DANH MỤC

Mobile / Fb / Zalo: 0912 842 224 | 0982 842 224

Kinh tế vĩ mô hàng tháng – Vĩ mô tích cực luôn là yếu tố hỗ trợ thị trường

Lượt xem: 135 - Ngày:
Chia sẻ

Bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam rất hấp dẫn

Kiểm soát dịch COVID-19 xuất sắc đã tạo ra tất cả sự khác biệt khi chúng ta bước vào giai đoạn phục hồi kinh tế vĩ mô toàn cầu. Việt Nam đang hội tụ đủ yếu tố để có triển vọng kinh tế tốt trong năm 2021.

Về mặt số liệu, hoạt động thương mại cập nhật từ Tổng cục Hải quan Việt Nam cho thấy, trong 2 tháng đầu năm 2021, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đều tăng mạnh lần lượt 23,7% và 25,5% so với cùng kỳ lên lần lượt 48,7 tỷ USD và 47,1 tỷ USD, so với mức tăng 9,2% và 3,6% so với cùng kỳ trong 2 tháng đầu năm 2020. Nhờ nhu cầu toàn cầu đang phục hồi vững chắc, chúng tôi cho rằng kết quả thức tế có khả năng cao hơn so với dự báo thương mại năm 2021 của chúng tôi (kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu lần lượt tăng trưởng 8,4% và 7,5%).

Nhu cầu trong nước cũng tăng lên, lần đầu tiên tạo ra áp lực lạm phát phi lương thực kể từ tháng 3/2020. Cụ thể, lạm phát cơ bản đã tăng 0,79% so với mức 0,49% trong ngày tháng 1/2021.

Ngoài ra, giá năng lượng hiện đã tăng tháng thứ 4 liên tiếp, theo đó, bắt đầu gây ra rủi ro lạm phát lớn từ Q2/2021. Nhưng giá thịt lợn ổn định có thể bù đắp phần nào áp lực lạm phát. Do đó, chúng tôi duy trì dự báo lạm phát bình quân năm 2021 ở mức 3,6% từ 3,2% trong năm 2020, từ đó sẽ cho phép NHNN duy trì chính sách tiền tệ phù hợp trong năm nay để hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng 6-6,5% của Chính phủ trong năm 2021.

Biểu đồ 1: Xu hướng chỉ số Kinh tế vĩ mô hàng tháng - Vĩ mô tích cực luôn là yếu tố hỗ trợ thị trường

Nhờ kinh tế vĩ mô mạnh mẽ, Việt Nam sẽ thu hút vốn

Trong bối cảnh những bất ổn vĩ mô toàn cầu liên quan đến dịch COVID-19, các nhà đầu tư đã tiếp tục giảm tỷ trọng đầu tư tại thị trường ASEAN và Hàn Quốc, thể hiện qua dòng vốn rút ròng lũy kế trong 12 tháng. Tuy nhiên, Việt Nam chịu tác động nhẹ hơn cả về giá trị tuyệt đối và tương đối. Kết quả này là hợp lý. Như ông Chris Hunt đã thảo luận trong báo cáo chiến lược thị trường 3 tuần trước (“Mức 1.500 điểm nằm trong tầm ngắm” ngày 22/2/2021; “Không cần phải lo lắng khi thị trường vốn xoay vòng”, ngày 1/3/2021 và “Điểm tựa vĩ mô” ngày 9/3/2021), như Tiến sĩ Lưu Công Thành thảo luận trong Báo cáo thị trường trái phiếu hàng tháng (“Thanh khoản cao kỷ lục và lãi suất về 0%” ngày 21/3/2021) và trong Báo cáo Cập nhật Kinh tế vĩ mô (Tiêu dùng vẫn mạnh mẽ sau kỳ nghỉ Tết, ngày 6/3/2021 và Chiến lược và triển vọng nền kinh tế năm 2021-2022, ngày 24/1/2021), triển vọng kinh tế vĩ mô của Việt Nam năm 2021 vẫn cực kỳ mạnh mẽ.

Với bối cảnh kinh tế vĩ mô mạnh mẽ này và theo báo cáo của ông Chris Hunt, Việt Nam vẫn được định giá hấp dẫn là 14,4 lần – mức P/E dự phóng 2021 thấp hơn 28% so với các nước khác trong khu vực. Khi đó, câu hỏi đặt ra là, liệu bối cảnh kinh tế vĩ mô có giúp thu hút dòng vốn đầu tư hay không và liệu điều này có khiến Việt Nam được định giá lại so với các nước trong khu vực hay không. Chúng tôi nghĩ rằng câu trả lời sẽ là có.

Vẫn còn đó những vấn đề xung quanh cấu trúc vốn của Việt Nam cũng như những câu hỏi xung quanh khả năng tiếp cận của nhà đầu tư đã kìm hãm định giá thị trường trong lịch sử. Mặc dù nằm ngoài khuôn khổ của báo cáo này (các vấn đề này được thảo luận chi tiết trong báo cáo chiến lược của chúng tôi; được đề cập ở trên), HSC cho rằng những yếu tố kìm hãm này sẽ tiếp tục giảm bớt khi các thách thức được giải quyết.

Có thể nói rằng, triển vọng kinh tế vĩ mô của Việt Nam vẫn tuyệt vời, từ đó, củng cố quan điểm thị trường sẽ đạt 1.500 điểm vào cuối năm.

Yếu tố vĩ mô, Việt Nam vượt trội

Chỉ số thị trường của Việt Nam đã tăng 24,8% kể từ tháng 1/2020 đến nay, là thị trường hoạt động tốt thứ ba trong khu vực tính đến thời điểm này. Điều này phản ánh khả năng kiểm soát dịch tuyệt vời của Việt Nam và tác động tích cực của điều này đối với nền kinh tế.

Các thị trường chứng khoán trong khu vực gần đây đã trải qua sự biến động mạnh do hệ quả của dịch COVID-19, những lo ngại xung quanh lạm phát và lợi suất trái phiếu tăng ở Mỹ. Tuy nhiên, trong dài hạn, chúng tôi đánh giá hiệu suất của thị trường chứng khoản phản ánh hiệu quả hoạt động của các nền kinh tế thực.

Các quốc gia có hoạt động kinh tế tồi tệ nhất hoặc phụ thuộc nhiều vào du lịch như Thái Lan (GDP giảm 6,6% trong năm 2020) và Philippines (GDP giảm 9,5% trong năm 2020) cũng chứng kiến hoạt động thị trường chứng khoán rất kém (giảm lần lượt 1,1% và 5,6% kể từ tháng 1/2020) (Bảng 2, 19).

Trong khi các quốc gia quản lý tốt hơn cuộc khủng hoảng COVID-19, từ đó có hiệu quả kinh tế tốt hơn trong năm 2020 (Bảng 19), như Hàn Quốc, Đài Loan và Việt Nam, cũng chứng kiến hoạt động mạnh mẽ của thị trường (Bảng 2).

Biểu đồ 2: Diễn biến chỉ số chứng khoán Kinh tế vĩ mô hàng tháng - Vĩ mô tích cực luôn là yếu tố hỗ trợ thị trường

Biểu đồ 3: Quy mô vốn hóa thị trường Kinh tế vĩ mô hàng tháng - Vĩ mô tích cực luôn là yếu tố hỗ trợ thị trường

Như đã thảo luận trong báo cáo chiến lược thị trường, chúng tôi tin rằng đã đến lúc Việt Nam được đánh giá lại và triển vọng kinh tế vĩ mô củng hộ điều đó. Tháng trước, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 13 của Việt Nam đã đề ra các chủ trương phát triển kinh tế – xã hội trong 5 – 10 năm tới và các kế hoạch dài hạn để hỗ trợ Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045.

Một trong những kế hoạch hành động trọng tâm được đề cập trong các Văn kiện Đại hội là “nâng cao quy mô và hiệu quả hoạt động của thị trường chứng khoán để thị trường chứng khoán phát triển thành kênh huy động vốn chủ yếu cho nền kinh tế”.

Đảng cũng mong muốn đẩy nhanh cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp để hoàn thành việc cơ cấu lại khu vực doanh nghiệp nhà nước vào năm 2025. Điều này sẽ giúp thúc đẩy quy mô và chiều sâu của thị trường chứng khoán (Bảng 4).

Biểu đồ 4: Giá trị vốn hóa thị trường / GDP Kinh tế vĩ mô hàng tháng - Vĩ mô tích cực luôn là yếu tố hỗ trợ thị trường

Vậy hoạt động kinh tế của Việt Nam được so sánh thế nào với các quốc gia tương đồng?

Chúng tôi dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam cho năm 2021 và 2022 lần lượt là 6,9% và 7,0%. Điều đó cho thấy Việt Nam sẽ tiếp tục vượt trội tương đối so với các nước trong khối ASEAN, chủ yếu nhờ động lực tăng trưởng xuất khẩu vẫn còn nguyên vẹn (Bảng 5, 6).

Biểu đồ 5: Tăng trưởng GDP thực (hàng năm) Kinh tế vĩ mô hàng tháng - Vĩ mô tích cực luôn là yếu tố hỗ trợ thị trường

Biểu đồ 6: Tăng trưởng xuất khẩu (y/y %) Kinh tế vĩ mô hàng tháng - Vĩ mô tích cực luôn là yếu tố hỗ trợ thị trường

Việt Nam đang nhanh chóng giành thị phần từ các nhà xuất khẩu ASEAN khác và hiện đang đứng thứ hai trong ASEAN về giá trị xuất khẩu hàng tháng và hàng năm, sau Singapore (Bảng 7). Đồng thời, nhờ xuất khẩu tăng trưởng mạnh, tài khoản vãng lai của Việt Nam đã được củng cố đáng kể kể từ năm 2018 (Bảng 8). 

Biểu đồ 7: Kim ngạch xuất khẩu Kinh tế vĩ mô hàng tháng - Vĩ mô tích cực luôn là yếu tố hỗ trợ thị trường

Biểu đồ 8: Thặng dư tài khoản vãng lai (12 tháng) Kinh tế vĩ mô hàng tháng - Vĩ mô tích cực luôn là yếu tố hỗ trợ thị trường

Tại sao kiểm soát thành công dịch COVID-19 có ý nghĩa quan trọng

Các lựa chọn mà tất cả chính phủ các nước phải đối mặt khi dịch COVID-19 bùng nổ vào năm ngoái là liệu có nên ưu tiên kiểm soát dịch COVID-19 hơn hoạt động của nền kinh tế hay không. Một số ít quốc gia đã thành công trong việc kiểm soát COVID[1]19, chẳng hạn như Việt Nam và Đài Loan đã có hiệu quả kinh tế tốt hơn nhiều.

Chi phí kinh tế khổng lồ liên quan đến đại dịch đã được nghiên cứu trong một bài báo gần đây của David Cutler và Lawrence Summers (Khoa Kinh tế, Đại học Harvard, ngày 12/10/2020, Đại dịch COVID-19 và Virus 16 nghìn tỷ đô la). Theo bài nghiên cứu, tổng chi phí ước tính do dịch COVID-19 tác động tới Mỹ xấp xỉ 16 nghìn tỷ USD, tương đương 75% GDP của Mỹ trong một năm, trong đó, một nửa là do dừng các hoạt động kinh tế, trong khi nửa còn lại phản ánh chi phí tới từ tình trạng người lao động tử vong và suy giảm sức khỏe thể chất và tinh thần.

Theo kết luật của bài nghiên cứu, tác động của dịch COVID-19 gấp 4 lần so với suy thoái sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008. Mở rộng phạm vi ra toàn cầu và tác động dường như sẽ rất lớn.

T5/mắn thay, chúng tôi hiện nhận thấy một cách tiếp cận chặt chẽ hơn nhiều để đối phó với dịch COVID-19 từ chính quyền Tổng thống Biden. Việc triển khai tiêm chủng vắc-xin nhanh chóng đang được thực hiện, chính sách tài khóa và tiền tệ nới lỏng đang được duy trì trên các thị trường phát triển nói chung và gói kích thích tài khóa trị giá 1,9 nghìn tỷ USD đã được Quốc hội thông qua. Sự phục hồi đối với các thị trường phát triển có ý nghĩa quan trọng đối với Việt Nam khi Mỹ và Châu Âu là những thị trường xuất khẩu chính.

Phần thứ hai trong kết luận của Cutler và Summers đưa ra manh mối về lý do tại sao những chính phủ đã nỗ lực bảo vệ tất cả mọi người trong quốc gia của mình, như mục tiêu chính, đã gặt hái được nhiều thành công hơn, không chỉ về mặt kinh tế, mà còn từ khía cạnh nhân đạo.

Về cơ bản, có ý kiến cho rằng tỷ lệ mắc bệnh càng cao thì càng có nhiều người tìm cách bảo vệ bản thân bất kể các phương pháp tiếp cận khác. Do đó, chúng ta có thể kết luận rằng, nếu một chính phủ chịu trách nhiệm và thực hiện các biện pháp bảo vệ hiệu quả cho toàn xã hội, lý tưởng nhất là thông qua việc ngăn chặn hoàn toàn dịch bệnh, thì đây là một kết quả hiệu quả hơn nhiều so với việc mỗi người tự hành động.

Bảng 9 dưới đây cho thấy điều này; nói chung, nếu một chính phủ theo đuổi việc ngăn chặn dịch bệnh thay vì đánh đổi nguy cơ tử vong cao hơn để bảo vệ nền kinh tế, thì sẽ có nhiều khả năng hoạt động tốt hơn ở cả hai khía cạnh. Như Cutler và Summers kết luận, các quốc gia đã hy sinh mạng sống có xu hướng kết thúc với tỷ lệ tử vong cao hơn nhiều và chi phí kinh tế lớn hơn nhiều so với những quốc gia chọn đặt tính mạng của công dân lên trên hết.

Việt Nam là một ví dụ điển hình về một nền kinh tế, khi đang hưởng lợi từ các chính sách tốt của Chính phủ trong việc bảo vệ tính mạng của người dân. Quốc gia sẽ nằm chắc chắn ở góc trên cùng bên phải của biểu đồ bên dưới.

Biểu đồ 9: Tỷ lệ tử vong của các nước Kinh tế vĩ mô hàng tháng - Vĩ mô tích cực luôn là yếu tố hỗ trợ thị trường

Các biện pháp kiểm soát dịch COVID-19 của Việt Nam có ý nghĩa kinh tế rất lớn – quốc gia này đã có thể nới lỏng đáng kể các biện pháp kiểm soát, duy trì nền kinh tế trong nước đồng thời tận dụng được xu hướng phục hồi kinh tế toàn cầu.

Thanh khoản trong nước sẽ tiếp tục duy trì ở mức tương đối cao trong thời gian tới

Các điều kiện thanh khoản sẽ vẫn tốt cho Việt Nam trong tương lai gần và chúng tôi dự báo rằng mặc dù chạm đáy (Bảng 10 và 11), lãi suất thị trường tiền tệ và lợi suất trái phiếu trong năm 2021 sẽ thấp hơn đáng kể mức bình quân lịch sử.

Biểu đồ 10: Lãi suất thị trường tiền tệ (%) Kinh tế vĩ mô hàng tháng - Vĩ mô tích cực luôn là yếu tố hỗ trợ thị trường

Biểu đồ 11: Lợi suất trái phiếu Chính phủ Kinh tế vĩ mô hàng tháng - Vĩ mô tích cực luôn là yếu tố hỗ trợ thị trường

Sự sụt giảm này là kết quả của tình trạng dư thừa thanh khoản, phản ánh tăng trưởng tín dụng trầm lắng trong phần lớn năm 2020. Trong 9 tháng đầu năm 2020, tăng trưởng tín dụng chỉ tăng 6,1% so với cùng kỳ, do các doanh nghiệp ngần ngại trong việc mở rộng đầu tư trong bối cảnh không chắc chắn liên quan đến dịch COVID-19.

Ngoài ra, thanh khoản của VND được hỗ trợ bởi việc NHNN mua vào USD, tăng dự trữ ngoại hối lên khoảng 98 tỷ USD trong năm 2020 (Mời xem: Mục tiêu tăng trưởng GDP của Chính phủ Việt Nam năm 2020 là 2,0%-2,5%, ngày 4/9/2020, theo Reuters), hàm ý có một khoản VND đáng kể được bơm vào hệ thống.

Trong bối cảnh dự báo tăng trưởng mạnh hơn cho năm 2021, NHNN đang đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2021 là 12%, bằng với tốc độ tăng trưởng đạt được vào năm 2020, theo Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú, theo báo Nhân Dân (Mời xem: Ngân hàng Trung ương đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng 12% vào năm 2021, ngày 8/1/2021, en.nhandan.org.vn).

Đây là một mục tiêu hợp lý; sẽ tiếp tục hỗ trợ thanh khoản nhưng giảm bớt áp lực đối với tỷ lệ cho vay trên tiền gửi (LDR) của hệ thống ngân hàng. Sẽ không có áp lực tăng đáng kể so với mức hiện tại (72,4% tính đến tháng 10/2020, theo website của NHNN).

Tính thanh khoản cao trên thị trường liên ngân hàng trong bối cảnh lãi suất thấp cũng có tương quan lớn với thanh khoản trên cả thị trường trái phiếu và thị trường cổ phiếu (Bảng 12 và 13). Động lực này, theo quan điểm của chúng tôi, sẽ không thay đổi do lạm phát nhiều khả năng sẽ được kiểm soát ở mức dưới 4% (chúng tôi dự báo lạm phát năm 2021 là 3,6% so với 3,2% trong năm 2020), do đó sẽ cho phép NHNN duy trì chính sách tiền tệ phù hợp trong năm nay để hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng 6-6,5% của Chính phủ trong năm 2021.

Biểu đồ 12: Hoạt động thị trường mở (OMO) và lãi suất thị trường tiền tệ Kinh tế vĩ mô hàng tháng - Vĩ mô tích cực luôn là yếu tố hỗ trợ thị trường

Biểu đồ 13: Thanh khoản thị trường chứng khoán Kinh tế vĩ mô hàng tháng - Vĩ mô tích cực luôn là yếu tố hỗ trợ thị trường

Kinh tế vĩ mô khả quan sẽ thu hút vốn đầu tư nước ngoài

Tại thời điểm viết báo cáo này, chỉ số VN-Index tiếp tục chật vật vượt qua mốc 1.200 điểm. Như chúng tôi đã luôn đề cập trong các báo cáo chiến lược thị trường, sự bất ổn đang và sẽ tiếp tục là một yếu tố ngắn hạn của thị trường chứng khoán.

Tuy nhiên, trong dài hạn, các yếu tố cơ bản sẽ tự khẳng định, chủ yếu nhờ triển vọng kinh tế vĩ mô tuyệt vời của Việt Nam – Việt Nam được hưởng lợi từ nền kinh tế đang phục hồi của Mỹ, tiêu dùng nội địa mạnh, triển vọng FDI và hoạt động thương mại vững chắc, điều kiện tiền tệ rất thuận lợi, tỷ giá được kiểm soát và chương trình đầu tư công bền vững của Chính phủ. Các yếu tố khác bao gồm vị thế dự trữ ngoại hối vững chắc, tỷ lệ nợ nước ngoài thấp và cách tiếp cận thận trọng đối với thâm hụt ngân sách.

Vì vậy, kết hợp tình hình kinh tế vĩ mô với triển vọng lợi nhuận doanh nghiệp khả quan và ổn định cùng với nỗ lực cải thiện khả năng tiếp cận thị trường chứng khoán và đáng ngạc nhiên là P/E thị trường hiện tại (18 lần, Bloomberg) vẫn thấp hơn 17% so với mức cao nhất năm 2018 (21,9 lần, Bloomberg) (Bảng 14) và vẫn thấp hơn nhiều so với các chỉ số chính khác của các quốc gia trong khu vực (Bảng 15).

Biểu đồ 14: VN-Index và P/E Kinh tế vĩ mô hàng tháng - Vĩ mô tích cực luôn là yếu tố hỗ trợ thị trường

Biểu đồ 15: P/E của thị trường khu vực Châu Á – TBD Kinh tế vĩ mô hàng tháng - Vĩ mô tích cực luôn là yếu tố hỗ trợ thị trường

Mặc dù là một trong những thị trường hoạt động tốt nhất kể từ tháng 1/2020 (Bảng 2), định giá vẫn không cao và như trong báo cáo chiến lược thị trường, chúng tôi kỳ vọng lợi nhuận sẽ tăng đáng kể trong những tháng tới, khi kinh tế phục hồi.

P/E trượt 12 tháng của Việt Nam vẫn thấp hơn nhiều so với các chỉ số chính khác trong khu vực (Bảng 15). P/E trượt của Việt Nam thấp hơn 20% so với thị trường chứng khoán Malaysia và Đài Loan và thấp hơn khoảng 46% so với P/E của thị trường Indonesia và Thái Lan. Tuy nhiên, như chúng tôi đã thảo luận, vị thế nền kinh tế của Việt Nam tốt hơn nhiều so với tất cả các quốc gia khác, ngoại trừ có thể là Đài Loan.

Biểu đồ 16: Mua ròng của khối ngoại (12 tháng) (triệu USD) Kinh tế vĩ mô hàng tháng - Vĩ mô tích cực luôn là yếu tố hỗ trợ thị trường

Biểu đồ 17: Mua ròng của khối ngoại (12 tháng) so với vốn hóa thị trường Kinh tế vĩ mô hàng tháng - Vĩ mô tích cực luôn là yếu tố hỗ trợ thị trường

Trong khi Việt Nam và các thị trường mới nổi của khu vực ASEAN đã bị rút ròng lũy kế đáng kể trong 12 tháng, thì dòng ra khỏi Việt Nam là thấp nhất, cả về giá trị tuyệt đối và tương đối. Số liệu lũy kế 12 tháng tính đến tháng 2/2021 cho thấy mức dòng vốn đầu tư bị rút đối với Việt Nam là thấp nhất (0,8 tỷ USD), so với sở giao dịch chứng khoán Jakarta (2,1 tỷ USD), sở giao dịch chứng khoán Philippines (2,7 tỷ USD), Bursa Malaysia (5,7 tỷ USD), sở giao dịch chứng khoán Thái Lan (7,4 tỷ USD), và sở giao dịch Hàn Quốc (24,1 tỷ USD) (Bảng 16). Mức độ của dòng vốn bị rút cũng thấp nhất đối với dòng vốn nước ngoài rút ròng (trong 12 tháng) tính theo phần trăm vốn hóa thị trường chứng khoán (Bảng 17).

Biểu đồ 18: USD so với đồng tiền các nước khu vực châu Á – TBD Kinh tế vĩ mô hàng tháng - Vĩ mô tích cực luôn là yếu tố hỗ trợ thị trường

Biểu đồ 19: Tăng trưởng GDP Kinh tế vĩ mô hàng tháng - Vĩ mô tích cực luôn là yếu tố hỗ trợ thị trường

Tất nhiên, nhờ có mức nền thấp của giá trị dòng tiền rút, chúng ta chắc chắn có thể kỳ vọng nhà đầu tư nước ngoài sẽ quay trở lại với quy mô lớn trong những tháng tới với tất cả những lý do mà chúng ta đã thảo luận trong các báo cáo chiến lược và kinh tế của HSC. Ở góc độ vĩ mô, mục tiêu chỉ số đạt 1.500 điểm của chúng tôi vẫn hoàn toàn khả thi.

Do các hạn chế giao dịch do NHNN áp dụng trên thị trường ngoại hối (IMF đã phân loại cơ chế tỷ giá hối đoái của Việt Nam là “cơ chế ổn định”, (Mời xem: Báo cáo thường niên về thu xếp hối đoái và hạn chế hối đoái, năm 2020, IMF), chúng tôi dự báo tỷ giá USD/VND sẽ chỉ biến động nhẹ so với các quốc gia khác như trong Bảng 18. Điều này giảm thiểu rủi ro tỷ giá đối với nhà đầu tư nước ngoài, thêm một lý do để cảm thấy tin tưởng vào chiến lược thị trường.

Kết luận, với nền tảng kinh tế vĩ mô vững chắc của Việt Nam, định giá rẻ và tỷ giá ổn định khi so sánh với các đồng tiền khác trong khu vực, Việt Nam tương đối hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài, trong cơ sở khu vực, trong năm 2021 (Bảng 20).

Bảng 20: Độ nhạy với những thay đổi trong giả định tăng trưởng P/E và EPS Kinh tế vĩ mô hàng tháng - Vĩ mô tích cực luôn là yếu tố hỗ trợ thị trường

Cập nhật số liệu kinh tế vĩ mô

Cả hoạt động sản xuất và thương mại, cũng như di chuyển, đều giảm trong tháng hai. Điều này phần lớn do ảnh hưởng của kỳ nghỉ Tết kéo dài một tuần và thắt chặt các biện pháp giãn cách và hạn chế đi lại trong bối cảnh làn sóng thứ ba của dịch COVID-19 mà hiện đã được kiểm soát phần lớn. Kim ngạch xuất khẩu giảm 3,8% so với cùng kỳ trong tháng 2/2021, giá trị sản xuất công nghiệp giảm 7,2% so với cùng kỳ và đầu tư công giảm 3,1% so với cùng kỳ. Lạm phát tăng 0,7% so với cùng kỳ, do lạm phát lương thực, thực phẩm, năng lượng tăng cao và EVN chấm dứt điều chỉnh giá điện hỗ trợ doanh nghiệp. Về mặt tích cực, mặc dù dịch COVID-19 bùng phát gần đây, doanh số bán lẻ hàng hóa và dịch vụ vẫn khá ổn định, tăng 8,2% so với cùng kỳ. Chỉ số PMI tăng lên 51,6 trong tháng 2/2021 từ 51,3 trong tháng 1/2021, phản ánh các điều kiện kinh doanh khu vực sản xuất được cải thiện trong tháng thứ 3 liên tiếp. Trong 2 tháng đầu năm 2021, cả kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu đều tăng mạnh lần lượt 23,7% và 25,5% so với cùng kỳ lên lần lượt 48,7 tỷ USD và 47,1 tỷ USD, so với tăng lần lượt 9,2% và 3,6% so với cùng kỳ trong 2 tháng đầu năm 2020.

Lạm phát

Lạm phát cơ bản tăng lần đầu kể từ tháng 3/2020

Trong tháng 2/2021, lạm phát tổng thể lần đầu tăng kể từ tháng 7/2020 lên 0,70% so với cùng kỳ từ mức giảm 0,97% so với cùng kỳ trong tháng 1/2021 (Bảng 2). Nguyên nhân chủ yếu do lạm phát nhóm lương thực, thực phẩm tăng (tăng 2,39% so với cùng kỳ so với tăng 1,03% so với cùng kỳ trong tháng 1/2021) và giá nhà ở và vật liệu xây dựng (tăng 0,33% so với cùng kỳ so với giảm 3,55% so với cùng kỳ trong tháng 1/2021). Nguyên nhân cuối cùng một phần được thúc đẩy do EVN dừng điều chỉnh giá điện để hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi COVID-19.

Với sự phục hồi mạnh mẽ của giá năng lượng, giá xăng dầu điều chỉnh tăng lần thứ 6 liên tiếp trong tháng 2/2021 (vào ngày 25/2/2021). Mặc dù chi phí giao thông vẫn giảm 6,55% so với cùng kỳ (so với giảm 10,27% so với cùng kỳ trong tháng 1/2021), giá năng lượng hiện đã tăng tháng thứ 4 liên tiếp, theo đó, bắt đầu gây ra rủi ro lạm phát lớn trong Q2/2021.

Đồng thời, nhu cầu trong nước tăng lên, dẫn đến lạm phát phi lương thực lần đầu tiên tăng kể từ tháng 3/2020. Cụ thể, lạm phát cơ bản đã tăng 0,79% so với cùng kỳ so với tăng 0,49% so với cùng kỳ trong tháng 1/2021. Đối với năm 2021, chúng tôi dự báo lạm phát bình quân tăng lên 3,60% từ 3,23% trong năm 2020.

Biểu đồ 21: Lạm phát tổng thể Kinh tế vĩ mô hàng tháng - Vĩ mô tích cực luôn là yếu tố hỗ trợ thị trường

Giá trị sản xuất công nghiệp

Hoạt động từ đầu năm mạnh mẽ hơn so với cùng kỳ

Đúng như dự báo, giá trị sản xuất công nghiệp chậm lại so với cùng kỳ (giảm 7,2% so với cùng kỳ so với tăng 22,2% so với cùng kỳ trong tháng 1/2021) chủ yếu do kỳ nghỉ Tết Nguyên đán ngày 10-16/2/2021 so với ngày 23-29/1/2020. Mặc dù vậy, nếu không tính hiệu ứng mùa vụ, giá trị sản xuất công nghiệp vẫn vững chắc, tăng 7,4% so với cùng kỳ trong 2 tháng đầu năm 2021 so với tăng 6,2% so với cùng kỳ trong 2 tháng đầu năm 2020.

Chỉ số công nghiệp chế biến & chế tạo giảm 5,8% so với cùng kỳ trong tháng 2/2021 (so với tăng 27,2% so với cùng kỳ trong tháng 1/2021) và giảm 23,1% so với tháng trước (so với giảm 3,1% so với tháng trước trong tháng 1/2021). Tuy nhiên, chỉ số PMI bất ngờ tăng lên 51,6 trong tháng 2/2021 từ mức 51,3 trong tháng 1/2021, cho thấy điều kiện kinh doanh khu vực sản xuất cải thiện nhẹ trong trong tháng thứ 3 liên tiếp. (Bảng 22).

Biểu đồ 22: Chỉ số PMI và chỉ số ngành công nghiệp chế biến chế tạo Kinh tế vĩ mô hàng tháng - Vĩ mô tích cực luôn là yếu tố hỗ trợ thị trường

Mặc dù tháng 2/2021 có ít hơn 8 ngày làm việc so với tháng 2/2020, trong số các phân ngành sản xuất chính, một số phân ngành vẫn tăng trưởng như thiết bị truyền thông (tăng 5,7% so với cùng kỳ) và điện tử tiêu dùng (tăng 3,9% so với cùng kỳ). Cả 2 phân ngành đều ghi nhận mức tăng trưởng (Bảng 4).

Biểu đồ 23: Động lực chính thúc đẩy ngành công nghiệp chế biến chế tạo Kinh tế vĩ mô hàng tháng - Vĩ mô tích cực luôn là yếu tố hỗ trợ thị trường

Trong 2 tháng đầu năm 2021, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 7,4% so với cùng kỳ (so với tăng 6,2% so với cùng kỳ trong 2 tháng đầu năm 2020) và ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 10,4% so với cùng kỳ (so với tăng 7,4% so với cùng kỳ trong 2 tháng đầu năm 2020).

Hoạt động thương mại

Hoạt động dịu lại do kỳ nghỉ Tết Âm lịch

Kim ngạch xuất khẩu tháng 2/2021 điều chỉnh tăng lên tăng 3,8% so với cùng kỳ (từ giảm 4,7% so với cùng kỳ) so với tăng 55,1% so với cùng kỳ trong tháng 1/2021 và giảm 29,3% so với tháng trước (so với tăng 3,2% so với tháng trước trong tháng 1/2021) (Bảng 24). Đây là lần đầu kim ngạch xuất khẩu thu hẹp kể từ tháng 5/2020 và do thời điểm của kỳ nghỉ Tết.

Nguyên nhân chính khiến hoạt động xuất khẩu sụt giảm là điện thoại các loại (giảm 24,5%), giày dép (giảm 11,4%), hàng dệt/5/20(giảm 18,9%) và sản phẩm thủy sản (giảm 21,8% so với cùng kỳ). Các sản phẩm chủ lực khác vẫn tăng trưởng mạnh, bao gồm máy tính và sản phẩm điện tử (tăng 22,6% so với cùng kỳ), máy móc & thiết bị (tăng 39,9% so với cùng kỳ), sắt thép (tăng 40,2% so với cùng kỳ) và nhựa (tăng 35,4% so với cùng kỳ). Chúng tôi cũng ghi nhận tăng trưởng ấn tượng kim ngạch các mặt hàng về nông lâm thủy sản (NLTS): Gỗ và sản phẩm từ gỗ (tăng 18,7% so với cùng kỳ), và cao su (tăng 52,8% so với cùng kỳ) là những lĩnh vực có nhu cầu xuất khẩu cao.

Biểu đồ 24: Đóng góp vào tăng trưởng xuất khẩu Kinh tế vĩ mô hàng tháng - Vĩ mô tích cực luôn là yếu tố hỗ trợ thị trường

Biểu đồ 25: Đóng góp vào tăng trưởng nhập khẩu Kinh tế vĩ mô hàng tháng - Vĩ mô tích cực luôn là yếu tố hỗ trợ thị trường

Trong khi đó, tăng trưởng nhập khẩu trong tháng 2/2021 điều chỉnh giảm xuống tăng 9,7% so với cùng kỳ (từ tăng 10,5% so với cùng kỳ) so với tăng 41,3% so với cùng kỳ trong tháng 1/2021, đánh dấu tháng thứ 7 liên tiếp kim ngạch nhập khẩu tăng trưởng, nhưng đã giảm 21,9% so với tháng trước (so với giảm 5,2% so với tháng trước trong tháng 1/2021) (Bảng 25). Điều này phản ánh nhu cầu đầu vào mạnh mẽ, cho thấy hoạt động thương mại có thể phục hồi đáng kể trong những tháng tới.

Các yếu tố thúc đẩy tăng trưởng chính là điện thoại các loại (tăng 31,7% so với cùng kỳ), máy tính và sản phẩm điện tử (tăng 8,7% so với cùng kỳ), máy móc & thiết bị (tăng 21,0% so với cùng kỳ), vải (tăng 9,7% so với cùng kỳ), sản phẩm nhựa (tăng 8,0% so với cùng kỳ), sắt thép (tăng 17,6% so với cùng kỳ) và cao su (tăng 126,5% so với cùng kỳ).

Trong 2 tháng đầu năm 2021, kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam tăng mạnh lần lượt 23,7% và 25,5% so với cùng kỳ đạt lần lượt 48,7 tỷ USD và 47,1 tỷ USD, so với tăng lần lượt 9,2% và 3,6% so với cùng kỳ trong 2 tháng đầu năm 2020.

Trong tháng 2/2021, Việt Nam ghi nhận mức thâm hụt thương mại 460,2 triệu USD, kéo thặng dư thương mại trong 2 tháng đầu năm 2021 xuống còn 1,6 tỷ USD so với mức thặng dư 1,8 tỷ USD trong 2 tháng đầu năm 2020. Trong năm 2021, chúng tôi kỳ vọng Việt Nam sẽ đạt thặng dư 24 tỷ USD so với 20 tỷ USD trong năm 2020. Chúng tôi giữ nguyên dự báo tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu năm 2021 lần lượt 8,4% và 7,5%. Trong năm 2022 và 2023, chúng tôi dự báo kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng lần lượt 12,7% và 13,0%, và kim ngạch nhập khẩu tăng trưởng lần lượt 13,2% và 14,0%.

Hoạt động đầu tư

FDI thực hiện tăng nhẹ nhưng đầu tư công chậm lại so với cùng kỳ

Trong tháng 2/2021, FDI cam kết và thực hiện ước tính đạt lần lượt 5,5 tỷ USD (giảm 15,6% so với cùng kỳ) và 2,5 tỷ USD (tăng 2,0% so với cùng kỳ).

Về FDI cam kết, ngành chế biến & chế tạo (3,0 tỷ USD) chiếm 55,7%, ngành BĐS (485 triệu USD) chiếm 8,9% và ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt (1,4 tỷ USD) chiếm 26,5% (Bảng 26).

Hạn chế di chuyển tiếp tục cản trở các NĐT trong việc ra quyết định đầu tư mới. Vốn FDI đăng ký mới giảm 33,9% so với cùng kỳ và góp vốn cổ phần giảm 34,4% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, vốn bổ sung vào các dự án hiện hữu tăng 151,8% so với cùng kỳ, phần lớn nhờ khoản đầu tư bổ sung 750 triệu USD vào dự án LG Display Hải Phòng vào tháng 2/2021 (Mời xem: Đầu tư thêm 3,25 tỷ USD vào LG Display Việt Nam, ngày 9/2/2021, VnExpress).

Chúng tôi kỳ vọng vốn FDI giải ngân cam kết sẽ tăng trưởng lần lượt 5,2% và 12,8% trong năm 2021, với triển vọng thương mại toàn cầu sáng sủa hơn (tăng trưởng 8,3%) và kinh tế (tăng trưởng 5,2%).

Hoạt động xây dựng sử dụng vốn đầu tư công chậm lại trước và sau Tết. Đầu tư công đạt 17,7 nghìn tỷ đồng trong tháng 1/2021 (giảm 3,1% so với cùng kỳ và giảm 23,3% so với tháng trước) (Bảng 8). Tính từ đầu năm, đầu tư công đạt 9,0% kế hoạch năm 2021 của Chính phủ (477,3 nghìn tỷ đồng).

Đồng thời, thặng dư ngân sách đạt 72,1 nghìn tỷ đồng tính đến ngày 15/2/2021, so với thâm hụt 343,7 nghìn tỷ đồng trong kế hoạch năm 2021 (Quyết định 1927 của Bộ Tài chính).

Biểu đồ 26: Vốn FDI cam kết theo ngành Kinh tế vĩ mô hàng tháng - Vĩ mô tích cực luôn là yếu tố hỗ trợ thị trường

Biểu đồ 27: Vốn đầu tư sử dụng ngân sách nhà nước Kinh tế vĩ mô hàng tháng - Vĩ mô tích cực luôn là yếu tố hỗ trợ thị trường

Doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ

Nhu cầu tiêu dùng vẫn tích cực dù trải qua làn sóng thứ 3 của dịch COVID-19

Trong tháng 2/2021, doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ đạt 479,9 nghìn tỷ đồng, tăng 8,2% so với cùng kỳ và giảm 5,4% so với tháng trước, đưa doanh số bán lẻ lũy kế lên 904,5 nghìn tỷ đồng trong 2 tháng đầu năm 2021 (tăng 5,5% so với cùng kỳ, so với tăng 8,3% so với cùng kỳ trong 2 tháng đầu năm 2020). (Bảng 9). Đối với năm 2021, chúng tôi dự báo doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ sẽ phục hồi 6,8% từ mức đáy lịch sử là tăng trưởng 2,6% trong năm 2020.

Doanh số bán lẻ hàng hóa (354,5 nghìn tỷ đồng) tăng trưởng mạnh mẽ, tăng mạnh 10,5% so với cùng kỳ. Kết quả này bị bù trừ một phần do doanh số bán lẻ dịch vụ lưu trú và ăn uống (41,5 nghìn tỷ đồng, giảm 0,1% so với cùng kỳ) và doanh số bán lẻ dịch vụ du lịch lữ hành (915 tỷ đồng, giảm 60,8% so với cùng kỳ) sụt giảm.

Theo đó, nhu cầu đối với hàng hóa tiêu dùng nói chung vẫn tương đối cao – các hạn chế xã hội được áp dụng gần đây đã làm tổn hại đến nhu cầu dịch vụ, từ đó tác động tiêu cực đến doanh số bán lẻ liên quan đến dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch. Di chuyển trong nước giảm 14,7% so với cùng kỳ và giảm 9,9% so với tháng trước trong tháng 2/2021 (Bảng 29).

Lượng khách du lịch quốc tế tiếp tục giảm đáng kể trong 2/2021 (11,0 nghìn, giảm 99,1% so với cùng kỳ; khách đến chủ yếu là chuyên gia nước ngoài và lao động có tay nghề cao).

Trung Quốc (3,0 nghìn lượt, giảm 98,4% so với cùng kỳ), Hàn Quốc (2,7 nghìn lượt, giảm 99,2% so với cùng kỳ), Nhật Bản (775 lượt, giảm 99,0% so với cùng kỳ), Mỹ (404 lượt, giảm 99,5% so với cùng kỳ), và Châu Âu (1,4 nghìn lượt, giảm 99,4% so với cùng kỳ) hầu như không có khách du lịch đến Việt Nam trong tháng 2/2021.

Trong 2 tháng đầu năm 2021, tổng lượng khách du lịch là 28,7 nghìn (hầu như không thay đổi kể từ tháng 4/2020), giảm 99,1% so với cùng kỳ (so với tăng 4,8% so với cùng kỳ trong 2 tháng đầu năm 2020).

Biểu đồ 28: Doanh số bán lẻ hàng hóa, dịch vụ hàng tháng Kinh tế vĩ mô hàng tháng - Vĩ mô tích cực luôn là yếu tố hỗ trợ thị trường

Biểu đồ 29: Lưu lượng khách trong nước hàng tháng Kinh tế vĩ mô hàng tháng - Vĩ mô tích cực luôn là yếu tố hỗ trợ thị trường

Dự báo kinh tế vĩ mô của HSC Kinh tế vĩ mô hàng tháng - Vĩ mô tích cực luôn là yếu tố hỗ trợ thị trường

Lịch sự kiện kinh tế quan trọng Kinh tế vĩ mô hàng tháng - Vĩ mô tích cực luôn là yếu tố hỗ trợ thị trường

Cổ phiếu HSC phân tích, đánh giá Kinh tế vĩ mô hàng tháng - Vĩ mô tích cực luôn là yếu tố hỗ trợ thị trường

Nguồn: HSC

BÌNH LUẬN()

CÁC TIN LIÊN QUAN

Đối tác

Gọi ngay
Messenger
Zalo chát
Mở tài khoản
Góp ý