Việt Nam phụ thuộc vào nguồn cung than từ Nga
Các nguồn cung than lớn nhất của Việt Nam bao gồm Australia (đóng góp 43% vào tổng KNNK than), Indonesia. (đóng góp 33%) và Nga (đóng góp 18%). Trong đó, KNXK than từ Nga vào Việt Nam đã tăng 355% so với cùng kỳ trong tháng 4 sau khi Nga nỗ lực chuyển hướng xuất khẩu năng lượng khỏi châu Âu, theo đó hoạt động thương mại giữa Việt Nam và Nga tiếp tục được duy trì. Tuy nhiên, trong bối cảnh bất ổn từ căng thẳng địa chính trị vẫn tiếp diễn, chúng tôi dự báo Việt Nam sẽ tăng KNNK than từ Australia (tăng 175% so với cùng kỳ trong tháng 4) để đảm bảo nguồn cung ổn định và giảm phụ thuộc vào Nga.
Lo ngại về an ninh lương thực thúc đẩy đa dạng hoá nguồn cung phân bón
Giá trị nhập khẩu phân bón của Việt Nam đã tăng đáng kể do giá phân bón tăng mạnh trong bối cảnh thế giới lo ngại về vấn đề an ninh lương thực. Mặc dù đóng góp của KNNK phân bón vào tổng KNNK (0,4%) không đáng kể, một số loại phân bón của Việt Nam vẫn đang phụ thuộc vào nguồn cung từ nước ngoài. Do đó, chúng tôi cho rằng Việt Nam cần chuyển dịch nguồn cung từ các nước đang trong tình trạng bất ổn như Trung Quốc (đóng góp 41% vào tổng KNNK phân bón) và Nga (đóng góp 9%) sang các nguồn cung ổn định hơn như các nước thành viên ASEAN (đóng góp 22%, tăng 156% so với cùng kỳ).
Bảng 1: Cơ cấu thương mại Việt Nam trong T4/2022 
KNNK than tăng trong mùa nắng nóng
KNXK và KNNK trong tháng 4 tăng lần lượt 25,2% và 16,1% so với cùng kỳ, sau khi tăng lần lượt 16,7% và 13,9% so với cùng kỳ trong tháng 3/2022. KNNK than của Việt Nam tăng 157% so với cùng kỳ đạt 0,9 tỷ USD trong tháng 4. Do nhu cầu sản xuất điện tăng trong mùa nóng, HSC dự báo KNNK than, bao gồm KNNK than từ Nga, sẽ tiếp tục tăng trong các tháng tới. Ngoài ra, KNNK phân bón đã tăng 63% so với cùng kỳ đạt 155 triệu USD. KNNK phân bón từ Nga đã tăng chậm lại 6,5% so với cùng kỳ trong tháng 4 (sau khi tăng 333% so với cùng kỳ trong tháng trước), cho thấy Việt Nam đã đa dạng hoá nhà cung cấp nhằm đảm bảo nguồn cung ổn định. Chúng tôi dự báo tổng KNXK và KNNK trong tháng 5 sẽ tăng chậm lại lần lượt 17% và 8,8% so với cùng kỳ do ảnh hưởng từ các biện pháp phong toả kéo dài ở Trung Quốc và căng thẳng giữa Nga và Ukraina vẫn tiếp diễn.
KNXK tháng 4 tăng 25,2% so với cùng kỳ
KNXK tháng 4/2022 tăng 25,2% so với cùng kỳ (điều chỉnh từ tăng 25,0% so với cùng kỳ) sau khi tăng 16,7% so với cùng kỳ trong tháng 3/2022 (Bảng 2).
Trong khi đó, KNNK tháng 4/2022 tăng 16,1% so với cùng kỳ (điều chỉnh từ tăng 15,5% so với cùng kỳ) đạt 32,5 tỷ USD sau khi tăng 13,9% so với cùng kỳ trong tháng 3/2022 (Bảng 3).
So với tháng trước, KNXK và KNNK trong tháng 4/2022 lần lượt giảm 4,0% và 0,6%, một phần do hiệu ứng mùa vụ và hoạt động thương mại với Trung Quốc giảm. KNXK sang Trung Quốc (đóng góp 13,5% vào tổng KNXK của Việt Nam) trong tháng 4 giảm 20,3% so với tháng trước sau khi tăng 40,7% so với tháng trước trong tháng 3/2022.
Trong 4 tháng đầu năm 2022, KNXK (122,5 tỷ USD) và KNNK (120 tỷ USD) tăng lần lượt 16,5% và 15,3% so với cùng kỳ, chững lại đáng kể so với mức tăng lần lượt 29,8% và 32,7% so với cùng kỳ trong 4 tháng đầu năm 2021.
Biểu đồ 2: KNXK hàng tháng của Việt Nam 
Biểu đồ 3: KNNK hàng tháng của Việt Nam 
KNXK tháng 4 vượt dự báo của HSC (tăng 22,3% so với cùng kỳ) trong khi KNNK thấp hơn một chút so với dự báo của chúng tôi (tăng 18,2% so với cùng kỳ) (Mời xem: Hoạt động thương mại đạt kết quả ấn tượng trong tháng 3/2022, ngày 20/4/2022, HSC), cho thấy tăng trưởng KNXK vẫn tích cực nhưng đà tăng của KNNK đã chậm lại.
Trong tháng 5/2022, HSC dự báo KNXK và KNNK sẽ tăng lần lượt 17,1% và 8,8% so với cùng kỳ, tăng chậm lại so với tháng 4, phản ánh tác động tiêu cực trong ngắn hạn từ các biện pháp phong toả kéo dài tại Trung Quốc.
Khi hoạt động sản xuất tại các nhà máy bị gián đoạn kéo dài tại Trung Quốc, các nước Đông Nam Á như Việt Nam có thể mở rộng sản xuất để thay thế các mặt hàng xuất khẩu từ Trung Quốc ở một mức độ nhất định (Mời xem: Xuất khẩu của Trung Quốc tăng trưởng thấp nhất trong vòng 2 năm do các biện pháp chống dịch tác động tiêu cực lên hoạt động sản xuất, ngày 10/5/2022, Reuters).
Tuy nhiên, Việt Nam đang đối mặt với khó khăn trong quá trình sản xuất do phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc (đóng góp 33% vào tổng KNNK), chủ yếu về nguồn cung linh kiện sản xuất. Do đó, hoạt động thương mại trong tháng 5 tăng chậm lại là không thể tránh khỏi. HSC tóm tắt dự báo KNXK và KNNK trong năm 2022 trong Bảng 4-5.
Biểu đồ 4: Dự báo KNXK hàng tháng của Việt Nam 
Biểu đồ 5: Dự báo KNNK hàng tháng của Việt Nam 
Biểu đồ 6: KNXK của khối FDI so với nội địa 
Biểu đồ 7: KNNK của khối FDI so với nội địa 
Cơ cấu theo loại hình kinh tế, KNXK (9,1 tỷ USD) và KNNK (11,3 tỷ USD) trong tháng 4/2022 của khối các doanh nghiệp trong nước tăng lần lượt 27,0% và 12,3% so với cùng kỳ, cao hơn so với mức tăng lần lượt 14,9% và 12,2% so với cùng kỳ trong tháng 3/2022 (Bảng 6-7).
Tương tự, KNXK (24,2 tỷ USD) và KNNK (21,2 tỷ USD) của khối FDI đã tăng lần lượt 24,5% và 18,3% so với cùng kỳ, sau khi tăng lần lượt 17,4% và 14,8% so với cùng kỳ trong tháng 3/2022. Khối FDI đóng góp lần lượt 72,7% và 65,3% vào tổng KNXK và KNNK trong tháng 4.
Phân tích các yếu tố chính trong báo cáo thương mại tháng 4
Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm, thủy sản suy yếu do ảnh hưởng của Trung Quốc
KNXK điện tử và máy móc – dù vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong KNXK của Việt Nam – đóng góp 42% vào tổng KNXK trong tháng 4, thấp hơn so với mức 45% trong tháng 3.
Trong đó, điện thoại các loại tăng 52% so với cùng kỳ so với tăng 42,4% so với cùng kỳ trong tháng 3/2022 chủ yếu do mức nền thấp trong khi giảm 11,5% so với tháng trước sau khi tăng 70,3% so với tháng trước trong tháng 3/2022.
Tương tự, máy tính và máy móc tăng lần lượt 14,6% và 20,6% so với cùng kỳ (Bảng 8), trong khi lần lượt giảm 15,9% và tăng nhẹ 2,2% so với tháng trước trong tháng 4.
KNXK sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp đóng góp 13,6% vào tổng KNXK của Việt Nam trong tháng 4/2022, tăng 13% so với cùng kỳ, cao hơn một chút so với mức tăng 11,9% so với cùng kỳ trong tháng 3/2022.
Lưu ý, trong số các sản phẩm nông lâm ngư nghiệp, KNXK rau quả giảm 19% so với cùng kỳ chủ yếu do phong tỏa tại Trung Quốc tác động tiêu cực lên KNXK từ Việt Nam sang thị trường này (giảm 33% so với cùng kỳ).
Tương tự với KNXK, các sản phẩm nhập khẩu chính bao gồm linh kiện điện tử và máy móc – đóng góp 41% vào tổng KNNK. Máy tính và linh kiện điện tử tăng 32,4% so với cùng kỳ sau khi tăng 32,9% so với cùng kỳ trong tháng trước; linh kiện điện thoại tăng 37,5% so với cùng kỳ sau khi tăng 47,2% so với cùng kỳ trong tháng 3/2022, máy móc tiếp tục giảm 2,9% so với cùng kỳ sau khi giảm 11,0% so với cùng kỳ trong tháng trước (Bảng 9).
KNNK các hàng hóa cơ bản khác cũng giảm trong tháng 4/2022: Sản phẩm nông lâm ngư nghiệp giảm 8,6% so với cùng kỳ sau khi giảm 13,7% so với cùng kỳ trong tháng trước; vải tăng 2,8% so với cùng kỳ sau khi tăng 15,7% so với cùng kỳ trong tháng trước.
Mặt khác, KNNK dầu thô, LPG và sản phẩm xăng dầu tiếp tục tăng 3 chữ số (tăng 117% so với cùng kỳ) dù đã tăng chậm lại tốc độ tăng trưởng 182% so với cùng kỳ trong tháng 3/2022, sau khi Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) thông qua giải pháp tài chính nhằm hỗ trợ Nhà máy Lọc dầu Nghi Sơn sản xuất ổn định đến cuối Q2/2022 (Mời xem: Bộ Công Thương: “Đủ nguồn cung xăng dầu cho tiêu dùng Q2/2022”, ngày 4/5/2022, Saigon Times).
Biểu đồ 8: Các mặt hàng xuất khẩu chính trong T4/2022 
Biểu đồ 9: Các mặt hàng nhập khẩu chính trong T4/2022 
Biểu đồ 10: Đóng góp vào tổng KNXK % so với cùng kỳ theo thị trường 
Biểu đồ 11: Đóng góp vào tổng KNNK % so với cùng kỳ theo thị trường
Tăng trưởng thương mại theo đối tác thương mại chủ chốt
Trong tháng 4/2022, KNXK sang Mỹ (tăng 33,3% so với cùng kỳ, sau khi tăng 15,9% so với cùng kỳ trong tháng 3/2022), đóng góp 9,7 điểm phần trăm vào tăng trưởng KNXK, theo sau là KNXK sang Trung Quốc (tăng 19,5% so với cùng kỳ, sau khi tăng 22,3% so với cùng kỳ trong tháng 3/2022), đóng góp 2,7 điểm phần trăm vào tăng trưởng KNXK (Bảng 10). KNXK sang Mỹ chiếm 30,9% tổng KNXK, KNXK sang Trung Quốc chiếm 13,5%.
Trong khi đó, KNNK từ Hàn Quốc (tăng 41% so với cùng kỳ, chiếm 17,3% vào tổng KNNK) đóng góp 5,8 điểm phần trăm vào tăng trưởng KNNK, theo sau là KNNK từ Trung Quốc (tăng 11,5% so với cùng kỳ, chiếm 33% vào tổng KNNK), đóng góp 3,9 điểm phần trăm vào tăng trưởng KNNK tháng 4.
Việt Nam thặng dư thương mại 0,8 tỷ USD trong tháng 4/2022
Việt Nam ghi nhận thặng dư 0,8 tỷ USD trong tháng 4/2022 so với thặng dư 2,05 tỷ USD trong tháng 3/2021 (Bảng 12), tương đương thặng dư 2,53 tỷ USD trong 4 tháng đầu năm 2022, trong khi cán cân thương mại trượt 12 tháng tính đến tháng 4/2022 là 4,7 tỷ USD (Bảng 12).
Nhìn chung, tính từ đầu năm, thặng dư thương mại với Mỹ (31,6 tỷ USD) và Châu Âu (10,5 tỷ USD) đã bù đắp thâm hụt thương mại với Trung Quốc (20,2 tỷ USD) và các thị trường khác (19,4 tỷ USD).
Biểu đồ 12: Cán cân thương mại hàng tháng 
Biểu đồ 13: Cán cân thương mại từ đầu năm theo thị trường 
Việt Nam ghi nhận thâm hụt thương mại với Nga trong 3 tháng liên tiếp
Nhìn chung, giá trị thương mại song phương với Nga đóng góp khoảng 1,0% vào tổng giá trị thương mại của Việt Nam trong 10 năm gần đây, trong đó KNNK từ Nga đóng góp 0,8% vào tổng KNNK của Việt Nam.
Tuy nhiên, Việt Nam cần phải kiểm soát hoạt động thương mại với Nga do Nga đóng vai trò là một trong những nguồn cung hàng hoá trọng yếu của thế giới (như năng lượng và phân bón), đặc biệt trong bối cảnh xung đột giữa Nga và Ukraina leo thang.
Tháng 4/2022, KNXK từ Việt Nam sang Nga giảm 77% so với cùng kỳ sau khi giảm 84% so với cùng kỳ tháng trước. Mặt khác, KNNK từ Nga tăng 93% so với cùng kỳ, so với giảm 16% so với cùng kỳ tháng 3/2022 (Bảng 14). Do đó, Việt Nam ghi nhận thâm hụt 188 triệu USD với Nga, đánh dấu tháng thứ 3 liên tiếp Việt Nam ghi nhận thâm hụt thương mại với Nga trong năm 2022 (Bảng 15).
Biểu đồ 14: Tăng trưởng xuất khẩu và nhập khẩu với Nga so với cùng kỳ năm trước 
Biểu đồ 15: Xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại với Nga 
Biểu đồ 16: Các mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Nga 
Biểu đồ 17: Nhập khẩu than và phân bón từ Nga 
KNNK than từ Nga tăng mạnh 355% so với cùng kỳ trong khi KNNK phân bón chững lại
Trong số các mặt hàng nhập khẩu chính từ Nga của Việt Nam, than (đóng góp 59% vào tổng KNNK từ Nga) tăng mạnh nhất 355% so với cùng kỳ, phục hồi sau khi giảm 32% so với cùng kỳ trong tháng trước (Bảng 17). Nguyên nhân chủ yếu do nhu cầu sử dụng than để sản xuất điện và phân bón của Việt Nam tăng, cùng với nỗ lực chuyển hướng xuất khẩu năng lượng khỏi các nước phương Tây của Nga.
Vì vậy, Nga vẫn là một trong các nguồn cung than chính của Việt Nam, đóng góp 17,5% vào tổng KNNK than sau Australia (đóng góp 43,2%) và Indonesia (đóng góp 33,4%) (Bảng 18). Trong bối cảnh bất ổn từ căng thẳng địa chính trị vẫn tiếp diễn, Việt Nam dự kiến sẽ đẩy mạnh nhập khẩu than từ Australia để duy trì nguồn cung ổn định (Mời xem: Việt Nam dự kiến tăng nhập khẩu than từ Australia nhằm tránh thiếu hụt năng lượng, ngày 1/4/2022, Reuters).
Biểu đồ 18: Tỷ lệ nhập khẩu than hàng tháng của Việt Nam 
Biểu đồ 19: Tỷ lệ nhập khẩu phân bón hàng tháng của Việt Nam 
Ngược lại, KNNK phân bón từ Nga của Việt Nam tăng chậm lại 6,5% so với cùng kỳ sau khi tăng 333% so với cùng kỳ trong tháng trước (do mức nền thấp). KNNK phân bón từ Nga đóng góp 11% vào tổng KNNK phân bón trong năm 2021 và giảm xuống 8,9% trong tháng 4/2022 do chuỗi cung ứng toàn cầu bị gián đoạn.
Một số loại phân bón của Việt Nam vẫn phụ thuộc vào nguồn cung nước ngoài, do đó Việt Nam cần đa dạng hoá nguồn cung để đảm bảo an ninh lương thực trong nước, giảm tỷ trọng nhập khẩu từ Nga và Trung Quốc (đóng góp 50% vào tổng KNNK phân bón) và tăng tỷ trọng từ các nước thành viên ASEAN (đóng góp 22%) như Indonesia và Lào. Trên thực tế, KNNK phân bón từ ASEAN đã tăng mạnh 156% so với cùng kỳ trong tháng 4/2022 sau khi tăng 77% so với cùng kỳ tháng trước, cho thấy sự chuyển dịch về nguồn cung của mặt hàng này.
Dự báo kinh tế vĩ mô của HSC
Nguồn: HSC
Tuyên bố miễn trách nhiệm: Báo cáo chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin và nhà đầu tư chỉ nên sử dụng báo cáo phân tích này như một nguồn tham khảo. Dautucophieu.net sẽ không chịu bất kỳ trách nhiệm nào trước nhà đầu tư cũng như đối tượng được nhắc đến trong báo cáo này về những tổn thất có thể xảy ra khi đầu tư hoặc những thông tin sai lệch về doanh nghiệp.
