DANH MỤC

Mobile / Zalo: 0989 490 980

Kinh tế vĩ mô hàng tháng – Nền kinh tế Việt Nam ổn định trước tình hình đồng VND suy yếu nhẹ

Lượt xem: 1,272 - Ngày:

Đồng VND được dự báo suy yếu nhẹ

Triển vọng của đồng VND suy yếu do một vài yếu tố. Thứ nhất, chỉ số Dollar Index (DXY) – phản ánh sức mạnh của đồng USD so với tiền tệ của các đối tác thương mại – đã tăng lên mức cao nhất kể từ tháng 6/2002. Thứ hai, dù môi trường lạm phát thấp, đồng CNY (RMB) của Trung Quốc vẫn đang suy yếu do áp dụng lãi suất chính sách thấp nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh Trung Quốc thực hiện các biện pháp phong toả do dịch COVID-19 và củng cố niềm tin vào thị trường BĐS. Chúng tôi nhận thấy mối tương quan giữa biến động trong tỷ giá USD/VND và USD/RMB cao hơn so với thay đổi của chỉ số DXY, cho thấy đồng VND sẽ tiếp tục giảm nếu tỷ giá RMB/USD tiếp tục suy yếu. HSC nâng bình quân 1,3% dự báo tỷ giá USD/VND vào cuối năm cho giai đoạn 2022-2024.

Ngân hàng: Tác động của việc tăng lãi suất chính sách phần lớn có thể được chuyển sang cho khách hàng

Theo HSC, việc nâng trần lãi suất huy động ngắn hạn gần đây sẽ tác động đến các ngân hàng nhiều hơn so với các thay đổi lãi suất chính sách khác, giúp cải thiện thanh khoản ngân hàng và giảm bớt áp lực trên thị trường liên ngân hàng. Chúng tôi ước tính việc tăng lãi suất chính sách sẽ làm tăng chi phí huy động vốn (COF) của các ngân hàng thương mại thêm 50 điểm cơ bản trong Q4/2022 so với mức hiện tại, đưa mức tăng trưởng trong năm 2022 lên 80 điểm cơ bản sau khi tăng khoảng 30 điểm cơ bản so với quý trước trong Q3/2022. Tuy nhiên, chúng tôi kỳ vọng phần lớn các ngân hàng có thể chuyển chi phí gia tăng này sang cho khách hàng vay do nhu cầu tín dụng vẫn cao và tăng trưởng tín dụng được kiểm soát. Theo HSC, hệ số NIM trung bình của các ngân hàng chúng tôi khuyến nghị sẽ duy trì ở mức 3,9% trong năm 2022.

Dự báo tăng trưởng kinh tế: Nâng dự báo năm 2022, duy trì dự báo năm 2023-2024

Xu hướng chung của nền kinh tế Việt Nam đã cải thiện trong Q3/2022, nhờ tiêu dùng đặc biệt mạnh mẽ (doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ ước tính tăng 50% so với cùng kỳ), hoạt động thương mại ổn định (KNXK và KNNK lần lượt tăng 16% và 8% so với cùng kỳ) và giá trị sản xuất công nghiệp tăng (có thể hơn 13% so với cùng kỳ). Theo mô hình hồi quy của chúng tôi, tăng trưởng GDP trong Q3/2022 có thể đạt 11,8% so với cùng kỳ (tăng từ mức 9,5% so với cùng kỳ trước đó), theo đó tăng trưởng GDP cả năm đạt 7,55% (tăng từ mức 6,84% trước đó). HSC duy trì dự báo tăng trưởng GDP năm 2023 và 2024 lần lượt đạt 6,7% và 6,5% nhờ tài khoản vãng lai được kỳ vọng sẽ cải thiện khi giá dầu giảm.

Bảng 1: Xu hướng của các chỉ số kinh tế 

Khả năng phục hồi kinh tế trong bối cảnh bất ổn gia tăng

Chúng tôi dự báo nền kinh tế Việt Nam sẽ vượt qua được những bất ổn trên toàn cầu hiện nay; trên thực tế, chúng tôi nâng dự báo tăng trưởng GDP năm 2022 và duy trì dự báo cho năm 2023-2024, nhờ ngành ngân hàng có khả năng phục hồi và số dư tài khoản vãng lai được kỳ vọng sẽ cải thiện khi triển vọng giá năng lượng giảm. Tuy nhiên, chúng tôi dự báo giá VND sẽ giảm nhẹ dù có áp lực tăng lãi suất sau khi dự báo đồng USD mạnh lên và đồng CNY yếu đi (Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam về nhập khẩu).

Đồng VND nhiều khả năng tiếp tục suy yếu

Triển vọng của đồng VND kém khả quan hơn sau các biến động về tiền tệ: chỉ số USD (DXY) – phản ánh sức mạnh của đồng USD so với tiền tệ của các đối tác thương mại – đã tăng lên mức cao nhất kể từ tháng 6/2002 (Bảng 2) và chưa cho thấy dấu hiệu dừng lại. Nguyên nhân là do áp lực lạm phát kéo dài ở Mỹ, cho thấy Fed có thể tăng lãi suất chính sách lên trên 4,5% trong chu kỳ tăng lãi suất này và duy trì ở mức cao cho đến năm 2023, theo kỳ vọng của nhà đầu tư dựa trên các hợp đồng tương lai đối với lãi suất của Fed (Bảng 3).

Biểu đồ 2: Chỉ số Dollar Index và CPI của Mỹ 

Biểu đồ 3: Lãi suất chính sách của Fed (dựa trên các hợp đồng tương la) 

Biểu đồ 4: Nhân dân tệ & USD và CPI của Trung Quốc 

Biểu đồ 5: % sự thay đổi của các đồng tiền so với USD tính từ đầu năm 

Tại Trung Quốc, dù môi trường lạm phát thấp, đồng RMB của Trung Quốc vẫn đang suy yếu do áp dụng lãi suất chính sách thấp nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh Trung Quốc thực hiện các biện pháp phong toả do dịch COVID-19 và củng cố niềm tin vào thị trường BĐS (Bảng 4). Trong tháng này, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC) đã giữ nguyên lãi suất chính sách sát với dự báo, sau khi cắt giảm lãi suất cơ bản (LPRs) kỳ hạn 1 năm và 5 năm lần thứ 2 và 3 trong năm nay.

Tính từ đầu năm, VND là đồng tiền ổn định nhất trong số các đối tác thương mại chính (Bảng 5), chỉ giảm 3,9% giá trị so với đồng USD. Tuy nhiên, điều này dự báo khả năng đồng VND sẽ tiếp tục giảm giá để duy trì lợi thế tương đối trong xuất khẩu.

Chúng tôi nhận thấy mối tương quan giữa biến động trong tỷ giá USD/VND và USD/RMB cao hơn so với thay đổi của chỉ số DXY (Bảng 6), cho thấy đồng VND sẽ tiếp tục chịu áp lực giảm giá nếu tỷ giá RMB/USD tiếp tục suy yếu. Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam về nhập khẩu, do đó Việt Nam liên tục ghi nhận thâm hụt thương mại lớn với Trung Quốc.

Để ổn định thị trường ngoại hối và bảo vệ giá trị của đồng VND, ước tính khoảng 8,2 tỷ USD dự trữ ngoại hối đã được sử dụng trong 6 tháng đầu năm 2022 (Bảng 7). HSC kỳ vọng ít nhất một lượng dự trữ ngoại hối tương đương sẽ được sử dụng trong 6 tháng cuối năm 2022.

Biểu đồ 6: Mối tương quan 12 tháng so với cùng kỳ giữa DXY và USD/RMB 

Biểu đồ 7: Sự can thiệp của NHNN vào thị trường ngoại hối và sự trữ ngoại hồi 

Bảng 8: Sự can thiệp của NHNN vào thị trường ngoại hối 

Biểu đồ 9: Lãi suất chính sách chủ chốt của NHNN 

Đồng thời, NHNN mới đây đã nâng tỷ giá mua USD lên 23.700, lần tăng tỷ giá thứ 4 trong năm nay trong bối cảnh đồng USD mạnh lên (Bảng 8). Chúng tôi không loại trừ khả năng sẽ có một đợt tăng tỷ giá hối đoái khác từ NHNN.

Để đối phó với việc Fed nâng lãi suất lên 75 điểm cơ bản gần đây, NHNN Việt Nam đã nâng 100 điểm cơ bản đối với các lãi suất chính sách chủ chốt, theo đó lãi suất chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn đạt lần lượt 3,5% và 5% (Bảng 9). Điều này được nhiều người kỳ vọng do tỷ giá liên ngân hàng đã tăng trên 4% trong một thời gian, cho thấy điều kiện thanh khoản của hệ thống ngân hàng đang bị thắt chặt.

Theo HSC, quyết định này là hợp lý, giúp ổn định thị trường ngoại hối mà không cần chi tiêu quá mức dự trữ ngoại hối (vốn đã giảm xuống còn khoảng 3 tháng nhập khẩu từ mức cao nhất là khoảng 4,2 tháng nhập khẩu vào thời điểm đầu năm) (Bảng 10). Chúng tôi cũng kỳ vọng sẽ có thêm một đợt tăng lãi suất 100 điểm cơ bản từ NHNN trong năm 2023.

Biểu đồ 10: Dự trữ ngoại hối và số tháng nhập khẩu

Biểu đồ 11: Dự báo thị trường ngoại hối 

Do triển vọng của đồng VND ảm đạm hơn do những biến động tiền tệ kể trên, chúng tôi nâng bình quân 1,3% dự báo tỷ giá USD/VND vào thời điểm cuối năm cho giai đoạn 2022-2024 lên lần lượt 23.900, 23.800 và 23.700 (so với lần lượt 23.551, 23.450 và 23.400 theo dự báo trước đó) (Mời xem báo cáo: Doanh số bán lẻ hàng hoá & dịch vụ sẽ là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng GDP Q3/2022, ngày 14/9/2022).

Theo dự báo của chúng tôi, đồng USD sẽ tiếp tục mạnh lên trong bối cảnh Fed dự kiến tiếp tục tăng lãi suất đến đầu năm 2023, đồng RMB yếu đi, và quyết định giảm lợi nhuận giữa đồng USD và VND gần đây của NHNN có tác động tích cực (Bảng 11).

Chúng tôi dự báo thị trường ngoại hối sẽ tiếp tục biến động trong ngắn hạn, và tỷ giá USD/VND sẽ tăng lên mức 24.000 trước khi hợp nhất tại mức dự báo của chúng tôi là 23.900 vào cuối năm 2022. Đồng thời, chúng tôi kỳ vọng dự trữ ngoại hối sẽ tiếp tục giảm trong bối cảnh bán ròng USD thường xuyên hơn vào các thời điểm khác nhau. Dự trữ ngoại hối tổng thể có thể giảm xuống 91 tỷ USD trong năm 2022, trước khi tăng lên 100 tỷ USD trong năm 2023 nhờ triển vọng Fed sẽ nới lỏng lãi suất trong năm tới – điều này sẽ hỗ trợ giá đồng VND cũng như các đồng tiền đang lên khác.

Tăng trưởng GDP Q3/2022 có thể đạt 11,8% so với cùng kỳ

Như trình bày chi tiết hơn trong phần sau của báo cáo, xu hướng chung của nền kinh tế Việt Nam đã cải thiện trong Q3/2022, nhờ tiêu dùng đặc biệt mạnh mẽ (doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ ước tính tăng 50% so với cùng kỳ trong Q3/2022), hoạt động thương mại ổn định (KNXK và KNNK lần lượt tăng 16% và 8% so với cùng kỳ trong Q3/2022) và giá trị sản xuất công nghiệp tăng (có thể hơn 13% so với cùng kỳ trong Q3/2022).

Theo mô hình hồi quy của chúng tôi, tăng trưởng GDP Q3/2022 có thể đạt 11,8% so với cùng kỳ (điều chỉnh tăng từ 9,5% so với cùng kỳ trong dự báo trước đó) (Bảng 12) (Mời xem: GDP năm 2022 kỳ vọng đạt 6,83% nhờ số liệu kinh tế khả quan trong 6 tháng đầu năm, ngày 11/7/2022), giúp tăng trưởng GDP cả năm đạt 7,55% (điều chỉnh tăng từ 6,84% trước đó).

Biểu đồ 12: Tăng trưởng GDP theo ngành và dự báo 

Biểu đồ 13: Các mặt hàng nhập khẩu chính của Việt Nam 8 tháng đầu năm 2022 (tính từ đầu năm, so với cùng kỳ) 

Trong khi đó, chúng tôi giữ nguyên dự báo tăng trưởng năm 2023 và 2024 lần lượt đạt 6,7% và 6,5%. Một trong những nguyên nhân chính khiến chúng tôi duy trì dự báo này – trong môi trường lãi suất tăng – là tác động tích cực của giá năng lượng được kỳ vọng giảm trong Q4/2022 và trong năm tới.

Lưu ý, Việt Nam là một nền kinh tế phụ thuộc vào năng lượng; năm 2021, KNNK than, dầu và các sản phẩm xăng dầu đạt 12,9 tỷ USD. Trong khi đó, trong 8 tháng đầu năm 2022, KNNK các sản phẩm xăng dầu và than tăng lần lượt 125% và 98% so với cùng kỳ, một phần do giá tăng cao (Bảng 13).

Tuy nhiên, kể từ đầu tháng 9, giá dầu WTI đã giảm xuống 80 USD/thùng (tương đương 33%) so với mức đỉnh trong tháng 6 do tăng trưởng kinh tế toàn cầu chậm lại. Theo HSC, xu hướng này sẽ tiếp diễn và triển vọng giá dầu giảm trong Q4/2022 và trong năm 2023 sẽ giúp cải thiện số dư tài khoản vãng lai của Việt Nam. Theo đó, chúng tôi vẫn duy trì dự báo tăng trưởng trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế toàn cầu chậm lại và môi trường lãi suất trong nước tăng.

NHTM: Tác động nâng lãi suất điều hành không quá lớn

Nói chung, HSC thấy rằng hầu hết các NHTM chúng tôi khuyến nghị đang đứng khá vững trước những bất ổn kinh tế đang diễn ra. Với nhu cầu tín dụng cao, tác động tăng chi phí huy động sau động thái nâng trần lãi suất tiền gửi kỳ hạn ngắn sẽ được chuyển sang cho khách hàng vay, đặc biệt trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng có khả năng bị hạn chế. Tuy nhiên, mặt bằng lãi suất tăng sẽ tác động tiêu cực đến hoạt động mua bán trái phiếu. Một số NHTM gồm TPB, VIB và OCB có thể sẽ bị ảnh hưởng nhiều hơn.

Thanh khoản cải thiện nhưng chi phí huy động tiếp tục tăng

Tiền gửi khách hàng chủ yếu là kỳ hạn ngắn (Biểu đồ 14) với cơ cấu kỳ hạn không có sự thay đổi nhiều. Tại thời điểm cuối Q2/2022, HSC ước tính chỉ 5% tổng tiền gửi tại 13 NHTM chúng tôi khuyến nghị có kỳ hạn trên 1 năm, 25% có kỳ hạn 12 tháng, 17% có kỳ hạn 6 tháng, 17% có kỳ hạn 3 tháng và 35% có kỳ hạn dưới 1 tháng.

Tiền gửi khách hàng đã tăng 4,8% so với đầu năm (Biểu đồ 15), trong đó kỳ hạn 6-12 tháng tăng mạnh nhất trong khi kỳ hạn ngắn (1-3 tháng) và kỳ hạn dài hơn (trên 1 năm) giảm. Điều này cho thấy:

  • Khách hàng gửi tiền kỳ vọng lãi suất tăng trong ngắn hạn nên muốn gửi kỳ hạn ngắn và gửi lại khi đáo hạn.
  • Trần lãi suất tiền gửi kỳ hạn dưới 6 tháng tạo ra khoảng cách giữa kỳ hạn 3 đến 5 tháng (ở mức 4%) với kỳ hạn 6 tháng tại nhiều NHTM tư nhân (ở mức trên 6%). Điều này khiến cho việc gửi tiền ở kỳ hạn dưới 6 tháng trở nên không hấp dẫn.
  • Với trần lãi suất tiền gửi kỳ hạn dưới 6 tháng tăng 100 điểm cơ bản, đường cong lợi suất nhiều khả năng sẽ duỗi thẳng lúc đầu và sau đó đi lên vì lãi suất kỳ hạn trên 6 tháng có thể sẽ tăng tiếp 30-50 điểm cơ bản vào cuối năm.

Biểu đồ 14: Đã đến lúc điều chỉnh tăng lãi suất, các NHTM HSC khuyến nghị 

Biểu đồ 15: Tăng trưởng tín dụng và tiền gửi so với cùng kỳ, ngành ngân hàng 

Chi phí huy động: Ước tính Q3/2022 tăng 30 điểm cơ bản so với quý trước…

Ở các NHTM HSC khuyến nghị, chi phí huy động khá ổn định trong 6 tháng đầu năm 2022 (Biểu đồ 16). Nếu tính chung các NHTM khuyến nghị, chúng tôi nhận thấy chi phí huy động 6 tháng đầu năm 2022 giảm 13 điểm cơ bản so với bình quân năm 2021; dao động từ giảm 57 điểm cơ bản đến tăng 7 điểm cơ bản khi nhìn vào từng NHTM cụ thể. So với quý trước, chi phí huy động đi ngang trong Q1/2022 và chỉ tăng 6 điểm cơ bản trong Q2/2022. Chi phí huy động 6 tháng đầu năm 2022 ổn định chủ yếu nhờ lãi suất tiền gửi khách hàng nói chung ổn định và nhiều NHTM tăng huy động vốn từ thị trường LNH (vì có chi phí huy động tương đối thấp so với các nguồn khác).

Lợi suất gộp bình quân 6 tháng đầu năm 2022 giảm 11 điểm cơ bản so với mức bình quân trong năm 2021, từ đó giúp tỷ lệ NIM bình quân tăng 5 điểm cơ bản (Biểu đồ 17).

Biểu đồ 16: So sánh chi phí huy động, 6 tháng đầu năm 2022 

Biểu đồ 17: So sánh lợi suất gộp, 6 tháng đầu năm 2022 

Biểu đồ 18: Lãi suất cho vay liên ngân hàng 

Tuy nhiên, trong Q3/2022, chúng tôi quan sát thấy lãi suất toàn bộ các nguồn huy động tăng, trong đó có nguồn vay trên thị trường LNH (Biểu đồ 18), vay ngoại tệ, tiền gửi khách hàng (ở kỳ hạn từ 6 tháng trở lên). Mặc dù các NHTM chưa công bố KQKD Q3/2022, HSC ước tính sơ bộ chi phí huy động đã tăng khoảng 30-40 điểm cơ bản. Tính toán của chúng tôi dựa trên các giả định sau:

  • Tiền gửi khách hàng chiếm 75% tổng vốn huy động, trong đó 40% có kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. Lãi suất tiền gửi ở những kỳ hạn này đã tăng khoảng 40 điểm cơ bản trong Q3/2022.
  • Vay ròng LNH chiếm 10% tổng vốn huy động. Chi phí huy động LNH bình quân cho tất cả các kỳ hạn đã tăng 155 điểm cơ bản trong Q3/2022 so với 6 tháng đầu năm 2022.
  • Giấy tờ có giá và vốn huy động khác chiếm 15% tổng vốn huy động. HSC giả định chi phí huy động từ nguồn này cũng đã tăng 100 điểm cơ bản trong Q3/2022.

…và dự báo sẽ tăng tiếp 50 điểm cơ bản trong Q4/2022

HSC dự báo chi phí huy động bình quân Q4/2022 của các NHTM trong danh sách khuyến nghị sẽ tăng tiếp 50 điểm cơ bản từ mặt bằng hiện tại, theo đó cả năm sẽ tăng 80 điểm cơ bản so với năm 2021 lên khoảng 4%. Dưới dây là những thông tin cập nhật và giả định của chúng tôi:

  • Trần lãi suất tiền gửi kỳ hạn 1 đến dưới 6 tháng tăng 100 điểm cơ bản và trần lãi suất tiền gửi kỳ hạn dưới 1 tháng tăng 30 điểm cơ bản.
  • Lãi suất huy động bình quân trên thị trường LNH sẽ ổn định.
  • Lãi suất tiền gửi kỳ hạn trên 6 tháng bình quân tăng tiếp 30-50 điểm cơ bản.

Tính chung cả năm 2022, HSC ước tính chi phí huy động sẽ tăng lên khoảng 3,6% (tăng 30 điểm cơ bản so với năm 2021). Tác động tăng chi phí huy động ở từng NHTM sẽ khác nhau. Các ngân hàng nhỏ với khả năng thu hút tiền gửi kém hơn và những ngân hàng phụ thuộc nhiều vào nguồn huy động từ thị trường LNH sẽ chịu ảnh hưởng nhiều hơn.

Năm 2023, chúng tôi dự báo chi phí huy động sẽ ổn định hơn, bình quân dao động trong khoảng 4-4,1%; tương đương tăng 40-50 điểm cơ bản so với năm 2022.

Biểu đồ 19: Cơ cấu tỷ lệ NIM theo quý, các NHTM HSC khuyến nghị 

Nhu cầu tín dụng cao có thể giảm bớt tác động tăng chi phí huy động

HSC tin rằng các NHTM có thể chuyển phần lớn tác động tăng chi phí huy động sang cho khách hàng vay nhờ:

  • Nhu cầu tín dụng vẫn cao, đặc biệt trong bối cảnh room tín dụng bị hạn chế trong những tháng còn lại của năm 2022.
  • Hầu hết các khoản vay trung dài hạn áp dụng lãi suất thả nổi, dựa trên lãi suất tiền gửi 12 tháng của 4 NHTM lớn có vốn nhà nước.
  • Mặc dù NHNN yêu cầu các NHTM duy trì mặt bằng lãi suất cho vay hiện tại (không nâng lãi suất cho vay sau khi NHNN nâng lãi suất điều hành) để hỗ trợ sự hồi phục và phát triển của nền kinh tế, cơ quan này không can thiệp vào quyết định tăng/giảm lãi suất cho vay của các NHTM.

Vì vậy, mặc dù dự báo chi phí huy động tăng, HSC vẫn cho rằng tỷ lệ NIM năm 2022 của các NHTM chúng tôi khuyến nghị sẽ duy trì ở 3,85-3,95% so với mức 3,9% trong năm 2021 (Biểu đồ 19). Như vậy HSC đã giảm 12 điểm cơ bản so với dự báo tỷ lệ NIM hiện tại là 4,02%; theo đó chúng tôi cũng giảm 5% dự báo LNTT cho năm 2022.

Về tác động chung đối với các NHTM HSC khuyến nghị, HSC cho rằng TPB, VIB và OCB sẽ chịu nhiều tác động tiêu cực nhất khi lãi suất tăng vì những đặc điểm như trình bày dưới đây:

  • NHTM có khả năng thu hút tiền gửi kém: OCB, TPB.
  • NHTM phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn huy động từ thị trường LNH: TPB, VIB.
  • NHTM có nghiệp vụ mua bán trái phiếu đóng góp phần lớn vào tổng thu nhập HĐ: OCB, TPB.

Cập nhật số liệu kinh tế vĩ mô

Nhìn chung, nền kinh tế Việt Nam đã cải thiện trong tháng 8, nhờ đà tăng rất mạnh của tiêu dùng và hoạt động xuất nhập khẩu cải thiện trong tháng. Tuy nhiên, các chỉ số khác trái chiều; cụ thể: (1) CPI cơ bản tăng, đây là điều cần lưu ý do có thể cản trở khả năng nới hạn mức tín dụng của NHNN trong năm nay, (2) FDI cam kết kém khả quan, do đó HSC hạ đáng kể dự báo cho năm 2022, và (3) HSC điều chỉnh dự báo do áp lực tiếp diễn tại thị trường ngoại hối.

Nâng dự báo tăng trưởng doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ năm 2022 lên 18,8%

Trong tháng 8, doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ hàng tháng (481 nghìn tỷ đồng) tăng 50,2% so với cùng kỳ (tăng 0,6% so với tháng trước), mức cao nhất ghi nhận trong tháng 8 kể từ khi số liệu bắt đầu được thu thập. Doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ đặc biệt được thúc đẩy nhờ doanh số bán lẻ hàng hóa (đạt 376,6 nghìn tỷ đồng, tăng 31,9% so với cùng kỳ), doanh số bán lẻ dịch vụ lưu trú & ăn uống (đạt 53,5 nghìn tỷ đồng, tăng 185,3% so với cùng kỳ) và dịch vụ du lịch (đạt 3,3 nghìn tỷ đồng, tăng 6.437% so với cùng kỳ) (Bảng 20).

Biểu đồ 20: Doanh số bán lẻ hàng hóa và dịch vụ hàng tháng 

Doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ (3.679 nghìn tỷ đồng) trong 8 tháng đầu năm 2022 đã tăng 19,3% so với cùng kỳ so với giảm 3,5% so với cùng kỳ trong 8 tháng đầu năm 2021, nhờ tiêu dùng hồi phục mạnh mẽ từ mức nền thấp.

Do doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ vượt kỳ vọng, HSC điều chỉnh tăng dự báo năm 2022 từ 10,1% lên 18,8%, trong khi duy trì dự báo năm 2023 và 2024 lần lượt đạt 9,1% và 9% (Mời xem báo cáo: Nền kinh tế Việt Nam năm 2022-2023: Bức tranh tươi sáng, ngày 21/2/2022).

Sự phục hồi của doanh số bán lẻ cũng được hỗ trợ nhờ hoạt động di chuyển trong nước cải thiện so với cùng kỳ. Số lượng hành khách trong nước đã tăng 338% so với cùng kỳ trong tháng 8/2022, dù vẫn thấp hơn số lượng hành khách trong nước ghi nhận trong tháng 8/2019 (trước dịch COVID-19) là 431.634 người.

CPI cơ bản chạm mức cao nhất kể từ tháng 1/2020

Trong tháng 8/2022, CPI cơ bản tăng 3,06% so với cùng kỳ – mức tăng cao nhất kể từ tháng 1/2020 – do nhu cầu tiêu dùng hồi phục trở lại mức trước đại dịch COVID-19 (Bảng 21). Động lực thúc đẩy chủ yếu là chi phí dịch vụ ăn uống tăng 6,26% so với cùng kỳ, đánh dấu tháng tăng thứ 13 liên tiếp, phản ánh nhu cầu đi lại trong nước mạnh mẽ và giá chế biến nguyên liệu thô tăng. Lưu ý, xu hướng tăng kéo dài của CPI cơ bản có thể cản trở khả năng nới hạn mức tín dụng của NHNN lên trên mức trần năm nay là 14%.

Lạm phát tổng thể tăng 2,89% so với cùng kỳ trong tháng 8, thấp hơn so với tăng 3,14% so với cùng kỳ trong tháng 7/2022, do lạm phát giao thông tăng chậm lại đáng kể 8,94% so với cùng kỳ sau khi tăng 15,2% so với cùng kỳ trong tháng trước (Bảng 22). Giá dầu thế giới trong tháng giảm đã khiến giá xăng dầu trong nước điều chỉnh giảm 2 lần trong kỳ, bình quân giảm 14,52% so với tháng trước.

Biểu đồ 21: Lạm phát tổng thể 

Biểu đồ 22: Đóng góp vào lạm phát tổng thể 

Biểu đồ 23: Lạm phát bình quân 7 tháng đầu năm các năm 

Mặt khác, theo HSC, chi phí lương thực & thực phẩm tăng sẽ tiếp tục gây áp lực chủ yếu lên lạm phát trong tương lai. Trên thực tế, chi phí lương thực & thực phẩm đã tăng 3,3% so với cùng kỳ – tháng tăng thứ 6 liên tiếp – do giá thịt lợn tiếp tục tăng 4,95% so với tháng trước sau khi tăng 4,29% so với tháng trước trong tháng 7/2022.

Về chính sách tiền tệ, bình quân lạm phát tổng thể và lạm phát cơ bản trong 8 tháng gần đây đã được kiểm soát ở mức lần lượt là 2,58% và 1,64% so với cùng kỳ, thấp hơn nhiều so với mục tiêu của Chính phủ là 4% và dự báo cả năm của HSC là 3,8% (Bảng 23) (Mời xem báo cáo: GDP năm 2022 kỳ vọng đạt 6,83% nhờ số liệu kinh tế khả quan trong 6 tháng đầu năm, ngày 11/7/2022).

Chỉ số công nghiệp chế biến & chế tạo đạt mức cao nhất kể từ tháng 4/2021

Theo Tổng cục Thống kê, chỉ số công nghiệp chế biến & chế tạo tăng 16,2% so với cùng kỳ trong tháng 8, sau khi tăng 12,8% so với cùng kỳ trong tháng trước (Bảng 24), đánh dấu tháng tăng thứ 10 liên tiếp và là mức tăng cao nhất kể từ tháng 4/2021. Trong 8 tháng đầu năm 2022, chỉ số công nghiệp chế biến & chế tiếp tục tăng mạnh 10,4% so với cùng kỳ, cao hơn so với tăng 7% so với cùng kỳ trong 8 tháng đầu năm 2021 và đã hồi phục về mức trước dịch COVID-19 năm 2019.

Cơ cấu theo lĩnh vực chính, tốc độ tăng trưởng cao đối với sợi (tăng 14,4% so với cùng kỳ), giày dép (tăng 57% so với cùng kỳ) và điện tử tiêu dùng (tăng 34% so với cùng kỳ), chủ yếu do mức nền thấp trong tháng 8/2021, thời điểm Việt Nam thực hiện các biện pháp phong toả nghiêm ngặt do dịch COVID-19 (Bảng 25).

Chỉ số PMI sản xuất của Việt Nam đã tăng lên 52,7 trong tháng 8/2022 từ 51,2 trong tháng 7, đánh dấu tháng hồi phục thứ 11 liên tiếp của môi trường kinh doanh với sản lượng đầu ra, số lượng đơn đặt hàng và số lượng việc làm mới trong tháng tăng nhanh. Các doanh nghiệp được hỗ trợ nhờ tốc độ gia tăng lạm phát chi phí đầu vào tiếp tục chậm lại đáng kể, và giá sản phẩm đầu ra chỉ tăng nhẹ.

Trên thực tế, theo S&P Global đã nhận định: “Khó khăn về nguồn cung đã giảm dần, hiện doanh nghiệp đã có thể tập trung vào tìm kiếm nhiều đơn đặt hàng mới và mở rộng sản xuất trong những tháng còn lại của năm 2022”.

Biểu đồ 24: Chỉ số công nghiệp chế biến & chế tạo và PMI 

Biểu đồ 25: Động lực tăng trưởng chính cho hoạt động sản xuất 

Biểu đồ 26: Đóng góp vào tăng trưởng xuất khẩu 

Thương mại tăng trưởng nhanh hơn trong tháng 8

KNXK trong tháng 8 tăng 27,8% so với cùng kỳ đạt 34,9 tỷ USD, sau khi tăng 9,9% so với cùng kỳ trong tháng 7/2022 (Bảng 26). Theo các mặt hàng chính, KNXK tăng đối với túi xách (tăng 190% so với cùng kỳ và 3,9% so với tháng trước) và giày dép (tăng 174% so với cùng kỳ và tăng 0,9% so với tháng trước), trong khi KNXK giảm đối với sắt thép (giảm 68% so với cùng kỳ và giảm 29% so với tháng trước) (Bảng 27).

Biểu đồ 27: Các mặt hàng đứng đầu và cuối danh mục xuất khẩu 

Biểu đồ 28: Đóng góp vào tăng trưởng nhập khẩu 

Biểu đồ 29: Các mặt hàng đứng đầu và cuối danh mục nhập khẩu 

Trong khi đó, KNNK trong tháng 8 tăng 12,4% so với cùng kỳ đạt 31,1 tỷ USD, cao hơn đáng kể so với tăng 4,2% so với cùng kỳ trong tháng 7/2022 (Bảng 28), đánh dấu tháng tăng thứ 25 liên tiếp của KNNK.

KNNK năng lượng tiếp tục tăng mạnh, cụ thể KNNK dầu thô và sản phẩm xăng dầu đã tăng lần lượt 273% và 209% so với cùng kỳ. Trong khi đó, KNNK quặng và khoáng sản khác giảm 31% so với cùng kỳ (Bảng 29).

So với tháng trước, KNXK và KNNK tăng lần lượt 14,1% và 1,7%.

Trong tháng 8/2022, Việt Nam ghi nhận thặng dư thương mại ước tính khoảng 3,86 tỷ USD, tương đương thặng dư thương mại 5,49 tỷ USD luỹ kế 8 tháng đầu năm 2022 so với thâm hụt 3,5 tỷ USD trong 8 tháng đầu năm 2021, sát với dự báo thặng dư thương mại năm 2022 đạt 7,4 tỷ USD của chúng tôi.

Trong 8 tháng đầu năm 2022, KNXK (252,6 tỷ USD) và KNNK (247,1 tỷ USD) tăng lần lượt 18,2% và 13,7% so với cùng kỳ, chậm lại so với mức tăng lần lượt 21,9% và 34,4% so với cùng kỳ trong 8 tháng đầu năm 2021.

Trong nửa sau năm 2022, trong bối cảnh thế giới bất ổn và tồn tại nhiều trở ngại về ngoại thương, HSC dự báo KNXK và KNNK sẽ chững lại nhưng vẫn tăng ổn định lần lượt 9,3% và 9,0% so với cùng kỳ (Mời xem báo cáo: Hoạt động thương mại dự kiến tiếp tục tăng trưởng mạnh trong nửa cuối năm 2022, ngày 21/7/2022). Trong năm 2022, chúng tôi dự báo KNXK sẽ tăng trưởng chậm lại 13,1% từ 12,0% trong năm 2021 (Mời xem: Căng thẳng địa chính trị ảnh hưởng tới nền kinh tế Việt Nam, ngày 25/3/2022).

Biểu đồ 30: Vốn FDI giải ngân 

Biểu đồ 31: Vốn FDI cam kết hàng tháng theo quốc gia 

Hạ dự báo FDI cam kết năm 2022

Tính từ đầu năm, vốn FDI giải ngân đã tăng 10,5% so với cùng kỳ lên 12,8 tỷ USD – mức cao nhất ghi nhận trong 8 tháng đầu năm kể từ năm 2015 (Bảng 30), sát với dự báo tăng trưởng FDI giải ngân năm 2022 đạt 13,3% của chúng tôi (Mời xem báo cáo: Nền kinh tế Việt Nam năm 2022-2023: Bức tranh tươi sáng, ngày 21/2/2022).

Tuy nhiên, FDI cam kết (16,8 tỷ USD) trong 8 tháng đầu năm 2022 đã giảm 12,3% so với cùng kỳ so với giảm 2,1% so với cùng kỳ trong 8 tháng đầu năm 2021, theo đó FDI cam kết vẫn chưa hồi phục trở lại mức trước đại dịch COVID-19. Nguyên nhân là do vốn FDI đăng ký mới giảm 43,9% so với cùng kỳ. Trong khi đó, vốn bổ sung cho các dự án hiện hữu và góp vốn mua cổ phần tăng lần lượt 50,7% và 3,6% so với cùng kỳ. Nhật Bản là quốc gia với vốn FDI cam kết vào Việt Nam đứng đầu trong tháng 8 (Bảng 31).

Do FDI cam kết tính từ đầu năm thấp hơn so với kỳ vọng, HSC hạ dự báo năm 2022 – từ tăng 16,2% trong dự báo trước đó xuống giảm 3,5%.

Tuy nhiên, HSC vẫn duy trì nhận định lạc quan đối với triển vọng trong năm tới. Chúng tôi duy trì dự báo vốn FDI giải ngân và FDI cam kết năm 2023 sẽ tăng trưởng lần lượt 10% và 15%. Số lượng các dự án sản xuất công nghiệp do Apple, Foxconn và Lotte đầu tư tăng cho thấy Việt Nam đang hội nhập sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, theo chia sẻ của các chuyên gia nghiên cứu với VnExpress (Mời xem: Đầu tư nước ngoài tăng vọt giúp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, ngày 30/8/2022, VnExpress).

Trong 8 tháng đầu năm 2022, đầu tư công tương đương chỉ 51% kế hoạch cả năm 2022

Trong tháng 8, đầu tư công đạt 48,3 nghìn tỷ đồng (tăng 51,4% so với cùng kỳ do mức nền thấp) (Bảng 32). Trong 8 tháng đầu năm 2022, đầu tư công (285,4 nghìn tỷ đồng) tương đương chỉ 51% kế hoạch năm 2022 của Chính phủ (526,1 nghìn tỷ đồng), tăng 16,9% so với cùng kỳ, cao hơn so với mức giảm 0,7% so với cùng kỳ trong 8 tháng đầu năm 2021.

Trong 8 tháng đầu năm 2022, ngân sách nhà nước thặng dư 252 nghìn tỷ đồng so với mục tiêu thâm hụt 372,9 nghìn tỷ đồng theo kế hoạch năm 2022 (“Quyết định 2432” của Bộ Tài chính). Trong đó, thu ngân sách cao hơn (1.208 nghìn tỷ đồng, tương đương 86% kế hoạch năm 2022) so với chi ngân sách (967 nghìn tỷ đồng, tương đương 54% kế hoạch năm 2022) tính từ đầu năm đến nay. Lưu ý, thu ngân sách từ dầu thô trong 8 tháng đầu năm 2022 đạt 51 nghìn tỷ đồng, tương đương 181% kế hoạch cả năm và tăng 99% so với cùng kỳ.

Biểu đồ 32: Đầu tư công sử dụng ngân sách nhà nước 

Biểu đồ 33: Di chuyển trong nước hàng tháng 

Biểu đồ 34: Lượng khách du lịch hàng tháng 

Biểu đồ 35: Lượng khách quốc tế hàng tháng theo quốc gia 

Số lượng khách du lịch quốc tế tiếp tục tăng mạnh

Số lượng khách du lịch quốc tế trong tháng 8/2022 tiếp tục tăng mạnh 5.130% so với cùng kỳ (tăng 38% so với tháng trước) lên 486 nghìn người – mức cao nhất kể từ tháng 2/2020 (Bảng 34); trong đó khách du lịch chủ yếu đến từ Hàn Quốc, châu Âu và Mỹ (Bảng 35). Trong 8 tháng đầu năm 2022, tổng lượng khách du lịch đạt 1,44 triệu người, tăng 1.272% so với cùng kỳ (so với giảm 97,2% so với cùng kỳ trong 8 tháng đầu năm 2021).

Năm nay, HSC dự báo số lượng khách du lịch quốc tế sẽ tăng lên 3,5 triệu người và tăng gấp đôi trong năm 2023 đạt 7 triệu người (Mời xem báo cáo: Doanh số bán lẻ hàng hoá & dịch vụ là tâm điểm trong tháng 7, ngày 9/8/2022).

Dự báo kinh tế vĩ mô của HSC 

Lịch sự kiện kinh tế chính 

Danh sách cổ phiếu khuyến nghị của HSC

Nguồn: HSC

Tuyên bố miễn trách nhiệm: Báo cáo chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin và nhà đầu tư chỉ nên sử dụng báo cáo phân tích này như một nguồn tham khảo. Dautucophieu.net sẽ không chịu bất kỳ trách nhiệm nào trước nhà đầu tư cũng như đối tượng được nhắc đến trong báo cáo này về những tổn thất có thể xảy ra khi đầu tư hoặc những thông tin sai lệch về doanh nghiệp.

CÁC TIN LIÊN QUAN

Gọi ngay
Messenger
Zalo
Mở tài khoản