DANH MỤC

Mobile / Fb / Zalo: 0912 842 224 | 0982 842 224
Đầu tư Cổ phiếu Group Facebook

Cập nhật Kinh tế vĩ mô – Điều chỉnh dự báo thương mại do dịch Covid-19 bùng phát

Lượt xem: 250 - Ngày:
Chia sẻ

Làn sóng COVID-19 hiện tại ảnh hưởng tới hoạt động thương mại

Trong nửa đầu tháng 8/2021, kim ngạch xuất khẩu (KNXK) giảm 10,6% so với cùng kỳ (giảm 11,0% so với tháng trước) trong khi kim ngạch nhập khẩu (KNNK) giảm mạnh còn tăng 15,1% so với cùng kỳ (giảm 12,9% so với tháng trước) so với tăng lần lượt 11,9% và 31,8% so với cùng kỳ trong tháng 7/2021. Các lệnh phong tỏa trên diện rộng đã làm gián đoạn chuỗi sản xuất và ảnh hưởng đến các tình hình xuất khẩu. Hầu hết các mặt hàng xuất khẩu chính đều có lượng xuất khẩu thấp hơn, trong khi nhập khẩu các sản phẩm chính bắt đầu chậm lại đáng kể (sau khi tăng trưởng mạnh mẽ gần đây).

Tốc độ tăng trưởng từ đầu năm chậm lại do ảnh hưởng của dịch COVID-19

KNXK chịu ảnh hưởng rõ ràng bởi làn sóng COVID-19 hiện tại, chỉ tăng 23,3% so với cùng kỳ trong 7,5 tháng đầu năm 2021 so với tăng 26,2% so với cùng kỳ trong 7 tháng đầu năm 2021. Trong khi đó, KNNK tăng 34,3% so với cùng kỳ trong 7,5 tháng đầu năm 2021 so với mức tăng 35,8% trong 7 tháng đầu năm 2021. Tính đến nay, hoạt động thương mại đã tăng trưởng đáng kể, trái ngược tốc độ chậm chạp trong cùng kỳ năm ngoái. KNNK tăng mạnh từ đầu năm đến nay nhờ nhu cầu dự trữ hàng hóa tư liệu sản xuất cũng như hoạt động đầu tư trong nước tăng mạnh. Hoạt động thương mại của các doanh nghiệp FDI tương đối vững chắc với KNXK tăng 27,9% so với cùng kỳ và KNNK tăng 37,5% so với cùng kỳ. Trong khi đó, KNNK của các doanh nghiệp trong nước tăng 29,0% so với cùng kỳ, đặc biệt là mặt hàng máy móc (tăng 25,1% so với cùng kỳ), trong khi KNXK tăng vừa phải 12,0% so với cùng kỳ.

Điều chính giảm dự báo

Trong Q3/2021, chúng tôi dự báo KNXK sẽ giảm 0,8% so với cùng kỳ (so với mức tăng 11,0% trong dự báo trước) do lo ngại về ảnh hưởng bất lợi của dịch COVID-19. Tuy nhiên, KNNK được dự báo sẽ tăng 16,2% so với cùng kỳ (cao hơn so với dự báo trước đó của chúng tôi là tăng 10,6%) do đà tăng mạnh mẽ của các đơn hàng (đã đặt).Trong Q4/2021, KNXK được dự báo sẽ tăng 2,1% so với cùng kỳ (từ mức tăng 5,3% trong dự báo trước), trong khi KNNK có thể tăng nhẹ 1,8% so với cùng kỳ (so với mức tăng 2,2% trong dự báo trước). Theo dự báo mới của chúng tôi, KNXK và KNNK tăng trưởng lần lượt 13,0% và 19,9% trong năm 2021 (so với mức tăng lần lượt 17,0% và 19,6% trong dự báo trước của chúng tôi), 14,4% và 14,5% trong năm 2022 (so với mức 16,6% và 15,9% trong dự báo trước), và 14,1% và 13,6% trong năm 2023 (từ mức 15,8% và 15,2% trong dự báo trước). HSC hiện dự báo thặng dư thương mại sẽ là 4,34 tỷ USD trong năm 2021, và dự kiến sẽ cải thiện lần lượt lên 4,69 tỷ USD và 7,15 tỷ USD trong năm 2022 và 2023.

Biểu đồ 1: Tổng quan hình hìn thương mại Việt nam, theo tháng 

Điều chỉnh dự báo thương mại do dịch COVID-19 bùng phát

HSC điều chỉnh dự báo tăng trưởng KNXK và KNXK lần lượt là 13,0% và 19,9% trong năm 2021 so với tăng trưởng lần lượt 17,0% và 19,6% trong dự báo trước đó của chúng tôi. Chúng tôi điều chỉnh giảm 4% dự báo tăng trưởng KNXK do ảnh hưởng của dịch COVID-19, trong khi dự báo tăng trưởng KNNK được điều chỉnh tăng nhẹ 0,3% do đà tăng trưởng trong những tháng gần đây mạnh hơn kỳ vọng . Nhu cầu từ các thị trường chính tăng mạnh sẽ hỗ trợ KNXK tăng trở lại trong Q4/2021, tại thời điểm đó, dịch COVID-19 dự kiến sẽ được kiểm soát. Do đó, chúng tôi hạ dự báo thặng dư thương mại còn 4,34 tỷ USD so với 16,57 tỷ USD trong dự báo trước đó của chúng tôi.

Điều chỉnh dự báo thương mại

HSC điều chỉnh dự báo tăng trưởng KNXK và KNNK năm 2021 xuống lần lượt 13,0% và 19,9%, (giảm lần lượt 4,0% và 0,3% so với dự báo trước đó lần lượt là tăng trưởng 17,0% và 19,6%). Chúng tôi điều chỉnh giảm dự báo KNXK do ảnh hưởng của dịch COVID-19, trong khi dự báo KNNK mới của chúng tôi phản ánh đà tăng trưởng được duy trì nhờ các đơn đặt hàng trước.

Trong Q3/2021, chúng tôi dự báo KNXK sẽ giảm 1,0% so với quý trước trong khi KNNK sẽ giảm 4,2% so với quý trước (so với tăng lần lượt 2,0% và 10,7% so với quý trước trong Q2/2021). Chúng tôi dự báo KNXK và KNNK sẽ chịu ảnh hưởng nghiêm trọng hơn (giảm lần lượt 10,0% và 12,9% so với tháng trước) trong tháng 8/2021 do chuỗi cung ứng bị gián đoạn và hoạt động sản xuất phải tạm dừng do các biện pháp phong tỏa trên diện rộng tại miền Nam Việt Nam.

Trong Q4/2021, HSC dự báo KNXK sẽ tăng dần 3,4% so với quý trước trong khi KNNK có thể giảm 5,9% so với quý trước. Theo đó, chúng tôi kỳ vọng KNNK có thể sẽ giảm trong những tháng tới, mặc dù tác động vẫn sẽ trễ hơn so với KNXK.

So với cùng kỳ, chúng tôi dự báo KNXK giảm 0,8% trong Q3/2021 trong khi KNNK tăng 16,2% nhờ mức nền tương đối thấp trong Q3/2020 (tăng 3,7% so với cùng kỳ, mặc dù KNXK tăng mạnh hơn là 10,7% so với cùng kỳ). Trong Q4/2021, KNXK được dự báo sẽ tăng 2,1% so với cùng kỳ, trong khi KNNK có thể giảm 1,8% so với cùng kỳ (Bảng 2).

Các dự báo dựa trên quan điểm hiện tại của chúng tôi và thị trường là Việt Nam về cơ bản sẽ kiểm soát được dịch vào thời điểm cuối năm. Chính phủ đặt mục tiêu đến cuối năm nay sẽ có ít nhất 50% dân số từ 18 tuổi trở lên được tiêm chủng đầy đủ. (Việt Nam triển khai kế hoạch tiêm chủng COVID-19 cho giai đoạn 2021-2022, 9/7/2021, chinhphu.vn). Trong khi đó, chính quyền TP.HCM lên kế hoạch tiêm chủng liều đầu tiên cho 2/3 tổng dân số trên 18 tuổi vào cuối tháng 8/2021. (Sài Gòn mở rộng chiến dịch tiêm chủng cho tất cả người dân trên 18 tuổi, 2/8/2021).

Biểu đồ 2: Điều chỉnh dự báo năm 2021 

Biểu đồ 3: Dự báo tình hình thương mại của HSC 

Chúng tôi cũng hạ dự báo năm 2022 và 2023. Theo đó, tăng trưởng KNXK và KNNK được điều chỉnh còn lần lượt tăng trưởng 14,4% và 14,5% trong năm 2022 và chậm ại 14,1% và 13,6% trong năm 2023. So với dự báo cũ của chúng tôi, KNXK và KNNK tăng trưởng lần lượt 16,6% và 15,9% trong năm 2022 và 15,8% và 15,2% trong năm 2023 (Bảng 3).

HSC hạ đáng kể dự báo cán cân thương mại. Trong đó, dự báo thặng dư thương mại trong năm 2021 được dự báo đạt 4,34 tỷ USD (so với 16,57 tỷ USD trong dự báo trước đó). Mặc dù từ đầu năm đến nay đã nhập siêu 3,88 tỷ USD, chúng tôi dự báo cán cân thương mại sẽ tích cực hơn trong phần còn lại của năm và đạt thặng dư nhẹ trong cả năm 2021. Chúng tôi dự báo thặng dư thương mại năm 2022 và 2023 lần lượt đạt 4,69 tỷ USD và 7,15 tỷ USD (so với lần lượt 22,15 tỷ USD và 28,07 tỷ USD trong dự báo trước đó) (Bảng 3).

Dịch COVID-19 kéo dài sẽ là mối nguy lớn

Làn sóng COVID-19 hiện tại ở Việt Nam, bắt đầu từ ngày 27/4/2021, đã gây ra hơn 377.000 ca nhiễm trên cả nước, tính đến ngày 25/8/2021. Làn sóng này đã ảnh hưởng nặng nề tới các vùng kinh tế trọng điểm của Việt Nam, đặc biệt là các KCN phía Bắc (Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội) vào tháng 5 và tháng 6/2021, và từ đó lan rộng ra tất cả các tỉnh thành phía Nam (đặc biệt là TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai, Long An). Các biện pháp phong tỏa đã ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của các nhà máy và KCN kéo theo sự sụt giảm của KNXK (Bảng 4).

TP.HCM hiện đã có hơn 190.000 ca nhiễm, mặc dù đã áp dụng các biện pháp giãn cách xã hội dần dần cứng rắn hơn từ ngày 31/5/2021. Nhiều ca nhiễm đã được ghi nhận tại các nhà máy, KCN và ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất.

Chính quyền thành phố đã đóng cửa một số nhà máy trong Khu công nghệ cao Sài Gòn, bao gồm cả khu phức hợp Samsung, trong khi các nhà máy khác được yêu cầu cho phép công nhân ở lại tại nhà máy nếu muốn tiếp tục hoạt động. TP.HCM đóng góp 25% GDP cả nước và 15% tổng KNXK.

Biểu đồ 4: Số ca nhiễm COVID-19 tại Việt Nam tính đến 25/8/2021, theo tỉnh/thành 

Hoạt động thương mại gặp khó trong Q3/2021

Làn sóng COVID-19 hiện tại đã cản trở các hoạt động thương mại. Tác động tiêu cực ngày càng rõ ràng trong nửa đầu tháng 8/2021 khi KNXK giảm 10,6% so với cùng kỳ (giảm 11,0% so với tháng trước) trong khi KNNK chậm lại, chỉ tăng 15,1% so với cùng kỳ (giảm 12,9% so với tháng trước); so với mức tăng lần lượt 11,9% và 31,8% trong tháng 7/2021. Trong giai đoạn 7,5 tháng đầu năm 2021, KNXK tăng tích cực 23,3% so với cùng kỳ và KNNK tăng 34,3% so với cùng kỳ. Điều này chủ yếu nhờ kết quả mạnh mẽ trong 6 tháng đầu năm 2021 – nhu cầu tiêu dùng tại các thị trường chủ chốt tăng đã hỗ trợ tăng trưởng KNXK, trong khi nhu cầu tư liệu sản xuất mạnh mẽ hỗ trợ tăng trưởng KNNK.

Làn sóng COVID-19 hiện tại cản trở hoạt động thương mại tháng 8/2021

Theo ước tính sơ bộ, KNXK giảm 10,6% so với cùng kỳ và 11,0% so với tháng trước trong 15 ngày đầu tháng 8/2021 (nửa đầu tháng 8/2021), so với mức tăng 11,9% so với cùng kỳ và 2,4% so với tháng trước trong tháng 7/2021. Nhiều tỉnh thành tiếp tục thực hiện phong tỏa nghiêm ngặt trong tháng 8/2021, khiến hàng loạt chuỗi sản xuất bị đình trệ và các lô hàng xuất khẩu bị ảnh hưởng. KNXK giảm tại hầu hết các mặt hàng chính (Bảng 5).

Biểu đồ 5: Các mặt hàng xuất khẩu chính – theo tháng, tính đến 15/8/2021 

KNNK cũng tăng trưởng chậm lại do dịch COVID-19 và giá hàng hóa cơ bản giảm. Trong nửa đầu tháng 8/2021, KNNK của Việt Nam tăng 15,1% so với cùng kỳ (giảm 12,9% so với tháng trước), so với mức tăng 31,8% so với cùng kỳ (tăng 5,3% so với tháng trước) trong tháng 7/2021. KNNK các nhóm hàng chính đã giảm đáng kể sau khi tăng rất mạnh vài tháng trước đó (Bảng 6). Ngoài ra, giá hàng hóa cơ bản giảm cũng ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng.

Biểu đồ 6: Các mặt hàng nhập khẩu chính – theo tháng, tính đến 15/8/2021 

Tăng trưởng từ đầu năm chậm lại

KNNK tăng mạnh do mức nền thấp. KNXK và KNNK tăng lần lượt 23,3% và 34,3% so với cùng kỳ trong 7,5 tháng đầu năm 2021, từ tăng lần lượt 26,2% và 35,8% so với cùng kỳ trong 7 tháng đầu năm 2021. Tuy nhiên, mức tăng trưởng này vẫn cao hơn nhiều so với kết quả của cùng kỳ năm ngoái (với KNXK và KNNK lần lượt tăng 1,9% và giảm 2,8%).

Nhu cầu trong nước đang được cải thiện – xuất khẩu từ các doanh nghiệp trong nước tăng vừa phải 12,0% so với cùng kỳ trong 7,5 tháng đầu năm 2021 (trong khi giảm 5,1% so với cùng kỳ trong 7,5 tháng đầu năm 2020). Trong khi đó, KNNK từ các doanh nghiệp trong nước tăng 29,0% so với cùng kỳ, phục hồi tốt từ giảm 16,1% so với cùng kỳ trong 7,5 tháng đầu năm 2020. Điều này cho thấy nhu cầu trong nước đã cải thiện. Cụ thể, trong 7 tháng đầu năm 2021, KNNK máy móc thiết bị tăng 25,1% so với cùng kỳ, trong khi KNNK điện thoại tăng 5,1% so với cùng kỳ.

Hoạt động thương mại của các doanh nghiệp FDI tương đối vững chắc – các doanh nghiệp FDI đóng góp 74% vào KNXK và 65% vào KNNK của cả nước. Trong 7,5 tháng đầu năm 2021, KNXK và KNNK của các doanh nghiệp FDI tăng mạnh lần lượt 27,9% và 37,5% so với cùng kỳ, trong khi trong cùng kỳ năm ngoái chỉ ghi nhận mức tăng trung bình một con số. Mặc dù tình hình dịch COVID-19 tại Việt Nam, đà tăng KNNK vẫn mạnh mẽ cho thấy niềm tin của nhóm doanh nghiệp FDI vào các kế hoạch sản xuất trong thời gian sắp tới.

Việt Nam nhập siêu 1,36 tỷ USD trong nửa đầu tháng 8/2021. Thâm hụt thương mại từ đầu năm tăng lên 3,88 tỷ USD trong 7,5 tháng đầu năm 2021, so với xuất siêu hơn 10 tỷ USD cùng kỳ năm ngoái (Bảng 7). HSC dự báo KNNK sẽ tăng chậm lại trong những tháng tới, trong khi KNXK có thể phục hồi nhẹ trong Q4/2021. Hiện tại, chúng tôi dự báo cán cân thương mại sẽ thặng dư trở lại trong phần lớn năm 2022.

Biểu đồ 7: Cán cân thương mại trở nên kém tích cực hơn trong nửa đầu T8/2021 

Hoạt động thương mại 7 tháng đầu năm 2021 theo mặt hàng chủ chốt

Hoạt động sản xuất tăng trưởng mạnh

KNXK các sản phẩm công nghiệp chế biến và chế tạo tăng 28,5% so với cùng kỳ trong 7 tháng đầu năm 2021, cho thấy tốc độ tăng mạnh mẽ từ mức tăng nhẹ 2,3% so với cùng kỳ trong 7 tháng đầu năm 2020. Cơ cấu cụ thể được tóm tắt trong Bảng 8.

  • KNXK máy móc và gỗ & sản phẩm từ gỗ tăng lần lượt 57,7% và 54,8% so với cùng kỳ so với tăng lần lượt 30,0% và 7,9% so với cùng kỳ trong 7 tháng đầu năm 2020.
  • Trong khi đó, nhu cầu tiêu dùng toàn cầu cải thiện tiếp tục hỗ trợ sự phục hồi vững chắc của một số sản phẩm sản xuất như giày dép (tăng 24,2% so với cùng kỳ), dệt may (tăng 13,2% so với cùng kỳ) và túi xách & vali (tăng 7,3% so với cùng kỳ).
  • KNXK điện thoại tăng 13,5% so với cùng kỳ trong 7 tháng đầu năm 2021; mức tăng khá so với mức giảm 4,5% trong 7 tháng đầu năm 2020.

Biểu đồ 8: KNXK các sản phẩm công nghiệp chế biến và chế tạo tăng 

KNXK ngành nông nghiệp, đóng góp 8,5% vào tổng KNXK, tăng 15,2% so với cùng kỳ trong 7 tháng đầu năm 2021, phục hồi đáng kể từ mức giảm 5,1% so với cùng kỳ trong cùng kỳ năm ngoái. Động lực tăng trưởng chính là thủy sản (tăng 13,3% so với cùng kỳ), rau quả (tăng 15,8% so với cùng kỳ) và hạt điều (tăng 15,8% so với cùng kỳ). Đặc biệt, KNXK cao su tăng mạnh 74,5% so với cùng kỳ do giá bán tăng (Bảng 9).

Biểu đồ 9: Xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp hồi phục mạnh 

Ngành khai khoáng và tài nguyên, chỉ đóng góp 1,5% vào tổng KNXK, tăng 16,6% so với cùng kỳ trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 7/2021, cải thiện đáng kể so với giảm 27,8% so với cùng kỳ trong cùng kỳ năm ngoái, nhờ clinker và xi măng (tăng 28,2% so với cùng kỳ), sản phẩm dầu mỏ (tăng 17,1% so với cùng kỳ) và dầu thô (tăng 3,3% so với cùng kỳ).

Kim ngạch nhập khẩu hiện chỉ ảnh hưởng nhẹ bởi dịch COVID-19

KNNK tăng trưởng vẫn ổn định, mặc dù một số mặt hàng đã tăng chậm lại trong vài tháng qua (từ mức tăng mạnh hồi đầu năm). Bên cạnh nhu cầu đầu tư vào tài sản cố định và nguyên vật liệu gia tăng, KNNK tăng mạnh còn do mức nền thấp cùng kỳ năm ngoái với mức đáy trong Q2 và Q3/2020.

  • Nhu cầu nhập khẩu điện thoại, sản phẩm điện tử và ô tô tăng lần lượt 49,8%, 21,9% và 73,9% so với cùng kỳ; trong khi đầu tư vào máy móc thiết bị tăng 37,1% so với cùng kỳ (Bảng 10)
  • Nhu cầu nguyên vật liệu vẫn cao. Vải & nguyên phụ liệu dệt may, hàng dệt may & giày dép tăng lần lượt 30,4% và 32,3% so với cùng kỳ nhờ sự nở rộ của các ngành sản xuất liên quan (Bảng 11)
  • Tăng trưởng KNNK nhựa và sản phẩm sắt thép được hỗ trợ đáng kể nhờ giá bán tăng. KNNK nhựa tăng 54,7% so với cùng kỳ, mặc dù sản lượng giảm nhẹ 1,2% so với cùng kỳ. KNNK sắt thép tăng 42,4% so với cùng kỳ với sản lượng tăng 25,0% so với cùng kỳ.

Biểu đồ 10: Các mặt hàng nhập khẩu chính 

Biểu đồ 11: Nhập khẩu nguyên liệu vẫn tăng mạnh 

Kim ngạch xuất khẩu được hỗ trợ nhờ nhu cầu cao tại các thị trường chủ chốt

Mỹ: Nhu cầu tăng do chi tiêu tiêu dùng tăng

Nền kinh tế Mỹ tăng trưởng ổn định trong Q2/2021 (tăng 6,5% so với cùng kỳ so với tăng 6,3% so với cùng kỳ trong Q1/2021) nhờ các gói hỗ trợ quy mô lớn của chính phủ và chương trình tiêm chủng vắc-xin COVID-19 của đất nước này đã thúc đẩy chi tiêu của người dân. Trong 6 tháng đầu năm 2021, KNNK của Mỹ tăng 24,0% so với cùng kỳ, trong khi KNXK từ Việt Nam sang Mỹ tăng 38,3% so với cùng kỳ (so với mức tăng 18,4% trong cùng kỳ năm ngoái).

Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam (đóng góp 29% tổng KNXK) với các mặt hàng chính, bao gồm: dệt may, máy móc thiết bị, sản phẩm điện tử & máy tính, gỗ & sản phẩm từ gỗ, điện thoại & linh kiện,… Mỹ là thị trường đặc biệt quan trọng của hàng loạt mặt hàng xuất khẩu chủ lực; bao gồm: sản phẩm từ gỗ (đóng góp 62% tổng tỷ trọng), hàng may mặc (đóng góp 50% tổng tỷ trọng), máy móc (đóng góp 45% tổng tỷ trọng), túi xách (đóng góp 44% tổng tỷ trọng) và giày dép (đóng góp 40% tổng tỷ trọng) (Bảng 12).

Đáng lưu ý, nhu cầu các sản phẩm tiêu dùng đã phục hồi từ mức đáy năm ngoái – ô tô (tăng 52,2% so với cùng kỳ), giày dép (tăng 38,5% so với cùng kỳ), sản phẩm thủy sản (tăng 36,0% so với cùng kỳ), hàng may mặc (tăng 20,0% so với cùng kỳ) và túi xách (tăng 19,1% so với cùng kỳ) đều phục hồi. Các sản phẩm nhựa, máy móc và sản phẩm từ gỗ đều tăng trưởng vững chắc. Trong khi đó, tăng trưởng KNXK sản phẩm điện tử và máy tính giảm mạnh (tăng 27,1% so với cùng kỳ trong 7 tháng đầu năm 2021) so với cùng kỳ năm ngoái (tăng 86,5% so với cùng kỳ trong 7 tháng đầu năm 2020, được hỗ trợ bởi mô hình làm việc tại nhà áp dụng rộng rãi trong giai đoạn đại dịch) (Bảng 13).

Biểu đồ 12: Mỹ là thị trường xuất khẩu chủ lực của VN 

Biểu đồ 13: Các mặt hàng xuất khẩu chính vào thị Mỹ tăng trong 7 tháng đầu năm 2021 

Trung Quốc: Nhu cầu nội địa và hoạt động đầu tư tăng mạnh

Trung Quốc không chỉ là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam (chiếm 15,3% tổng kim ngạch xuất khẩu), mà còn là thị trường chính của một số sản phẩm (như cao su, trái cây và rau quả, sợi, máy ảnh và phụ tùng). Các sản phẩm chính của thị trường này bao gồm điện thoại, sản phẩm điện, sợi, máy móc và rau quả. (Hình 14)

Nhu cầu nhập khẩu của Trung Quốc rất mạnh trong 7 tháng đầu năm 2021, tăng 34,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, xuất khẩu từ Việt Nam sang Trung Quốc tăng 23,3%, tăng nhanh so với mức tăng 16,8% trong 7 tháng đầu năm 2020. Trong top 10 mặt hàng xuất khẩu nhiều nhất, chúng tôi nhận thấy có sự tăng trưởng ổn định, nhìn chung được hỗ trợ nhờ nhu cầu tiêu dùng trong nước gia tăng và các hoạt động dự trữ và đầu tư (Bảng 15).

Biểu đồ 14: Các mặt hàng xuất khẩu chính vào thị trường TQ 

Biểu đồ 15: Nhu cầu nhập khẩu cao từ thị trường TQ 

Châu Âu: Nhu cầu cải thiện nhờ nền kinh tế hồi phục

Nền kinh tế châu Âu tiếp tục phục hồi trong Q2/2021 với mức tăng 1,9% so với cùng kỳ so với Q1/2021 và tăng 13,2% so với cùng kỳ. KNNK của châu Âu trong 6 tháng đầu năm 2021 đã tăng 13,9% so với cùng kỳ. KNXK của Việt Nam sang châu Âu tăng 17,1% so với cùng kỳ trong 7 tháng đầu năm 2021, phục hồi từ mức giảm 5,9% trong cùng kỳ năm ngoái.

Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang thị trường châu Âu bao gồm điện thoại, giày dép, sản phẩm điện tử, hàng may mặc và máy móc. Đặt biệt, một số mặt hàng có nhu cầu tăng mạnh như máy móc (tăng 59,2% so với cùng kỳ), gỗ và sản phẩm từ gỗ (tăng 35,2% so với cùng kỳ), giày dép (tăng 24,7% so với cùng kỳ), thủy sản (tăng 17,6% so với cùng kỳ) và dệt may (tăng 10,8% so với cùng kỳ) (Bảng 16)

Biểu đồ 16: Nhu cầu xuất khẩu nhiều mặt hàng chủ lực sang thị trường EU tăng mạnh 

Dự báo kinh tế vĩ mô của HSC 

Nguồn: HSC

BÌNH LUẬN()

CÁC TIN LIÊN QUAN

Đối tác

Gọi ngay
Messenger
Zalo chát
Mở tài khoản
Góp ý