DANH MỤC

Mobile / Fb / Zalo: 0912 842 224 | 0982 842 224
Đầu tư Cổ phiếu Group Facebook

Cập nhật Kinh tế vĩ mô – Hạ dự báo GDP năm 2021 xuống 2.08% do GDP Q3 giảm sâu

Lượt xem: 239 - Ngày:
Chia sẻ

GDP Q3/2021 giảm bao nhiêu?

GDP của Việt Nam giảm 6,17% so với cùng kỳ trong Q3/2021 từ tăng 6,57% so với cùng kỳ trong Q2/2021 và tăng 4,65% so với cùng kỳ trong Q1/2021, thấp hơn dự báo của chúng tôi là giảm 2,5% so với cùng kỳ. Khu vực công nghiệp và xây dựng giảm 5,02% so với cùng kỳ, lần giảm đầu tiên kể từ số liệu được thu thập vào Q1/2000. Cụ thể, các nhóm ngành tăng trưởng âm bao gồm thủy sản (giảm 4,89% so với cùng kỳ), khai khoáng (giảm 8,25% so với cùng kỳ), công nghiệp chế biến & chế tạo (giảm 3,24% so với cùng kỳ), điện (giảm 1,18% so với cùng kỳ), cung cấp nước (giảm 0,23% so với cùng kỳ), xây dựng (giảm 11,41%), bán buôn & bán lẻ (giảm 19,9% so với cùng kỳ), vận tải & kho bãi (giảm 21,1% so với cùng kỳ), dịch vụ lưu trú & ăn uống (giảm 54,8% so với cùng kỳ), BĐS (giảm 9,72% so với cùng kỳ) và nghệ thuật & giải trí (giảm 7,87% so với cùng kỳ).

Khu vực ít chịu ảnh hưởng trong Q3/2021?

Các lĩnh vực duy trì tăng trưởng mạnh (tăng trên 5% so với cùng kỳ) bao gồm thông tin và truyền thông (tăng 5,3% so với cùng kỳ), tài chính, ngân hàng và bảo hiểm (tăng 7,13% so với cùng kỳ so với tăng 9,50% so với cùng kỳ trong Q2/2021) và y tế và hoạt động trợ giúp xã hội (tăng 38,65% so với cùng kỳ so với tăng 13,71% so với cùng kỳ trong Q2/2021).

Thêm tín hiệu cho thấy nền kinh tế đã qua giai đoạn khó khăn nhất

Kim ngạch xuất khẩu tháng 9/2021 giảm 0,6% so với cùng kỳ so với giảm 1,7% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021. Về mặt tích cực, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm công nghệ đã tăng trở lại. Do đó, Việt Nam xuất siêu (0,5 tỷ USD) lần đầu tiên kể từ tháng 3/2021, đưa thâm hụt thương mại lũy kế 9 tháng đầu năm 2021 xuống còn 1,1 tỷ USD. Doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ giảm 28,4% so với cùng kỳ nhưng tăng trở lại 6,5% so với tháng trước trong tháng 9/2021 sau khi dịch COVID-19 được kiểm soát ở một số tỉnh thành và nhờ đó cho phép các hoạt động dịch vụ hoạt động trở lại. Hoạt động di chuyển trong nước cũng cải thiện phản ánh qua số lượng hành khách vận chuyển trong nước, tăng 12,4% so với tháng trước trong tháng 9/2021.

HSC hạ dự báo tăng trưởng GDP năm 2021 và giữ nguyên dự báo năm 2022 và 2023

HSC giả định hoạt động kinh tế sẽ phục hồi một phần trong Q4/2021. Những bất ổn vẫn còn, tỷ lệ tiêm chủng vẫn còn tương đối thấp, tình trạng thiếu hụt lao động chưa từng có và thu nhập lao động giảm. Do đó, HSC giảm dự báo tăng trưởng GDP năm 2021 xuống 2,08%. Tuy nhiên, chúng tôi dự báo nền kinh tế sẽ phục hồi mạnh mẽ từ năm 2022.

Bảng 1: Xu hướng của các chỉ số kinh tế 

Cập nhật số liệu kinh tế vĩ mô

GDP giảm 6,17% so với cùng kỳ trong Q3/2021, mức thấp nhất trong lịch sử. Do đó, HSC hạ dự báo tăng trưởng GDP năm 2021 xuống 2,08% do tỷ lệ thất nghiệp tăng và GDP Q3/2021 thấp hơn dự báo. HSC duy trì dự báo GDP năm 2022 và 2023 tăng trưởng lần lượt 6,80% và 6,50%. CPI tăng vừa phải 2,06% so với cùng kỳ do chi phí giáo dục giảm. Giá trị sản xuất công nghiệp giảm 5,5% so với cùng kỳ trong bối cảnh ngành công nghiệp chế biến & chế tạo tiếp tục suy yếu. Việt Nam lần đầu nhập siêu (0,5 tỷ USD) kể từ tháng 3/2021, từ đó thu hẹp thâm hụt thương mại lũy kế 9 tháng đầu năm 2021 xuống còn 1,1 tỷ USD. Vốn FDI giải ngân giảm nhưng vốn FDI đăng ký tăng 4,4% so với đầu năm cho thấy dòng vốn FDI tiếp tục chuyển dịch vào Việt Nam. Doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ giảm 28,4% so với cùng kỳ nhưng tăng trở lại 6,5% so với tháng trước trong tháng 9/2021.

GDP

GDP Việt Nam giảm 6,17% so với cùng kỳ trong Q3/2021, mức thấp nhất trong lịch sử

GDP Q3/2021 của Việt Nam giảm 6,17% so với cùng kỳ từ tăng 6,57% so với cùng kỳ (điều chỉnh giảm từ tăng 6,61% so với cùng kỳ) trong Q2/2021 và tăng 4,65% so với cùng kỳ trong Q1/2021, thấp hơn dự báo giảm 2,5% so với cùng kỳ của chúng tôi (Mời xem: Vĩ mô đầu tuần: Số liệu kinh tế tháng 9/2021, ngày 27/9/2021, HSC), từ đó kéo tăng trưởng GDP 9 tháng đầu năm 2021 còn tăng 1,42% so với cùng kỳ so với tăng 2,12% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2020.

Theo khu vực:

  • Khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng trưởng chậm lại từ 4,01% so với cùng kỳ trong Q2/2021 xuống tăng 1,04% so với cùng kỳ trong Q3/2021, thấp hơn tăng 2,79% so với cùng kỳ trong Q3/2020 do các biện pháp giãn cách xã hội và phong tỏa khiến chuỗi sản xuất và cung ứng của các sản phẩm nông, lâm và thủy sản bị gián đoạn.
  • Khu vực công nghiệp và xây dựng giảm 5,02% so với cùng kỳ so với tăng 10,36% so với cùng kỳ trong Q2/2021 và tăng 3,2% so với cùng kỳ trong Q3/2020, lần giảm đầu tiên trong khu vực này kể từ khi số liệu theo quý được thu thập từ Q1/2000.
  • Bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi các biện pháp phong tỏa, khu vực dịch vụ giảm 9,28% so với cùng kỳ so với tăng 4,22% so với cùng kỳ trong Q2/2021 bất chấp mức nền tương đối thấp trong Q3/2020 (tăng 2,8% so với cùng kỳ) (Bảng 2).

Biểu đồ 2: Tăng trưởng GDP theo ngành 

Cụ thể, các ngành tăng trưởng âm bao gồm thủy sản (giảm 4,89% so với cùng kỳ so với tăng 5,03% so với cùng kỳ trong Q2/2021), khai khoáng (giảm 8,25% so với cùng kỳ so với giảm 4,68% so với cùng kỳ trong Q2/2021), đánh dấu quý giảm thứ 8 liên tiếp, ngành công nghiệp chế biến & chế tạo (giảm 3,24% so với cùng kỳ so với tăng 13,35% so với cùng kỳ trong Q2/2021), sản xuất và phân phối điện (giảm 1,18% so với cùng kỳ so với tăng 12,83% so với cùng kỳ trong Q2/2021), cấp nước (giảm 0,23% so với cùng kỳ so với tăng 7,85% so với cùng kỳ trong Q2/2021), xây dựng (giảm 11,41% so với cùng kỳ so với tăng 6,52% so với cùng kỳ trong Q2/2021), doanh số bán buôn và bán lẻ (giảm 19,9% so với cùng kỳ so với tăng 4,65% so với cùng kỳ trong Q2/2021), vận tải & kho bãi (giảm 21,1% so với cùng kỳ so với giảm 0,11% so với cùng kỳ trong Q2/2021), dịch vụ lưu trú và ăn uống (giảm 54,8% so với cùng kỳ so với giảm 4,47% so với cùng kỳ trong Q2/2021), đánh dấu quý giảm thứ 7 liên tiếp, hoạt động kinh doanh BĐS (giảm 9,72% so với cùng kỳ so với tăng 4,18% so với cùng kỳ trong Q2/2021) và nghệ thuật & giải trí (giảm 7,87% so với cùng kỳ so với giảm 4,31% so với cùng kỳ trong Q2/2021).

Về mặt tích cực, các ngành tăng trưởng trên 5% bao gồm thông tin & truyền thông (tăng 5,3% so với cùng kỳ so với tăng 5,31% so với cùng kỳ trong Q2/2021), hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm (tăng 7,13% so với cùng kỳ so với tăng 9,50% so với cùng kỳ trong Q2/2021) và y tế (tăng 38,65% so với cùng kỳ so với tăng 13,71% so với cùng kỳ trong Q2/2021) (Bảng 3).

Về sử dụng GDP, tiêu dùng cuối giảm 2,83% so với cùng kỳ trong Q3/2021. Ngoài ra, kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng chậm hơn so với kim ngạch nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ (tăng 2,51% so với cùng kỳ so với tăng 10,75% so với cùng kỳ) trong quý cũng góp phần khiến GDP giảm.

Biểu đồ 3: Cơ cấu GDP theo ngành 

Hạ 2,08% dự báo GDP năm 2021 do tỷ lệ thất nghiệp tăng và GDP Q3/2021 giảm

Do nền kinh tế suy yếu mạnh trong Q3/2021, trong 9 tháng đầu năm 2021, GDP chỉ tăng 1,42% so với cùng kỳ so với tăng 2,12% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2020, khiến mục tiêu tăng trưởng GDP chính thức là 6% mà Quốc hội đặt ra cho năm 2021 khó có thể đạt được.

Mặc dù các hoạt động kinh tế dự kiến sẽ dần mở cửa trở lại trong Q4/2021, vẫn còn nhiều thách thức lớn đối với sự phục hồi bền vững; đặc biệt, tỷ lệ tiêm chủng hiện vẫn ở mức thấp.

Trong tháng 9/2021, chỉ số PMI duy trì ở mức 40,2, cho thấy hoạt động sản xuất giảm tháng thứ 4 liên tiếp (Bảng 4).

Biểu đồ 4: Chỉ số PMI ngành sản xuất 

Do hoạt động kinh doanh tạm thời phải đóng cửa, khó khăn trong khâu vận chuyển và tình trạng thiếu hụt lao động đều góp phần vào sự suy yếu này. Số lượng đơn hàng mới và số lượng đơn hàng xuất khẩu mới cũng giảm mạnh.

Sát với tỷ lệ thất nghiệp tăng từ 2,62% trong Q2/2021 lên 3,72% vào cuối Q3/2021 (Bảng 5) do Tổng cục Thống kê công bố, mức độ việc làm theo số liệu của Markit đã giảm với tốc độ nhanh nhất kể từ khi cuộc khảo sát PMI được thực hiện vào tháng 3/2011.

Biểu đồ 5: Tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam

Theo đó, lượng công việc tồn đọng tăng mạnh nhất kể từ khi cuộc khảo sát được thực hiện.

Trong khi đó, các biện pháp hạn chế di chuyển và gián đoạn chuỗi cung ứng quốc tế hiện tại khiến thời gian nhận nguyên vật liệu đầu vào chậm nhất trong lịch sử và khiến chi phí đầu vào tăng mạnh hơn nữa.

Về mặt tích cực, có những dấu hiệu cho thấy làn sóng COVID-19 hiện tại đã đạt đến đỉnh (Bảng 6), và các chương trình tiêm chủng đang có tiến triển tốt (Bảng 7). Các doanh nghiệp sẽ có thể tăng trưởng sản lượng trở lại trong Q4/2021.

Biểu đồ 6: Số ca nhiễm mới COVID-19 hàng ngày tại Việt Nam 

Biểu đồ 7: Tỷ lệ tiêm chủng trong khu vực ASEAN tính đến cuối T9/2021 

Nhìn chung, HSC dự báo hoạt động kinh tế sẽ phục hồi một phần trong Q4/2021. Tuy nhiên, những bất ổn vẫn tồn tại bao gồm tỷ lệ tiêm chủng thấp, tình trạng thiếu hụt lao động chưa từng có và thu nhập lao động giảm (Bảng 5) sẽ tiếp tục tác động tiêu cực đến sức mua tiêu dùng. Do đó, HSC hạ dự báo tăng trưởng GDP Q4/2021 xuống 3,87% so với cùng kỳ từ mức 4,46% so với cùng kỳ trước đó.

Theo đó, GDP 2021 sẽ tăng trưởng 2,08% (so với tăng trưởng 4,46% trong dự báo trước đó) (Bảng 8). Chúng tôi kỳ vọng nền kinh tế sẽ phục hồi bền vững trong năm 2022 dựa trên giả định Việt Nam sẽ đạt tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ trên 70% vào cuối Q1/2022. Do đó, HSC giữ nguyên dự báo tăng trưởng GDP cả năm 2022 và 2023 lần lượt là 6,8% và 6,50%.

Mặc dù vậy, nếu Việt Nam phải thực hiện phong tỏa nghiêm trọng một lần nữa trong Q4/2021, tăng trưởng trong năm 2021 có thể thấp hơn nhiều so với kịch bản cơ sở của chúng tôi, xuống còn tăng 1,07% (Bảng 8).

Biểu đồ 8: Các kịch bản GDP trong giai đoạn 2021-2023 

Lạm phát vừa phải nhờ chi phí giáo dục giảm

Trong tháng 9/2021, lạm phát tổng thể chỉ còn tăng 2,06% so với cùng kỳ so với tăng 2,82% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021 (Bảng 9).

Biểu đồ 9: Lạm phát tổng thể 

Biểu đồ 10: Đóng góp vào lạm phát tổng thể 

Điều này chủ yếu là do chi phí giáo dục giảm (giảm 1,09% so với cùng kỳ so với tăng 3,98% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021), nhờ một số các địa phương, bao gồm Hà Nội, Đà Nẵng và Quảng Ninh, miễn giảm học phí năm học 2021-2022.

Các động lực chính khác khiến lạm phát tăng chậm lại bao gồm nhà ở & vật liệu xây dựng (tăng 1,63% so với cùng kỳ so với tăng 4,34% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021) và chi phí giao thông (tăng 13,58% so với cùng kỳ so với tăng 13,63% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021) (Bảng 10).

Mặc dù vậy, chi phí lương thực & thực phẩm tiếp tục tăng (tăng 1,30% so với cùng kỳ so với tăng 1,15% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021) chủ yếu do nhu cầu bột mì, ngô, khoai và các loại ngũ cốc khác trong đợt Tết Trung thu tăng.

Trong khi đó, lạm phát tổng thể và lạm phát cơ bản bình quân 9 tháng lần lượt tăng 1,82% và 0,88% so với cùng kỳ, mức thấp nhất kể từ năm 2016 (Bảng 11) và thấp hơn nhiều so với mục tiêu 4,0% của Chính phủ.

Xu hướng lạm phát sát với dự báo tăng 2,3% đối với lạm phát bình quân năm 2021 của chúng tôi. Ngoài ra, HSC duy trì dự báo lạm phát bình quân sẽ duy trì ở mức dưới 4,0% trong năm 2022 và 2023 (lần lượt là 3,5% và 3,0%).

Do lạm phát được kiểm soát, chúng tôi kỳ vọng NHNN sẽ duy trì chính sách tiền tệ phù hợp để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ít nhất là trong phần còn lại của năm 2021.

Biểu đồ 11: Lạm phát bình quân 9 tháng đầu năm 

Giá trị sản xuất công nghiệp giảm 5,5% so với cùng kỳ

Biểu đồ 12: Chỉ số ngành công nghiệp chế biến & chế tạo 

Giá trị sản xuất công nghiệp giảm 5,5% so với cùng kỳ so với giảm 7,8% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021. Ngành công nghiệp chế biến & chế tạo giảm 4,9% so với cùng kỳ sau khi giảm 9,3% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021 (Bảng 12).

Biểu đồ 13: Động lực chính cho hoạt động sản xuất 

Ngành điện tử gia dụng còn sụt giảm mạnh hơn (giảm 47,1% so với cùng kỳ so với giảm 38,2% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021). Trong khi đó, tốc độ sụt giảm của ngành dệt may (giảm 30,2% so với cùng kỳ so với giảm 32,7% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021) và giày dép (giảm 21,7% so với cùng kỳ so với giảm 28,3% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021) đã chậm lại (Bảng 13).

Về mặt tích cực, ngành linh kiện điện tử (tăng 0,1% so với cùng kỳ so với giảm 8,1% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021) và thiết bị truyền thông (tăng 10,1% so với cùng kỳ so với giảm 2,5% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021) đã tăng trở lại.

Mặc dù vậy, sụt giảm trong tháng 9/2021 tiếp tục kéo giảm tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp và chỉ số công nghiệp chế biến & chế tạo trong 9 tháng đầu năm 2021 xuống còn tăng lần lượt 4,1% so với cùng kỳ và 5,5%, so với cùng kỳ từ tăng lần lượt 5,7% và 7,0% so với cùng kỳ trong 8 tháng đầu năm 2021. Tuy nhiên, đây vẫn là mức tăng cao hơn so với cùng kỳ năm ngoái (tăng lần lượt 2,4% và 3,8% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2020).

Ngoài ra, ngành khai khoáng giảm (giảm 6,4% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2021 so với giảm 7,4% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2020) đã ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng chung của hoạt động sản xuất công nghiệp.

Kim ngạch xuất khẩu tháng 9/2021 giảm nhẹ hơn so với tháng 8/2021

Kim ngạch xuất khẩu tháng 9/2021 giảm 0,6% so với cùng kỳ so với giảm 1,7% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021 (Bảng 14).

Các ngành chủ chốt tăng trưởng âm bao gồm hàng dệt may (giảm 18,6% so với cùng kỳ so với giảm 10,8% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021), giày dép (giảm 44,2% so với cùng kỳ so với giảm 39,5% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021), gỗ và sản phẩm từ gỗ (giảm 35,3% so với cùng kỳ so với giảm 30,2% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021), sản phẩm thủy sản (giảm 26,8% so với cùng kỳ so với giảm 26,6% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021).

Ngoài ra, tăng trưởng chậm lại đối với máy móc (tăng 10,9% so với cùng kỳ so với tăng 17,2% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021), sắt thép (tăng 116,3% so với cùng kỳ so với tăng 153,9% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021), sợi (tăng 36,7% so với cùng kỳ so với tăng 56,1% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021) và sản phẩm nhựa (tăng 20,0% so với cùng kỳ so với tăng 30,5% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021).

Biểu đồ 14: Đóng góp vào tăng trưởng xuất khẩu 

Biểu đồ 15: Đóng góp vào tăng trưởng nhập khẩu 

Về mặt tích cực, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm liên quan đến công nghệ đã tăng trở lại. Điện thoại các loại tăng 15,2% so với cùng kỳ so với tăng 4,0% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021. Máy tính và sản phẩm điện tử cũng tăng 3,0% so với cùng kỳ so với tăng 0,9% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021.

Kim ngạch nhập khẩu tăng chậm lại 9,5% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021 từ tăng 20,4% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021 (Bảng 15). Các ngành chủ chốt khiến tăng trưởng giảm bao gồm máy tính và sản phẩm điện tử (tăng 8,3% so với cùng kỳ so với tăng 15,5% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021), máy móc (tăng 13,9% so với cùng kỳ so với tăng 25,6% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021), điện thoại các loại (tăng 1,6% so với cùng kỳ so với tăng 16,2% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021), vải (tăng 1,8% so với cùng kỳ so với tăng 10,3% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021), nhựa (tăng 14,9% so với cùng kỳ so với tăng 40,9% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021), ô tô (giảm 24,6% so với cùng kỳ so với tăng 5,9% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021), và dệt may và nguyên phụ liệu giày dép (giảm 5,6% so với cùng kỳ so với tăng 3,8% so với cùng kỳ trong tháng 8/2021).

So với tháng trước, kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu giảm lần lượt 0,8% và 3,1%.

Trong 9 tháng đầu năm 2021, kim ngạch xuất khẩu (240,5 tỷ USD) và kim ngạch nhập khẩu (242,7 tỷ USD) tăng lần lượt 18,8% và 30,5% so với cùng kỳ so với lần lượt tăng 4,1% và giảm 0,8% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2020. Trong 9 tháng đầu năm 2021, kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường chính bao gồm Mỹ (69,8 tỷ USD), Trung Quốc (38,5 tỷ USD) và châu Âu (28,8 tỷ USD) lần lượt tăng 27,6%, 18,3% và 11,6% so với cùng kỳ nhờ nhu cầu cải thiện sau khi tiếp tục triển khai vắc-xin tại những các quốc gia này.

Trong tháng 9/2021, Việt Nam lần đầu ghi nhận xuất siêu ước tính là 0,5 tỷ USD kể từ tháng 3/2021, từ đó thu hẹp thâm hụt thương mại lũy kế 9 tháng đầu năm 2021 xuống còn 2,1 tỷ USD so với thặng dư thương mại 16,7 tỷ USD trong 9 tháng đầu năm 2020.

Xu hướng thâm hụt kéo dài và liên tục gần đây cho thấy triển vọng thương mại năm 2021 xấu đi và theo đó, chúng tôi hạ dự báo thặng dư thương mại xuống 4,3 tỷ USD trong năm 2021 so với thặng dư 19,9 tỷ USD trong năm 2020.

Vốn FDI giải ngân giảm nhưng vốn FDI đăng ký tăng

Trong 9 tháng đầu năm 2021, vốn FDI giải ngân giảm 3,5% so với cùng kỳ xuống 13,28 tỷ USD sau khi giảm 3,2% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2020 (Bảng 16). Về mặt tích cực, FDI đăng ký (22,15 tỷ USD) tăng 4,4% so với cùng kỳ so với giảm 18,9% trong 9 tháng đầu năm 2020.

Về FDI giải ngân, ngành công nghiệp chế biến & chế tạo (9,57 tỷ USD) đóng góp 72,1%, hoạt động kinh doanh BĐS (1,74 tỷ USD) đóng góp 13,1% và lĩnh vực sản xuất, phân phối điện, khí đốt (1,13 tỷ USD) đóng góp 8,5%.

Biểu đồ 16: Vốn FDI giải ngân 

Biểu đồ 17: Đầu tư công sử dụng ngân sách nhà nước 

Vốn FDI đăng ký mới (12,5 tỷ USD) tăng 20,6% so với cùng kỳ so với giảm 5,6% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2020 và tập trung vào các dự án năng lượng, bao gồm các nhà máy nhiệt điện LNG do Singapore phát triển 3,1 tỷ USD (Long An 1 và 2) ở phía Nam tỉnh Long An, Nhà máy nhiệt điện 1,3 tỷ USD do Nhật Bản phát triển (Ô Môn 2) ở phía Nam thành phố Cần Thơ và nhà máy pin mặt trời 498 triệu USD do Hồng Kông phát triển ở tỉnh Quảng Ninh.

Trong khi đó, vốn bổ sung cho các dự án hiện hữu (6,43 tỷ USD) cũng tăng 25,6% so với cùng kỳ so với tăng 6,8% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2020. Một trong những dự án quan trọng là đầu tư bổ sung 1,5 tỷ USD vào nhà máy LG Display Hải Phòng vào ngày 31/8/2021 (tổng vốn đầu tư vào dự án này hiện là 4,65 tỷ USD).

Mặc dù vậy, , các biện pháp hạn chế đi lại kéo dài tiếp tục cản trở các NĐT đưa ra quyết định đầu tư. Góp vốn mua cổ phần (3,22 tỷ USD) giảm 43,8% so với cùng kỳ so với giảm 44,9% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2020.

Do các tỉnh thành lớn hiện đang thực hiện phong tỏa, giãn cách xã hội và hạn chế di chuyển đã cản trở việc triển khai các dự án đầu tư công.

Trong tháng 9/2021, đầu tư công là 34,7 nghìn tỷ đồng (giảm 31,8% so với cùng kỳ) (Bảng 17). Trong 9 tháng đầu năm 2021, đầu tư (276,3 nghìn tỷ đồng) chỉ tương đương 57,3% kế hoạch năm 2021 của Chính phủ (477,3 nghìn tỷ đồng) và giảm 6,9% so với cùng kỳ so với tăng 30,6% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2020.

Tính đến ngày 15/9/2021, thặng dư ngân sách nhà nước đạt 58,6 nghìn tỷ đồng so với mức thâm hụt dự kiến 343,7 nghìn tỷ đồng theo kế hoạch năm 2021 (“Quyết định 1927” của Bộ Tài chính). Trong đó, thu ngân sách cao hơn (1.034 nghìn tỷ đồng, tương đương 77% kế hoạch năm 2021) so với chi ngân sách (975,6 nghìn tỷ đồng, tương đương 57,8% kế hoạch năm 2021).

Doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ tháng 9/2021 giảm 28,4% so với cùng kỳ nhưng hồi phục 6,5% so với tháng trước

Doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ hàng tháng (308,8 nghìn tỷ đồng) giảm 28,4% so với cùng kỳ nhưng tăng 6,5% so với tháng trước. Theo đó, doanh thu số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ giảm 7,1% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2021 so với tăng 0,7% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2020.

Doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ giảm do doanh số bán lẻ hàng hóa (270,8 nghìn tỷ đồng, giảm 21,0% so với cùng kỳ), doanh số bán lẻ dịch vụ lưu trú và ăn uống (19,4 nghìn tỷ đồng, giảm 53,6% so với cùng kỳ) và dịch vụ du lịch (76 tỷ đồng, giảm 92,4% so với cùng kỳ) (Bảng 18).

Mặc dù vậy, doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ tăng so với tháng trước nhờ dịch COVID-19 đã được kiểm soát tại một số địa phương, cho phép các hoạt động dịch vụ hoạt động trở lại. Hoạt động di chuyển trong nước cũng cải thiện thông qua số lượng hành khách vận chuyển trong nước tăng 12,4% so với tháng trước nhưng vẫn giảm 70,7% so với cùng kỳ (Bảng 20).

Hà Nội nới lỏng giãn cách xã hội bắt đầu từ 21/9/2021, cho phép mở cửa trở lại các TTTM, tiệm cắt tóc và các hoạt động kinh doanh khác được phép hoạt động tại trụ sở với 50% công suất (Mời xem: Hà Nội cho phép mở cửa trở lại cửa hàng cắt tóc, TTTM và hoạt động kinh doanh tại trụ sở, ngày 21/9/2021, VnExpress).

Biểu đồ 18: Doanh số bán lẻ sản phẩm, dịch vụ hàng tháng 

Biểu đồ 19: Lưu lượng khách quốc tế hàng tháng 

Biểu đồ 20: Lưu lượng khách di chuyển trong nước hàng tháng 

Do hầu như không thực hiện các chuyến bay thương mại kể từ tháng 4/2020, lượng khách du lịch quốc tế giảm 31,0% so với cùng kỳ xuống còn 9,5 nghìn lượt (Bảng 19); những lượt khách này chủ yếu là các chuyên gia nước ngoài và lao động tay nghề cao đến từ Trung Quốc (3,1 nghìn lượt), Hàn Quốc (2,1 nghìn lượt), Nhật Bản (344 lượt), Mỹ (408 lượt) và châu Âu (1,1 nghìn lượt). Trong 9 tháng đầu năm 2021, tổng lượng khách du lịch đạt 115 nghìn lượt, giảm 97,0% so với cùng kỳ (so với giảm 70,6% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2020).

Chìa khóa cho sự hồi sinh ngành du lịch của Việt Nam sẽ phụ thuộc vào việc dỡ bỏ rộng rãi các hạn chế di chuyển. Trước tình hình làn sóng dịch COVID-19 mới, theo quan điểm của chúng tôi, điều này sẽ không xảy ra ít nhất đến đầu Q1/2022.

HSC kỳ vọng hoạt động bán lẻ sẽ tiếp tục phục hồi trong những tháng tới sau khi hoạt động kinh tế dần dần mở tại các tỉnh thành trọng điểm.

Ngoại trừ một số lĩnh vực được coi là có nguy cơ lây nhiễm COVID-19 cao, hầu hết các cơ sở sản xuất và dịch vụ công và tư nhân tại TP.HCM sẽ mở cửa trở lại từ ngày 1/10/2021 (Mời xem: TP.HCM cho phép mở cửa trở lại hầu hết các hoạt động kinh doanh từ ngày 1/10/2021, 30/9/2021, VnExpress).

Dự báo kinh tế vĩ mô của HSC

Nguồn: HSC

BÌNH LUẬN()

CÁC TIN LIÊN QUAN

Đối tác

Gọi ngay
Messenger
Zalo chát
Mở tài khoản
Góp ý