DANH MỤC

Mobile / Fb / Zalo: 0912 842 224 | 0982 842 224
Đầu tư Cổ phiếu Group Facebook

Vận tải – Trung Quốc mở cửa trở lại, du lịch hàng không Việt Nam chuẩn bị cất cánh ?

Lượt xem: 309 - Ngày:
Chia sẻ

Động lực tăng trưởng trong năm 2023: Sự trở lại của du khách Trung Quốc

Trung Quốc đã bắt đầu nới lỏng thời gian cách ly và quy định phòng dịch, đây là động lực tốt đối với ngành hàng không Việt Nam, đặc biệt là khi du khách Trung Quốc đóng góp hơn 32% tổng lượng du khách quốc tế của Việt Nam trong năm 2019. Với tiềm năng hành khách quốc tế quay trở lại, nhờ du khách Trung Quốc, chúng tôi cho rằng KQKD ngành hàng không sẽ tích cực từ năm 2023 trở đi. Ngoài ra, ACV (Mua vào) sẽ hưởng lợi chính nhờ khung giá nhượng quyền khai thác mới được chính thức có hiệu lực từ ngày 1/9/2022. Chúng tôi cũng ưa thích cổ phiếu SCS (Tăng tỷ trọng) nhờ định giá hấp dẫn và lợi suất cổ tức cao. Trong khi đó, HVN (Nắm giữ) tiếp tục phải đối mặt với nhiều thách thức bao gồm giá dầu cao và thị phần giảm.

Nhu cầu du lịch nội địa hỗ trợ ngành hàng không trong 9 tháng đầu năm 2022

Hoạt động du lịch hàng không nội địa, đặc biệt là trong mùa hè, từ tháng 6-8/2022 đã hồi phục mạnh mẽ. Theo đó, số lượng hành khách nội địa đã vượt mức trước dịch COVID-19.

Trên thực tế, số lượng hành khách nội địa trong Q3/2022 đạt 26,1 triệu khách, từ mức chỉ 385.142 khách trong Q3/2019 và cao hơn 34,4% so với mức trước dịch COVID[1]19 trong Q3/2019. Nhu cầu nội địa bị dồn nén được giải tỏa đã hỗ trợ mạnh mẽ cho ngành hàng không.

Nhờ đó, số lượng hành khách nội địa trong 9 tháng đầu năm 2022 đạt 67,6 triệu khách, tăng 158% so với cùng kỳ và vượt 19,8% mức trước dịch COVID-19. Trong cả năm 2022, chúng tôi dự báo tổng số hành khách nội địa sẽ đạt 85,78 triệu khách, tăng 2,9 lần so với cùng kỳ, tương đương số lượng hành khách nội địa trong Q4/2022 sẽ đạt 18,8 triệu khách (so với 3,4 triệu khách trong Q4/2021), giảm 28% so với quý trước do mùa cao điểm đã qua.

Biểu đồ 1: Số lượng hành khách qua các cảng hàng không nội địa theo quý, Việt Nam 

Biểu đồ 2: Số lượng hành khách quốc tế qua các cảng hàng không theo quý, Việt Nam 

Du khách quốc tế trở lại mạnh kể từ giữa năm 2022

Theo ACV, số lượng hành khách quốc tế đã phục hồi mạnh mẽ trong những quý gần đây và cải thiện qua từng tháng kể từ đầu năm. Theo đó, mặc dù giảm 61,2% so với mức trước dịch COVID-19 (Trung Quốc và Nga là thị trường thu hút khách du lịch trọng điểm của Việt Nam), số lượng hành khách quốc tế trong Q3/2022 đạt 4,1 triệu khách (so với 107.301 khách trong Q3/2019), tăng mạnh 106,8% so với quý trước. Chúng tôi cho rằng xu hướng hồi phục sẽ tiếp tục cải thiện, bắt đầu từ năm 2023 trở đi, do Trung Quốc nới lỏng một số quy định kiểm dịch.

Tổng lượng du khách quốc tế trong 9 tháng đầu năm 2022 tăng lên 6,6 triệu khách (so với 346.061 khách trong 9 tháng đầu năm 2021), nhưng vẫn giảm 78,9% so với mức trước dịch COVID-19. Trong cả năm 2022, chúng tôi kỳ vọng số lượng hành khách quốc tế sẽ đạt 9,5 triệu khách, từ 0,48 triệu khách trong năm 2021, tương đương số lượng hành khách quốc tế trong Q4/2022 đạt 2,9 triệu khách (so với 173.073 khách trong Q4/2021).

Do số lượng hành khách nội địa đạt mức cao kỷ lục trong Q3/2022 và năm 2022, tăng trưởng số lượng hành khách trong những quý/năm tới sẽ chủ yếu dựa vào sự trở lại của du khách quốc tế.

Tầm quan trọng của du khách Trung Quốc đối với ngành du lịch Việt Nam

Theo Tổng cục Thống kê, Việt Nam đã đón tổng cộng 2,36 triệu khách quốc tế tới Việt Nam. Mặc dù giảm 83,7% so với mức trước dịch COVID-19, nhưng chúng tôi cho rằng kết quả này là đáng khích lệ, với mức tăng mạnh so với mức nền thấp là 125.076 khách trong 10 tháng đầu năm 2021. Số lượng du khách quốc tế hàng tháng cũng tăng mạnh so với tháng trước kể từ đầu năm, nhờ sự trở lại của các du khách quốc tế tới từ Hàn Quốc, Nhật Bản, các nước trong khu vực ASEAN và Đài Loan.

Biểu đồ 3: Số lượng khách quốc tế tới Việt Nam hàng tháng, tính từ đầu năm (nghìn lượt) 

Bối cảnh năm 2019

Lưu ý, trong những năm trước dịch COVID-19, Trung Quốc là thị trường thu hút khách du lịch lớn nhất của Việt Nam với 5,8 triệu khách (tăng 27,2% so với cùng kỳ) trong năm 2019, tương đương hơn 32% tổng số lượng hành khách quốc tế đến Việt Nam. Vào thời điểm đó, nhiều đường bay thẳng từ các thành phố lớn của Việt Nam tới Trung Quốc đã triển khai.

Ở vị trí thứ hai, Hàn Quốc đóng góp 24% số lượng hành khách quốc tế trước dịch COVID-19. Ngoài ra, các thị trường Nhật Bản, Đài Loan và Mỹ cũng nằm trong top 5 thị trường thu hút khách du lịch trước dịch COVID-19 (Bảng 5).

Biểu đồ 4: Top 10 nước có số lượng du khách đến Việt Nam nhiều nhất trong giai đoạn 2018-2019; những năm trước dịch COVID-19 

Biểu đồ 5: Top 10 nước có số lượng du khách đến Việt Nam nhiều nhất năm 2019 

Biểu đồ 6: Hàn Quốc trở thành thị trường thu hút khách du lịch lớn nhất của Việt Nam trong 10 tháng đầu năm 2022 

Cập nhật 10 tháng đầu năm 2022

Trong khi Việt Nam mở cửa du lịch trở lại từ ngày 15/3/2022, Trung Quốc tiếp tục áp dụng chính sách Zero COVID-19 trên toàn quốc, hạn chế hoạt động ra nước ngoài. Trong khi sự hồi phục của du khách tới từ các quốc gia khác diễn ra ngay sau đó, du khách Trung Quốc sẽ mất nhiều thời gian hơn để tăng lên do chính sách COVID-19 thận trọng của Trung Quốc. Xung đột giữa Nga-Ukraina cũng tác động tiêu cực tới sự hồi phục của du khách Nga, thường nằm trong top 10 trước dịch COVID-19.

Do cách tiếp cận của mỗi quốc gia để đối phó với COVID-19 là khác nhau, cơ cấu du khách quốc tế trong 10 tháng đầu năm 2022 đã thay đổi đáng kể. Theo đó, Hàn Quốc trở thành thị trường thu hút khách du lịch lớn nhất (từ vị trí thứ 2 trong năm 2019) của Việt Nam, với 26,3% số lượng du khách, đạt 619.619 lượt khách trong 10 tháng đầu năm 2022, tăng 24 lần so với cùng kỳ.

Mỹ là thị trường thu hút du khách thứ hai, (từ thứ 5 trong năm 2019), với 218.175 khách trong 10 tháng đầu năm 2022, tăng 74 lần so với cùng kỳ. Vị trí thứ 3 và 4 lần lượt là Campuchia và Nhật Bản. Trong top 10, chúng tôi nhận thấy phần lớn du khách tới từ các quốc gia trong khu vực ASEAN khác, bao gồm Thái Lan, Singapore và Malaysia.

Trung Quốc đã mất vị trí số một và hiện đứng ở vị trí thứ 9 trong 10 tháng đầu năm 2022 với 92.108 khách (so với 49.066 trong 10 tháng đầu năm 2021). Chúng tôi tin rằng Trung Quốc sẽ nhanh chóng lấy lại thị phần từ năm 2023 trở đi sau khi mở cửa trở lại một phần.

Quy định mới về khung giá nhượng quyền hàng không; tích cực đối với ACV

Bộ Giao thông Vận tải Việt Nam đã ban hành Thông tư số 13/2022/TT-BGTVT vào tháng 6/2022 quy định Khung giá nhượng quyền khai thác dịch vụ hàng không mới. Thông tư này áp dụng đối với:

  • Doanh nghiệp cảng hàng không,
  • Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hàng không tại cảng hàng không, sân bay,
  • Tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến nhượng quyền khai thác dịch vụ hàng không tại cảng hàng không, sân bay.

ACV tính phí nhượng quyền cho các khách hàng bao gồm các Cảng Hàng không Quốc tế Cam Ranh, Cảng Hàng không Quốc tế Đà Nẵng, SCS/TCS/NCT…(Cảng Hàng hóa), SAGS (cung cấp dịch vụ mặt đất), A75, A41,…(sửa chữa & bảo dưỡng máy bay), Skypec và PLX,…(cung cấp nhiên liệu bay),… Trước đây, ACV chủ yếu thu phí khách hàng ở mức tối thiểu trong quy định.

Bảng 7: Tính giá nhượng quyền khai thác đối với các dịch vụ, Việt Nam 

Quy định về việc tính giá nhượng quyền khai thác đối với các dịch vụ:

  • Tính giá theo tỷ lệ % trên doanh thu đối với các mục từ 1 đến mục 5 của Điều này được xác định trên doanh thu (chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng) của doanh nghiệp tham gia cung cấp dịch vụ.
  • Doanh nghiệp cảng hàng không và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hàng không tại cảng hàng không, sân bay thực hiện đàm phán, thương thảo giá dịch vụ trong khung giá quy định.

Trên thực tế, Thông tư này có hiệu lực từ ngày 1/9/2022. Tuy nhiên, tính đến nay, ACV vẫn đang đàm phán với khách hàng về mức phí này. Đối với một số dịch vụ, ACV sẽ áp dụng mức phí dịch vụ cố định trong khung giá. Đối với một số dịch vụ, ACV sẽ áp dụng cơ chế linh hoạt, neo theo sản lượng/doanh thu của khách hàng. Điều này sẽ mang lại nhiều lợi ích kinh tế hơn cho ACV nếu doanh thu của các đối tác tăng trong tương lai.

Tác động đối với ACV và các khách hàng của ACV như sau:

  • ACV là đơn vị duy nhất hưởng lợi từ Thông tư này – nhờ mức phí nhượng quyền khai thác cao hơn. Phí nhượng quyền khai thác thường đóng góp dưới 5% doanh thu của ACV trước dịch COVID-19, chủ yếu đến từ phí nhượng quyền khai thác nhận được từ các cảng hàng không quốc tế DAD và CXR. Do phạm vi khung giá của các dịch vụ này tăng, tỷ trọng đóng góp sẽ cải thiện trong tương lai tùy thuộc vào kết quả đàm phán với khách hàng của ACV.
  • Đối với các khách hàng cung cấp dịch vụ từ 1 đến 7 (Bảng 7) – những công ty này sẽ trả phí nhượng quyền khai thác cao hơn cho ACV, từ đó tác động tiêu cực tới các công ty này. Tuy nhiên, tác động đối với mỗi công ty sẽ khác nhau tùy thuộc vào kết quả đàm phán.

Ví dụ, phí nhượng quyền khai thác của SCS sẽ tăng 8 tỷ đồng trong năm 2023 so với năm 2022 do quy định mới. Đối với SCS, tác động là hạn chế và chỉ chiếm 1% LNTT trong năm 2023.

Tuy nhiên, từ năm 2023 trở đi, chúng tôi tin rằng thu nhập của ACV sẽ tăng nhờ khung phí nhượng quyền khai thác tăng. Chúng tôi chưa có thông tin đầy đủ về thu nhập tăng thêm của ACV từ quy định mới này. Tuy nhiên, chúng tôi hiểu rằng chi phí sẽ được giữ nguyên khi mức giá mới được áp dụng. Theo đó, tất cả doanh thu bổ sung từ các dịch vụ này sẽ trực tiếp đem lại lợi nhuận và hỗ trợ tỷ suất lợi nhuận cho ACV. Chúng tôi sẽ cập nhật tác động của các quy định mới đối với ACV khi có đầy đủ thông tin.

Các hãng hàng không vẫn sẽ đối mặt với nhiều thách thức do giá dầu cao

Giá dầu cao gây áp lực lên các hãng hàng không

Mặc dù doanh thu phục hồi mạnh mẽ nhờ số lượng hành khách cải thiện đáng kể, nhưng giá dầu tăng cao sẽ gây cản trở đáng kể trong việc đạt được mức lợi nhuận trước dịch COVID-19.

Giá dầu nhiên liệu máy bay giao ngay trong Q3/2022 giảm 14% kể từ mức đỉnh vào tháng 6/2022. Tuy nhiên, giá nhiên liệu máy bay hiện nay vẫn ở mức rất cao, khoảng 144 USD/thùng. Trong Q3/2022, giá nhiên liệu bình quân là 143 USD/thùng, tăng 79% so với cùng kỳ và cao hơn 82% so với mức bình quân trong năm 2019 (trước dịch COVID-19). Do nhiên liệu là chi phí hoạt động chính, giá dầu tăng cao đã gây ra những khó khăn nghiêm trọng đối với các hãng hàng không, đặc biệt là khi số lượng hành khách chưa trở lại mức trước dịch COVID-19 do số lượng khách quốc tế thấp.

Biểu đồ 8: Giá dầu nhiên liệu máy bay, USD/thùng 

Tỷ suất lợi nhuận nhiều khả năng sẽ giảm so với quý trước trong Q4/2022

Do giá dầu tăng mạnh, các hãng hàng không đã tăng mạnh giá vé máy bay. Trong Q3/2022, HVN và VJC đã tăng giá vé máy bay bình quân khoảng 21-24% so với mức giá bình quân trong nửa đầu năm 2022 để bù đắp tác động của giá dầu tăng. Giá vé máy bay tăng mạnh trong kỳ nghỉ hè (tháng 6-8) nhờ nhu cầu du lịch nội địa tăng mạnh.

Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy giá vé máy bay đã giảm sau kỳ nghỉ hè, chủ yếu do nhu cầu đi lại bằng đường hàng không giảm. Trên thực tế, tổng số chuyến bay trong tháng 9/2022 đã giảm 14% so với tháng trước khi học sinh trở lại trường học. Theo đó, các hãng hàng không đã cắt giảm giá vé để thúc đẩy doanh thu trước những lo ngại về hiệu suất hoạt động.

Biểu đồ 9: Tổng số chuyến bay, Việt Nam 

Lưu ý, mặc dù nhu cầu trong nước phục hồi mạnh mẽ, nhưng tổng số hành khách trong Q3/2022 và 9 tháng đầu năm 2022 vẫn thấp hơn so với trước đại dịch COVID[1]19 (năm 2019) lần lượt 16% và 31%. Do đó, hiệu suất hoạt động của tàu bay tại Việt Nam trong Q3/2022 vẫn ở mức rất thấp so với mức trước đại dịch và được dự báo sẽ tiếp tục sụt giảm trong Q4/2022 trong mùa thấp điểm. Do đó, nếu giá dầu không giảm trong những tháng tới, tỷ suất lợi nhuận Q4/2022 sẽ thu hẹp so với quý trước do chi phí nhiên liệu tăng, cũng như giá vé máy bay giảm và hiệu suất hoạt động tàu bay giảm.

Các hãng hàng không giá rẻ chiếm lại thị phần

Việt Nam Airlines (VNA) là hãng hàng không cung cấp đầy đủ dịch vụ duy nhất tại Việt Nam. Thị phần của VNA cải thiện đáng kể trong năm 2020-2021. Do dư thừa tàu bay khi nhu cầu giảm mạnh; VNA đã bán vé gần như tương đương với các hãng hàng không giá rẻ. Theo đó, thị phần của VNA cải thiện lên mức bình quân 39% trong các năm 2020-2021 so với 30% trong các năm 2018-2019 (trước dịch Covid).

Tuy nhiên, do giá dầu tăng mạnh, các hãng hàng không đều phải tăng giá vé máy bay. Giá vé máy bay của VNA hiện cao hơn đáng kể so với các hãng hàng không giá rẻ. So với mức giá bình quân trong nửa đầu năm 2022, giá vé máy bay bình quân trong Q3/2022 của VNA tăng 0,4 triệu đồng/khách so với mức tăng 0,26 triệu đồng/khách của VJC. Theo đó, giá vé máy bay bình quân trong Q3/2022 của VNA là 2,3 triệu đồng/khách, cao hơn 48% so với mức giá bình quân của VJC là 1,53 triệu đồng/khách. Giá vé máy bay cao hơn đáng kể khiến thị phần của hãng hàng không quốc gia sụt giảm:

  • Theo ACCV, số lượng chuyến bay của VNA chỉ chiếm 38% tổng số chuyến bay trong Q3/2022 so với 47% trong Q4/2021.
  • Trong khi đó, số lượng chuyến bay của VJC chiếm 36% tổng số chuyến bay trong Q3/2022 so với 27% trong Q4/2021.

Trong Q4/2022, giá vé máy bay của tất cả các hãng hàng không đều giảm nhưng giá vé máy bay của VNA vẫn cao hơn nhiều so với giá vé của các hãng hàng không giá rẻ. Với mức giá vé cao tại một thị trường nhạy cảm về giá như Việt Nam, chúng tôi cho rằng thị phần của VNA sẽ tiếp tục giảm trong thời gian tới. Các hãng hàng không giá rẻ như VJC, Bamboo Airways… nhiều khả năng sẽ giành lại thị phần từ VNA. Do đó, khả năng phục hồi về mức trước đại dịch của VNA sẽ khó khăn hơn so với các hãng hàng không giá rẻ.

Biểu đồ 10: Tỷ trọng số lượng chuyến bay tại Việt Nam 

Sản lượng hàng hóa thấp trong bối cảnh tốc độ tăng trưởng của hoạt động thương mại giảm tốc

Sản lượng hàng hóa hàng không của Việt Nam chịu ảnh hưởng tiêu cực do nhu cầu toàn cầu giảm tốc, đặc biệt là nhu cầu tại các thị trường xuất khẩu chính, bao gồm Mỹ và EU. Theo ACV, sản lượng hàng hóa hàng không quốc tế của Việt Nam chỉ tăng 4% so với cùng kỳ trong Q2/2022 so với mức tăng mạnh 22% so với cùng kỳ trong Q1/2022. Ngoài ra, sản lượng hàng hóa trong Q3/2022 thậm chí còn giảm 10% so với cùng kỳ và giảm 12% so với quý trước xuống 252 triệu tấn.

Điều này chủ yếu do nhu cầu thấp tại Mỹ và EU. Chúng tôi không có số liệu về sản lượng hàng hóa hàng không Việt Nam theo thị trường, nhưng theo số liệu tại sân bay Tân Sơn Nhất (TIA), nhu cầu đã giảm rõ rệt tại các thị trường này. Trong 9 tháng đầu năm 2022, sản lượng hàng hóa hàng không quốc tế tại sân bay TIA đến Bắc Mỹ và EU lần lượt giảm 1% và 8% so với cùng kỳ, trong khi sản lượng hàng hóa hàng không tới Trung Quốc, khu vực Asean, Úc, Hồng Kông và Nhật Bản vẫn tăng so với cùng kỳ. Do Bắc Mỹ và EU chiếm 54% tổng sản lượng hàng hóa, sản lượng hàng hóa tại các thị trường này giảm khiến tổng sản lượng hàng hóa tại TIA chỉ tăng nhẹ 4% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2022 so với mức tăng mạnh 16% so với cùng kỳ trong năm 2021.

Do nhu cầu trầm lắng tại các thị trường xuất khẩu chính, chúng tôi cho rằng triển vọng Q4/2022 của ngành vận tải hàng không Việt Nam sẽ gặp nhiều thách thức. Trên thực tế, nhiều công ty xuất khẩu cho biết, số lượng đơn hàng xuất khẩu trong Q4/2022 giảm mạnh do nhu cầu thấp tại Mỹ và EU. Mùa cao điểm, thường là Q4 hàng năm để chuẩn bị cho các kỳ nghỉ lễ, sẽ khó xảy ra trong Q4/2022 do lượng hàng tồn kho hiện đang ở mức cao và nhu cầu thấp tại các thị trường xuất khẩu chính.

Biểu đồ 11: Sản lượng hàng hóa hàng không của Việt Nam (nghìn tấn) 

Dự báo số lượng hành khách

Trong năm 2022, chúng tôi dự báo số lượng hành khách nội địa sẽ đạt 85,8 triệu khách, mức cao kỷ lục, do nhu cầu bị dồn nén được giải tỏa, chủ yếu trong giai đoạn từ tháng 6-8/2022. Trong năm 2023-2024, số lượng hành khách nội địa được dự báo sẽ tăng trưởng bình thường trở lại lần lượt 7% và 8%, đạt lần lượt 91,8 triệu và 99,1 triệu khách.

Đối với hành khách quốc tế, chúng tôi hiện dự báo số lượng hành khách trong năm 2023 sẽ tăng trưởng 221% đạt 30,5 triệu khách, vẫn thấp hơn 27% so với mức trước dịch COVID-19 do chúng tôi dự báo sẽ cần thêm thời gian để Trung Quốc nới lỏng hoàn toàn các biện pháp phong tỏa. Ngoài ra, hoạt động kinh tế toàn cầu giảm tốc, mặt bằng lãi suất tăng, và giá dầu tăng cao, sẽ tác động tiêu cực tới nhu cầu đi lại hàng không quốc tế. Trong năm 2024, chúng tôi dự báo số lượng hành khách quốc tế sẽ tiếp tục phục hồi đạt 39,3 triệu khách (tăng trưởng 28,6%).

Biểu đồ 12: Sản lượng hàng hóa hàng không quốc tế qua cảng TIA 

Biểu đồ 13: Số lượng hành khách nội địa, Việt Nam 

Biểu đồ 14: Số lượng hành khách quốc tế, Việt Nam 

Từ đó, chúng tôi dự báo hiệu suất hoạt động của các cảng hàng không của ACV sẽ cải thiện dần trong 3 năm tới, đạt 121,9% trong năm 2024, tương đương mức 121,4% trong năm 2019 và cải thiện mạnh so với mức đáy là 26,5% trong năm 2021 khi Việt Nam đóng cửa biên giới và áp dụng các biện pháp phong tỏa toàn quốc.

Biểu đồ 15: Hiệu suất hoạt động của các cảng hàng không, ACV 

Định giá và khuyến nghị

Sau khi phân tích, chúng tôi tin rằng tác động từ việc du khách Trung Quốc quay trở lại và quy định mới về khung giá dịch vụ hàng không sẽ khác nhau đối với từng công ty chúng tôi khuyến nghị. ACV sẽ hưởng lợi nhiều nhất từ những sự kiện này, trong khi SCS sẽ chỉ chịu tác động nhẹ khi phí nhượng quyền khai thác trả cho ACV tăng. Trong khi đó, các hãng hàng không vẫn phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng, chủ yếu do giá nhiên liệu máy bay tăng cao.

ACV (Mua vào, giá mục tiêu là 91.000đ– tiềm năng tăng giá là 20%): Sau khi cập nhật về triển vọng toàn ngành, chúng tôi hiện dự báo lợi nhuận thuần của ACV sẽ tăng trưởng mạnh trong giai đoạn 2022-2024 nhờ hiệu suất hoạt động cải thiện và số lượng hành khách quốc tế tăng mạnh. Theo đó, chúng tôi dự báo tốc độ CAGR lợi nhuận thuần trong 3 năm của ACV sẽ đạt 163%. Lợi nhuận thuần trong năm 2022, 2023 và 2024 được dự báo đạt lần lượt 7.020 tỷ đồng (tăng trưởng 1.363%), 7.902 tỷ đồng (tăng trưởng 12,6%) và 8.690 tỷ đồng (tăng trưởng 10,0%).

ACV đang giao dịch với định giá hấp dẫn với EV/EBITDA dự phóng 2023 là 11,9 lần, tương đương mức trước dịch COVID-19 với P/E trượt dự phóng 1 năm là 23 lần, so với mức bình quân trong quá khứ là 72,2 lần (kể từ tháng 1/2018). Chúng tôi duy trì khuyến nghị Mua vào đối với ACV.

SCS (Tăng tỷ trọng, giá mục tiêu là 84.300đ – tiềm năng tăng giá là 18%): Chúng tôi dự báo lợi nhuận thuần trong năm 2022 sẽ tăng trưởng 12% đạt 630 tỷ đồng. Chúng tôi dự báo lợi nhuận thuần trong Q4/2022 và Q1/2023 sẽ giảm so với cùng kỳ từ mức nền cao do sản lượng Q4/2021 và Q1/2022 tăng mạnh sau giai đoạn phong tỏa. Điều này có thể sẽ tác động tiêu cực tới giá cổ phiếu. Tuy nhiên, chúng tôi dự báo lợi nhuận thuần sẽ phục hồi từ Q2/2023 và khi giá cổ phiếu sụt giảm (nếu có) sẽ là cơ hội tốt để tích lũy cổ phiếu.

Chúng tôi dự báo lợi nhuận thuần trong năm 2023 sẽ tăng trưởng 7% đạt 676 tỷ đồng và lợi nhuận sẽ tăng trưởng mạnh 16% trong năm 2024 đạt 785 tỷ đồng. Chúng tôi cũng kỳ vọng SCS sẽ chi trả cổ tức bằng tiền mặt 5.000đ/cp trong năm 2022 và 2023, tương đương lợi suất cổ tức là 7%. Chúng tôi khuyến nghị Tăng tỷ trọng với giá mục tiêu là 84.300đ.

HVN (Nắm giữ, giá mục tiêu là 10.100đ– tiềm năng tăng giá là 2%): Do giá dầu cao và thị phần giảm, chúng tôi dự báo HVN sẽ tiếp tục lỗ lần lượt 10.788 tỷ đồng và 3.668 tỷ đồng trong năm 2022 và 2023, so với lỗ thuần 12.907 tỷ đồng trong năm 2021. HVN được dự báo sẽ có lợi nhuận trở lại từ năm 2024 đạt 1.102 tỷ đồng. HVN cũng đối mặt với nguy cơ bị hủy niêm yết trên sàn HSX sang sàn UPCoM nếu vốn CSH âm vào cuối năm 2022. Tuy nhiên, HVN đang nỗ lực thoái vốn tại các công ty con để bù đắp cho các khoản lỗ cốt lõi và tránh bị hủy niêm yết. Chúng tôi khuyến nghị Nắm giữ đối với HVN với giá mục tiêu là 10.100đ.

Nguồn: HSC

Tuyên bố miễn trách nhiệm: Báo cáo chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin và nhà đầu tư chỉ nên sử dụng báo cáo phân tích này như một nguồn tham khảo. Dautucophieu.net sẽ không chịu bất kỳ trách nhiệm nào trước nhà đầu tư cũng như đối tượng được nhắc đến trong báo cáo này về những tổn thất có thể xảy ra khi đầu tư hoặc những thông tin sai lệch về doanh nghiệp.

BÌNH LUẬN()

CÁC TIN LIÊN QUAN

Đối tác

Gọi ngay
Messenger
Zalo chát
Mở tài khoản
Góp ý