DANH MỤC

Mobile / Fb / Zalo: 0912 842 224 | 0982 842 224
Đầu tư Cổ phiếu Group Facebook

Cập nhật Kinh tế vĩ mô – Hoạt động thương mại vẫn là điểm sáng khi dịch COVID-19 bùng phát

Lượt xem: 138 - Ngày:
Chia sẻ

9 tháng đầu năm 2021: Hoạt động thương mại hồi phục, gián đoạn do dịch đã giảm trong tháng 9/2021

Làn sóng COVID-19 thứ 4 đã tác động nghiêm trọng tới hoạt động thương mại của Việt Nam trong tháng 8 và tháng 9/2021, các biện pháp giãn cách đã gây gián đoạn hoạt động sản xuất, hải quan và chuỗi cung ứng. Theo đó, KNXK và KNNK của Việt nam trong 9 tháng đầu năm 2021 tăng lần lượt 18,8% và 30,8% so với cùng kỳ, chậm hơn so với mức tăng lần lượt 21,8% và 33,7% trong 8 tháng đầu năm 2021.

KNXK và KNNK trong Q3/2021 tăng lần lượt 3,2% và 21,6% so với cùng kỳ. Trong khi đó, trong tháng 9/2021, KNXK giảm 0,5% so với cùng kỳ và KNNK tăng 10,2% so với cùng kỳ, thấp hơn đáng kể so với kết quả cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, KNXK và KNNK giảm lần lượt 0,7% và 2,5% so với tháng trước, cải thiện so với mức giảm lần lượt 2,3% và 6,1% trong tháng 8/2021. Theo đó, tình hình gián đoạn của hoạt động thương mại đã dịu lại trong tháng 9/2021.

Tổng cục Thống kê: Hồi phục nhẹ trong tháng 10/2021

Theo ước tính của Tổng cục Thống kê (TCTK), KNXK trong tháng 10/2021 tăng 0,3% so với cùng kỳ và tăng 1,0% so với tháng trước, cho thấy sự phục hồi nhẹ sau 2 tháng liên tiếp chịu ảnh hưởng nặng nề từ dịch COVID-19. Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng KNNK trong tháng 10/2021 tiếp tục xu hướng giảm nhưng với tốc độ chậm hơn là tăng 8,1% so với cùng kỳ (giảm nhẹ 1,7% so với tháng trước).

Điều chỉnh dự báo

Hoạt động thương mại trong Q3/2021 vượt dự báo trước đó của chúng tôi (KNXK và KNNK lần lượt giảm 0,8% và tăng 16,2% so với cùng kỳ). Do đó, sau khi xem xét lại triển vọng, HSC nâng dự báo KNXK và KNNK trong Q4/2021 lên lần lượt tăng 7,4% và 3,4% so với cùng kỳ, từ đó, chúng tôi dự báo KNXK và KNNK sẽ tăng trưởng lần lượt 15,6% và 22,8% trong năm 2021. HSC duy trì dự báo tăng trưởng KNXK và KNNK lần lượt là 14,4% và 14,5% trong năm 2022 và 14,1 và 13,6% trong năm 2023.

Biểu đồ 1: Dự báo thương mại của HSC 

Điều chỉnh dự báo

HSC nâng lần lượt 2,6 điểm phần trăm và 2,9 điểm phần trăm dự báo tăng trưởng KNXK và KNNK năm 2021 lên lần lượt 15,6% và 22,8%. Thặng dư thương mại năm 2021 sẽ giảm xuống 4,0 tỷ USD. Kết quả Q3/2021 tốt hơn so với dự báo trước đây của chúng tôi. Trong Q4/2021, HSC dự báo KNXK sẽ phục hồi với tốc độ nhanh hơn (tăng 7,4% so với cùng kỳ, so với mức dự báo trước đó là tăng 2,1%), nhờ nhu cầu tăng tại các thị trường chính. Trong khi đó, chúng tôi dự báo KNNK sẽ tăng chậm lại 3,4% so với cùng kỳ (so với mức giảm 1,8% trong dự báo trước đó), và giảm 5,2% so với quý trước, do lo ngại về tình hình gián đoạn chuỗi cung ứng đang diễn ra trên toàn cầu.

Điều chỉnh dự báo năm 2021

HSC nâng dự báo tăng trưởng KNXK và KNNK năm 2021 lên lần lượt 15,6% và 22,8% từ lần lượt tăng trưởng 13,0% và 19,9% trong dự báo trước đó. Do đó, thặng dư thương mại trong năm 2021 được dự báo sẽ đạt 4,0 tỷ USD, giảm nhẹ so với thặng dư 4,34 tỷ USD trong dự báo trước đó (Bảng 1).

Tuy nhiên, HSC duy trì dự báo trong 2 năm tới với KNXK và KNNK lần lượt tăng trưởng 14,4% và 14,5% trong năm 2022 và lần lượt tăng trưởng 14,1% và 13,6% trong năm 2023. Từ đó, chúng tôi dự báo thặng dư thương mại sẽ lần lượt là 4,3 tỷ USD và 6,9 tỷ USD trong năm 2022 và 2023 (Bảng 2).

Biểu đồ 2: Dự báo thương mại của HSC 

Kết quả Q3/2021 vượt dự báo của chúng tôi; điều chỉnh dự báo Q4/2021

Đáng chú ý, KNXK và KNNK trong Q3/2021 lần lượt tăng 3,2% và 21,6% so với cùng kỳ (tăng lần lượt 3,0% và 0,2% so với quý trước); vượt dự báo trước đó của chúng tôi là lần lượt giảm 0,8% và tăng 16,2% so với cùng kỳ (giảm lần lượt 1,2% và 4,3% so với quý trước). Trên thực tế, KNXK và KNNK trong tháng 9/2021 giảm lần lượt 0,7% và 2,5% so với tháng trước, hồi phục so với mức giảm 2,3% và 6,1% tương ứng trong tháng 8/2021. Từ đó, sự gián đoạn của hoạt động thương mại đã giảm dần kể từ tháng 9/2021. Chúng tôi cho rằng, tác động tiêu cực của dịch COVID-19 đã phần nào được hạn chế nhờ những nỗ lực duy trì sản xuất như: đẩy nhanh tiêm chủng cho công nhân, mô hình “3 tại chỗ” và “một cung đường, hai điểm đến”.

Như đã biết, trong Q3/2021, dịch COVID-19 bùng phát trở lại khiến 19 tỉnh thành phía Nam phải áp dụng các biện pháp giãn cách, từ đó gây ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất của các nhà máy, KCN. Nhiều doanh nghiệp (tại TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai,…) đã phải áp dụng các biện pháp hạn chế như trên để đảm bảo mục tiêu kép: Duy trì hoạt động liên tục và đảm bảo an toàn dịch tễ. Mặc dù vẫn còn những lo ngại về việc chi phí tăng lên, nhưng mô hình “3 tại chỗ” là biện pháp cần thiết trong nhiều trường hợp để giúp duy trì hoạt động sản xuất và đảm bảo giao hàng kịp thời cho các đơn hàng đã ký kết. Cụ thể, tỉnh Bình Dương, điểm nóng tiếp theo sau TP.HCM, báo cáo có khoảng 3.500 doanh nghiệp áp dụng mô hình “3 tại chỗ” tính đến hết tháng 9/2021, tăng hơn 1.600 doanh nghiệp trong 1 tháng. Theo ghi nhận, hoạt động thương mại của Bình Dương cải thiện rõ rệt trong tháng 9/2021, với KNXK và KNNK tăng lần lượt 20,1% và 9,6% so với tháng trước (so với giảm lần lượt 12,3% và 6,3% so với tháng trước trong tháng 8/2021) (Báo cáo hàng tháng, tháng 8 và tháng 9/2021, Cục thống kê tỉnh Bình Dương).

HSC hiện dự báo KNXK trong Q4/2021 sẽ tăng 7,4% so với cùng kỳ và 4,5% so với quý trước; lạc quan hơn so với dự báo trước đó là tăng 2,1% so với cùng kỳ và 3,9% so với quý trước (Bảng 1). Nhu cầu mạnh mẽ tại các thị trường xuất khẩu chính sẽ tiếp tục thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của Việt Nam trong Q4/2021 sau khi làn sóng thứ 4 về cơ bản đã được kiểm soát. Trong khi đó, KNNK được dự báo sẽ tăng 3,4% so với cùng kỳ trong Q4/2021 (so với mức giảm 1,8% trong dự báo trước đó). Theo đó, KNNK dự kiến sẽ giảm 5,2% so với quý trước (so với mức giảm 5,9% trong dự báo trước đây); do mức nền cao trong Q3/2021 với kim ngạch thương mại tăng trưởng vượt dự báo.

Khủng hoảng năng lượng tại Trung Quốc: Rủi ro về nguồn cung hàng hóa và nguyên vật liệu đối với Việt Nam

Ngoài ra, KNNK được dự báo sẽ giảm trong những tháng tiếp theo do chuỗi cung ứng trên toàn cầu có thể sẽ bị gián đoạn trong bối cảnh cuộc khủng hoảng năng lượng của Trung Quốc (Cuộc khủng hoảng năng lượng ngày càng gia tăng tại Trung Quốc đe dọa chuỗi cung ứng toàn cầu, ngày 29/9/2021, CNN). Cuộc khủng hoảng điện có thể tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất của Trung Quốc và có thể ảnh hưởng tới ngành công nghiệp chế biến & chế tạo của Việt Nam, đặc biệt là khi Trung Quốc là đối tác thương mại quan trọng nhất của Việt Nam.

  • Việt Nam ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn cung của Trung Quốc. Trong khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 9/2021, Việt Nam đã nhập khẩu hơn 80 tỷ USD từ Trung Quốc, chiếm một phần ba KNNK và là nguồn nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam. Việt Nam có xu hướng ngày càng phụ thuộc vào Trung Quốc trong 3 năm qua (Bảng 3).
  • Việt Nam chủ yếu nhập khẩu tư liệu sản xuất từ Trung Quốc, như máy móc, sản phẩm điện tử, điện thoại và một số nguyên vật liệu. Trong đó, Trung Quốc là nhà cung cấp quan trọng về vải (đóng góp 64% sản lượng nhập khẩu của Việt Nam), máy móc thiết bị (đóng góp 54%), nguyên liệu nhựa (đóng góp 50%), nguyên phụ liệu dệt may (đóng góp 50%), điện thoại và phụ kiện (đóng góp 44%), sắt thép (đóng góp 44%), … (Bảng 4).

Biểu đồ 3: Tỷ trọng nhập khẩu từ Trung Quốc trong tổng KNNK của VN 

Biểu đồ 4: Các mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc 

Hoạt động thương mại 9 tháng đầu năm 2021: Tăng trưởng tốt dù chậm lại gần đây

KNXK và KNNK trong 9 tháng đầu năm 2021 lần lượt tăng 18,8% và 30,8% so với cùng kỳ; chậm lại so với mức tăng lần lượt 21,8% và 33,7% trong 8 tháng đầu năm 2021, nhưng hồi phục tốt so với mức tăng 4,1% và giảm 0,8% tương ứng trong 9 tháng đầu năm 2020. Làn sóng COVID-19 thứ 4 đã tác động nghiêm trọng tới hoạt động thương mại Việt Nam trong tháng 8 và tháng 9/2021 khi các biện pháp giãn cách để hạn chế dịch bệnh gây ra gián đoạn sản xuất, hoạt động hải quan và chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, sự gián đoạn của hoạt động thương mại đã giảm dần kể từ tháng 9/2021. Trong khi đó, số liệu thương mại ước tính trong tháng 10/2021 cũng cho thấy những dấu hiệu phục hồi sớm.

Ước tính của TCTK: Hoạt động xuất khẩu hồi phục nhẹ trong tháng 10/2021

Theo số liệu ước tính của TCTK, KNXK tháng 10/2021 cải thiện 0,3% so với cùng kỳ và 1,0% so với tháng trước so với giảm 0,5% so với cùng kỳ và giảm 0,7% so với tháng trước trong tháng 9/2021. Tăng trưởng KNXK đang phục hồi nhẹ sau 2 tháng liên tiếp (tháng 8 và tháng 9/2021) chịu ảnh hưởng rõ ràng từ COVID-19 (Bảng 5).

Trong khi đó, KNNK tháng 10/2021 ước tính tăng 8,1% so với cùng kỳ và giảm 1,7% so với tháng trước; so với mức tăng 10,2% so với cùng kỳ và giảm 2,5% so với tháng trước trong tháng 9/2021. KNNK tiếp tục tăng chậm lại nhưng với tốc độ nhẹ hơn so với tháng 9/2021 (Bảng 5).

Biểu đồ 5: Hoạt động thương mại theo tháng 

Biểu đồ 6: Các sản phẩm chính thúc đẩy KNXK T10/2021 

Biểu đồ 7: Các sản phẩm chính thúc đẩy KNNK T10/2021 

KNXK một số sản phẩm sản xuất cải thiện trong tháng 10/2021 như: máy móc & thiết bị, sản phẩm điện tử, dệt may & may mặc, túi xách và các phương tiện khác. Ngoài ra, nhu cầu sắt thép, mặc dù hạ nhiệt nhưng vẫn tăng 140% so với cùng kỳ (Bảng 6).

KNNK một số sản phẩm chủ lực suy yếu, phần lớn trong tháng 10/2021 như nguyên phụ liệu dệt may và da giày (giảm 14,8% so với cùng kỳ), vải (giảm 4,9% so với cùng kỳ) và điện thoại và linh kiện (giảm 2,4% so với cùng kỳ) (Bảng 7).

Kết quả là, trong 10 tháng đầu năm 2021, KNXK và KNNK lần lượt tăng 16,6% và 28,2% so với cùng kỳ, tiếp tục chậm lại từ mức tăng 18,8% và 30,8% trong 9 tháng đầu năm 2021, mặc dù vẫn tăng mạnh từ mức thấp trong tháng 10/2020 lần lượt là 4,9% và 0,2%. Tuy nhiên, thâm hụt thương mại từ đầu năm đã giảm xuống còn 1,45 tỷ USD, sau khi đạt thặng dư 1,1 tỷ USD trong tháng 10/2021.

Gián đoạn thương mại giảm dần trong tháng 9/2021

Trong tháng 9/2021, KNXK giảm 0,5% so với cùng kỳ; trong khi KNNK tăng 10,2% so với cùng kỳ, giảm đáng kể so với mức tăng trong tháng 9/2020 (lần lượt tăng 16,6% và 12,5% so với cùng kỳ). Sự suy yếu này là do hoạt động sản xuất và hải quan bị gián đoạn trong bối cảnh miền Nam phải áp dụng các biện pháp giãn cách.

KNXK được thúc đẩy nhờ giá hàng hóa tăng cơ bản, đặc biệt là sắt thép (tăng 158,8% so với cùng kỳ). Trong khi đó, KNXK các ngành sản xuất nằm ở phía Nam và ĐBSCL giảm mạnh như: túi xách và phụ kiện (giảm 49,8% so với cùng kỳ), giày dép (giảm 45,9% so với cùng kỳ), gỗ và sản phẩm từ gỗ (giảm 39,5% so với cùng kỳ), thủy sản (giảm 23,9% so với cùng kỳ) và dệt may (giảm 21,1% so với cùng kỳ) (Bảng 8).

Biểu đồ 8: Top 10 mặt hàng xuất khẩu chính trong T9/2021 

Biểu đồ 9: Top 10 mặt hàng nhập khẩu chính trong T9/2021 

Nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu và sản phẩm đầu vào sản xuất vẫn tăng mạnh trong tháng 9/2021. Đáng chú ý, KNNK sắt thép tăng 48,2% so với cùng kỳ, kim loại cơ bản tăng 28,6% so với cùng kỳ, hóa chất tăng 32,5% so với cùng kỳ, điện thoại và linh kiện tăng 18,2% so với cùng kỳ, sản phẩm điện tử tăng 9,3% và máy móc tăng 7,1% (Bảng 9).

Ngoài ra, KNXK và KNNK trong tháng 9/2021 lần lượt giảm 0,7% và 2,5% so với tháng trước, chậm lại so với tháng 8/2021 (giảm lần lượt 2,3% và 6,1% so với tháng trước). Kết quả này cho thấy sự gián đoạn đã giảm dần trong tháng 9/2021. Cụ thể:

  • Đối với xuất khẩu, một số mặt hàng giảm nhẹ hơn so với tháng trước trong tháng 9/2021 như: giày dép (giảm 18,9% so với tháng trước trong khi trong tháng 8/2021 giảm 40,2%), túi xách và phụ kiện (giảm 12,5% so với tháng trước so với giảm 54,7%), gỗ và các sản phẩm từ gỗ (giảm 13,6% so với tháng trước so với giảm 39,1%), xe cộ và phụ tùng (giảm 13,1% so với tháng trước so với giảm 19,4%), v.v.
  • Đối với nhập khẩu, trong tháng 9/2021, kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng tăng mạnh như dược liệu tăng cao (tăng 38,4% so với tháng trước), sản phẩm từ dầu mỏ (tăng 17,8% so với tháng trước) và điện thoại và linh kiện (tăng 17,7% so với tháng trước). Trong khi đó, chuỗi cung ứng nhập khẩu nguyên vật liệu và năng lượng gián đoạn đã có dấu hiệu cải thiện so với tháng trước, cụ thể: thức ăn gia súc và các nguyên liệu liên quan (tăng 4,6% so với tháng trước, trong khi trong tháng 8/2021 giảm 17,6%), dầu thô (tăng 0,5% so với tháng trước, trong khi tháng trước giảm 50,9%), vải (giảm 1,6% so với tháng trước, trong khi tháng trước giảm 18,1%), và nguyên phụ liệu dệt may và giày dép (giảm 1,2% so với tháng trước so với mức giảm 16,9% trong tháng trước).

Hoạt động thương mại 9 tháng đầu năm 2021 tăng trưởng tốt dù chậm lại gần đây

Trong 9 tháng đầu năm 2021, KNXK tăng 18,8% so với cùng kỳ trong khi KNNK tăng 30,8% so với cùng kỳ, chậm lại so với tăng 21,8% và 33,7% so với cùng kỳ trong 8 tháng đầu năm 2021, phản ánh tác động tiêu cực của làn sóng COVID-19 thứ 4 tại Việt Nam. Tuy nhiên, nhờ đà tăng rất mạnh trong những tháng đầu năm, KNXK trong 9 tháng đầu năm 2021 (tăng 18,8% so với cùng kỳ) tăng mạnh hơn nhiều so với (tăng 4,1% so với cùng kỳ) trong 9 tháng đầu năm 2020, trong khi KNNK (tăng 30,8% so với cùng kỳ) phục hồi mạnh từ mức đáy (giảm 0,8% so với cùng kỳ) trong 9 tháng đầu năm 2020.

Hoạt động thương mại của Việt Nam trong 9 tháng đầu năm 2021 được hỗ trợ mạnh mẽ nhờ các doanh nghiệp FDI. Trong 9 tháng đầu năm 2021, KNXK và KNNK của các doanh nghiệp FDI lần lượt tăng 23,1% và 33,9% so với cùng kỳ (trong khi 9 tháng đầu năm 2020 lần lượt tăng 7,5% và 9,4% so với cùng kỳ). Trong khi đó, hoạt động thương mại của các doanh nghiệp trong nước bị ảnh hưởng nhiều hơn với KNXK và KNNK tăng lần lượt 8,4% và 25,3% so với cùng kỳ, so với mức giảm lần lượt 3,5% và 14,9% trong 9 tháng đầu năm 2020.

Kim ngạch thương mại Việt Nam thâm hụt 2,55 tỷ USD trong 9 tháng đầu năm 2021, so với thặng dư 16,66 tỷ USD cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, khu vực FDI xuất siêu 17,28 tỷ USD, trong khi khu vực doanh nghiệp trong nước nhập siêu 19,84 tỷ USD.

Cơ cấu xuất khẩu 9 tháng đầu năm 2021

KNXK tất cả các nhóm ngành đều tăng

KNXK (tăng 18,8% so với cùng kỳ) không chỉ được thúc đẩy nhờ ngành chế biến & chế tạo mà còn được thúc đẩy nhờ sự phục hồi tốt của ngành nông nghiệp và khoáng sản (Bảng 10).

Biểu đồ 10: Các ngành xuất khẩu chủ lực tròn 9 tháng đầu năm 2021 

Trong 9 tháng đầu năm 2021, KNXK ngành chế biến và chế tạo tăng 20,6% so với cùng kỳ, chiếm tỷ trọng lớn trong xuất khẩu (86%) của Việt Nam, trong khi 9 tháng đầu năm 2020 tăng nhẹ 4,8% so với cùng kỳ. Mặc dù tăng trưởng chậm lại trong những tháng gần đây, nhưng KNXK ngành công nghiệp chế biến & chế tạo vẫn tăng vững chắc. Động lực tăng trưởng chính là nhờ nhu cầu tiêu dùng và đầu tư toàn cầu cải thiện (Bảng 11). Tăng trưởng một số mặt hàng chủ lực như sau:

  • Nhu cầu hàng tiêu dùng phục hồi rõ rệt so với mức nền thấp năm 2020, trong đó điện thoại (tăng 11,5% so với cùng kỳ), giày dép (tăng 9,7% so với cùng kỳ) và dệt may (tăng 5,6% so với cùng kỳ).
  • KNXK gỗ và sản phẩm từ gỗ tăng 30,6% so với cùng kỳ, cao hơn mức tăng 25,7% trong 9 tháng đầu năm 2020.
  • Trong khi đó, KNXK các sản phẩm điện tử (bao gồm máy tính) vẫn tăng 13,6% so với cùng kỳ, mặc dù chậm lại so với mức tăng 25,7% so với cùng kỳ (được thúc đẩy nhờ xu hướng làm việc tại nhà), gỗ và sản phẩm từ gỗ (tăng 30,6% so với cùng kỳ)
  • Bên cạnh đó, KNXK máy móc & thiết bị tăng mạnh 44,1% so với cùng kỳ.

Biểu đồ 11: KNXK ngành chế biến và chế tạo 

Biểu đồ 12: KNXK ngành nông nghiệp 

KNXK ngành nông nghiệp tăng 10,7% so với cùng kỳ (đóng góp 8% tỷ trọng xuất khẩu) nhờ sự phục hồi mạnh mẽ của toàn ngành sau khi tăng trưởng chậm chạp trong 2 năm qua (giảm lần lượt 3,1% và 6,1% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2020 và 9 tháng đầu năm 2019) (Bảng 12).

  • KNXK cao su tăng 51,2% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2021 một phần nhờ giá cao. Mặc dù hạ nhiệt gần đây; giá cao su bình quân trong 9 tháng đầu năm 2021 tăng 38% so với cùng kỳ, phản ánh tác động xu hướng tăng giá trong nửa cuối năm 2020.
  • Đáng chú ý, KNXK rau quả tăng 10,4% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2021 so với giảm 11,5% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2020. Trung Quốc là thị trường xuất khẩu rau quả lớn nhất của Việt Nam (đóng góp 55% khối lượng) cho thấy sự phục hồi tốt, tăng 6,5% so với cùng kỳ, so với mức giảm 25,9% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2020.
  • Trong khi đó, KNXK các sản phẩm thủy sản tăng 2,7% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2021, phục hồi từ mức giảm 3,1% trong 9 tháng đầu năm 2020, nhưng đã chậm lại đáng kể so với nửa đầu năm 2021 (tăng 14,4% so với cùng kỳ). Lưu ý, KNXK các sản phẩm này chịu ảnh hưởng nghiêm trọng do các biện pháp giãn cách tại các tỉnh ĐBSCL, đã giảm 26,6% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021 và giảm 23,9% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021.

KNXK ngành khoáng sản phục hồi 14,3% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2021, so với giảm 22,4% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2020 (Bảng 10) nhờ KNXK than (tăng 113,4% so với cùng kỳ), xăng dầu (tăng 39,9% so với cùng kỳ) và clinker & xi măng (tăng 22,7% so với cùng kỳ) tăng mạnh. Tuy nhiên, ngành này đóng góp tỷ trọng rất nhỏ, chỉ 1,6% tổng KNXK của Việt Nam.

Khu vực ASEAN phục hồi đã giúp thúc đẩy tăng trưởng KNXK

Top 5 thị trường xuất khẩu lớn nhất – KNXK tới 5 thị trường trọng điểm của Việt Nam (đóng góp 78% tổng KNXK) trong 9 tháng đầu năm 2021 đều tăng trưởng mạnh.

Trong đó, Mỹ là thị trường lớn nhất, đóng góp 29% tổng KNXK, tăng 25,8% so với cùng kỳ (trong khi 9 tháng đầu năm 2020 tăng 22,7% so với cùng kỳ). Tiếp theo là Trung Quốc, với tỷ trọng 16%, tăng 19,4% so với cùng kỳ so với mức tăng 15,1% trong 9 tháng đầu năm 2020. Thứ ba là châu Âu, với tỷ trọng 12%, tăng 11,7% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2021, so với mức giảm 3,2% trong 9 tháng đầu năm 2020. Đặc biệt, KNXK trong 9 tháng đầu năm 2021 tới các nước trong khu vực ASEAN tăng 22,3% so với cùng kỳ, phục hồi mạnh từ mức giảm 12,5% trong 9 tháng đầu năm 2020 và đóng góp 9% tổng KNXK. Và cuối cùng là Hàn Quốc, đóng góp 7% tỷ trọng, tăng 10,5% so với cùng kỳ, so với mức giảm nhẹ 2,1% trong 9 tháng đầu năm 2020 (Bảng 13).

Khu vực ASEAN đã phục hồi trong năm nay sau khi bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch COVID-19 trong năm 2020. Trong 9 tháng đầu năm 2021, KNXK của Việt Nam tới các thị trường chính trong khu vực tăng mạnh, như: Indonesia (tăng 40,8% so với cùng kỳ), Singapore (tăng 31,5% so với cùng kỳ), Malaysia (tăng 27,1% so với cùng kỳ), Philippines (tăng 22,2% so với cùng kỳ), Thái Lan (tăng 20,1% so với cùng kỳ) và Campuchia (tăng 16,1% so với cùng kỳ) (Bảng 14).

Biểu đồ 13: Top 5 thị trường xuất khẩu 

Biểu đồ 14: KNXK của VN sang các nước thành viên Asean 

Cơ cấu nhập khẩu 9 tháng đầu năm 2021

Nhu cầu nhập khẩu tư liệu sản xuất vẫn cao

Do các mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam phần lớn là tư liệu sản xuất (chiếm hơn 80% KNNK, bao gồm: sản phẩm đầu vào, bán thành phẩm và nguyên liệu) hỗ trợ cho sản xuất trong nước. Việc KNNK tăng có thể là tín hiệu tích cực cho tăng trưởng kinh tế cùng với các kế hoạch sản xuất tích cực hơn, nhờ đó triển vọng xuất khẩu trong tương lai cũng tốt hơn.

Nhập khẩu máy móc, thiết bị và dụng cụ – KNNK tăng mạnh 31,8% so với cùng kỳ từ tháng 1 đến tháng 9/2021. Đầu tư máy móc tăng mạnh kể từ đầu năm nay sau khi sụt giảm trong cả năm 2020 nhờ đầu tư tài sản cố định phục hồi (Bảng 15).

Ô tô và phụ tùng – KNNK mặt hàng này vẫn tăng mạnh 51,1% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2021 (Bảng 15). Điều này không chỉ phản ánh nhu cầu trong nước tăng mạnh mà còn là dấu hiệu tích cực đối với ngành sản xuất ô tô Việt Nam.

Điện thoại và các sản phẩm điện tử – KNNK điện thoại và linh kiện tăng 39,2% so với cùng kỳ; trong khi KNNK sản phẩm điện tử, máy tính và linh kiện tăng 19,3% so với cùng kỳ (Bảng 15). KNNK các mặt hàng này chủ yếu được thúc đẩy nhờ nhu cầu nhập khẩu bán thành phẩm, linh kiện hỗ trợ cho sản xuất các mặt hàng xuất khẩu tăng. Theo đó, HSC dự báo KNXK các sản phẩm này sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới.

KNNK nguyên vật liệu tăng mạnh với đà tăng chủ yếu trong 9 tháng đầu năm 2021. Những mặt hàng này trong năm 2020 đã chịu ảnh hưởng bởi dịch COVID[1]19 khiến chuỗi cung ứng bị gián đoạn (Bảng 16). Cụ thể:

Biểu đồ 15: Nhu cầu cao đối với tài sản cố định và nguyên liệu đầu vào 

Biểu đồ 16: Nhu cầu cao đối với nguyên liệu nhập khẩu

  • Mặc dù hạ nhiệt trong vài tháng qua do chuỗi cung ứng bị gián đoạn, KNNK vải và nguyên phụ liệu dệt vẫn tăng lần lượt 24,8% và 24,4% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2021 (so với mức giảm lần lượt 13,4% và 12,9% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2020). Mức tăng mạnh này chủ yếu trong những tháng đầu năm, trong khi chuỗi cung ứng bị gián đoạn vừa phải. Tuy nhiên, việc nhập khẩu hàng hóa và nguyên vật liệu đầu vào tăng mạnh có thể cho thấy một kế hoạch sản xuất tích cực cũng như triển vọng xuất khẩu tốt hơn trong thời gian tới.
  • KNNK nhựa cũng tăng 47,9% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2021, so với giảm 10,8% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2020.
  • Trong khi đó, giá hàng hóa cơ bản toàn cầu vẫn ở mức cao góp phần thúc đẩy KNNK thép và kim loại tăng mạnh. KNNK sắt thép tăng 43,2% so với cùng kỳ trong khi KNNK kim loại cơ bản khác tăng 51,3% so với cùng kỳ.

Nhu cầu nhập khẩu từ top 5 thị trường hàng đầu vẫn cao

Trong 9 tháng đầu năm 2021, KNNK của Việt Nam từ Trung Quốc tăng 40,2% so với cùng kỳ, so với tăng 4,1% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2020. Tiếp theo, Hàn Quốc và khu vực ASEAN, đóng góp lần lượt 17% và 12% tổng KNNK của Việt Nam, phục hồi lần lượt 22,3% và 39,3% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2021, so với mức suy giảm trong 9 tháng đầu năm 2020. Trong khi đó, KNNK từ Nhật Bản và châu Âu tăng mạnh lần lượt 11,0% và 17,6% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2021 và đóng góp lần lượt 7% và 5% vào tổng KNNK (Bảng 17).

Biểu đồ 17: Top 5 thị trường nhập khẩu

Dự báo kinh tế vĩ mô của HSC 

Nguồn: HSC

Tuyên bố miễn trách nhiệm: Báo cáo chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin và nhà đầu tư chỉ nên sử dụng báo cáo phân tích này như một nguồn tham khảo. Dautucophieu.net sẽ không chịu bất kỳ trách nhiệm nào trước nhà đầu tư cũng như đối tượng được nhắc đến trong báo cáo này về những tổn thất có thể xảy ra khi đầu tư hoặc những thông tin sai lệch về doanh nghiệp.

BÌNH LUẬN()

CÁC TIN LIÊN QUAN

Đối tác

Gọi ngay
Messenger
Zalo chát
Mở tài khoản
Góp ý