cùng kỳ) và dịch vụ du lịch (0,4 nghìn tỷ đồng, giảm 63,4% so với cùng kỳ) (Bảng 12). Mặc dù vậy, doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ tăng 18,1% so với tháng trước nhờ các biện pháp phong tỏa dần được nới lỏng tại một số tỉnh thành trọng điểm, theo Nghị quyết 128, đưa ra các hướng dẫn theo cách tiếp cận “Thích ứng an toàn với COVID-19”.

Hoạt động di chuyển trong nước cũng cải thiện thông qua số lượng hành khách vận chuyển trong nước tăng 47,2% so với tháng trước nhưng vẫn giảm 58,1% so với cùng kỳ trong tháng 10/2021 (Bảng 14). Đáng chú ý, sau khi nối lại các chuyến bay nội địa và các hoạt động du lịch, doanh số bán lẻ dịch vụ lưu trú và ăn uống và dịch vụ du lịch tăng lần lượt 47,2% và 298,9% so với tháng trước.

Trong tháng 10/2021, tại miền Bắc, một số khu nghỉ dưỡng nổi tiếng như Melia Ba Vì Mountain Retreat, Avana Retreat, Mai Chau Hideaway, Serena Resort Kim Bôi, FLC Hạ Long đã hoạt động trở lại, một số nơi đã kín phòng trong các ngày cuối tuần.

Tại miền Nam và miền Trung, các khu nghỉ dưỡng biệt lập tại Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa như The Anam, Radisson Blu, Movenpick Cam Ranh, Cam Ranh Riviera, Noa Resort Cam Ranh cũng đã được cơ quan chức năng cho phép đón khách du lịch trở lại.

Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã cho phép khu nghỉ dưỡng Melia Hồ Tràm, khu nghỉ dưỡng & sòng bạc The Grand Hồ Tràm, suối nước nóng Bình Châu và khu nghỉ dưỡng Six Senses Côn Đảo mở cửa phục vụ khách du lịch trở lại.

Một yêu cầu chung cho tất cả các tour du lịch là khách du lịch phải được tiêm chủng đầy đủ với liều thứ 2 được tiêm ít nhất 14 ngày trước khi đến hoặc cung cấp giấy chứng nhận đã mắc COVID-19 và phục hồi. Ngoài ra, khách du lịch cũng phải xét nghiệm PCR âm tính trong vòng 72 giờ trước khi khởi hành (Mời xem: Nối lại các tour du lịch nội địa tại Việt Nam với các biện pháp phòng dịch nghiêm ngặt, ngày 2/11/2021, VnExpress).

Do hầu như không thực hiện các chuyến bay thương mại kể từ tháng 4/2020, lượng khách du lịch quốc tế giảm 28,8% so với cùng kỳ xuống còn 10,6 nghìn lượt (Bảng 13); những lượt khách này chủ yếu là các chuyên gia nước ngoài và lao động tay nghề cao đến từ Trung Quốc (3,3 nghìn lượt), Hàn Quốc (2,3 nghìn lượt), Nhật Bản (676 lượt), Mỹ (165 lượt) và châu Âu (1,5 nghìn lượt). Trong 10 tháng đầu năm 2021, tổng lượng khách du lịch đạt 125 nghìn lượt, giảm 96,7% so với cùng kỳ (so với giảm 73,8% so với cùng kỳ trong 10 tháng đầu năm 2020).

Ngày 22/10/2021, trong dự thảo kế hoạch gửi Bộ Giao thông Vận tải phê duyệt, Cục Hàng không Việt Nam đề xuất triển khai các chuyến bay thí điểm chở khách du lịch nước ngoài đến các điểm du lịch cụ thể như Phú Quốc, Khánh Hòa, Quảng Ninh trong giai đoạn đầu tiên dự kiến bắt đầu trong Q4/2021. Trong khi đó, người phát ngôn Bộ Ngoại giao, bà Lê Thị Thu Hằng, cho biết vào thứ năm tuần trước, Việt Nam đã chấp nhận hộ chiếu vắc-xin từ 72 quốc gia và vùng lãnh thổ và đang thảo luận vấn đề này với 80 quốc gia khác (Mời xem: Việt Nam nối lại các chuyến bay thương mại tới các quốc gia ‘có hệ số an toàn cao, ngày 29/10/2021, VnExpress).

Chìa khóa cho sự hồi sinh ngành du lịch của Việt Nam sẽ phụ thuộc vào việc dỡ bỏ rộng rãi các hạn chế di chuyển. Trước tình hình làn sóng dịch COVID-19 mới, theo quan điểm của chúng tôi, điều này sẽ không xảy ra ít nhất đến đầu Q1/2022.

Chúng tôi kỳ vọng hoạt động bán lẻ sẽ tiếp tục phục hồi trong những tháng còn lại của năm trong bối cảnh tiêm chủng đạt tốc độ ấn tượng trên toàn quốc

Dự báo kinh tế vĩ mô của HSC

Nguồn: HSC

Tuyên bố miễn trách nhiệm: Báo cáo chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin và nhà đầu tư chỉ nên sử dụng báo cáo phân tích này như một nguồn tham khảo. Dautucophieu.net sẽ không chịu bất kỳ trách nhiệm nào trước nhà đầu tư cũng như đối tượng được nhắc đến trong báo cáo này về những tổn thất có thể xảy ra khi đầu tư hoặc những thông tin sai lệch về doanh nghiệp.

BÌNH LUẬN()

CÁC TIN LIÊN QUAN

Đối tác

Gọi ngay
Messenger
Zalo chát
Mở tài khoản
Góp ý