Hoạt động kinh tế tại Trung Quốc chậm lại và tác động tới Việt Nam
Số ca nhiễm COVID-19 tại Trung Quốc đang hạ nhiệt, mặc dù ảnh hưởng của các biện pháp phong tỏa tới chuỗi cung ứng toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng vẫn tiếp diễn.
Nhìn chung, tác động lên kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc tính đến thời điểm hiện tại là hạn chế với tốc độ tăng trưởng ổn định 19,5% so với cùng kỳ trong tháng 4/2022, cao hơn tăng trưởng 9,6% so với cùng kỳ trong tháng 4/2021. Mặt hàng chịu tác động lớn nhất là rau quả xuất khẩu sang Trung Quốc, đóng góp 53% tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam, giảm 29,2% so với cùng kỳ trong tháng 4/2022 so với tăng 17% tháng 4/2021 và là tháng giảm thứ 8 liên tiếp kể từ tháng 8/2021.
Kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc tăng chậm lại 11,5% so với cùng kỳ trong tháng 4/2022, thấp hơn tăng trưởng 54,3% so với cùng kỳ trong tháng 4/2021.
Điều này cho thấy nền kinh tế Việt Nam chịu ảnh hưởng đáng kể do chuỗi cung ứng từ Trung Quốc bị gián đoạn. Trong đó, gần 53% kim ngạch xuất khẩu máy móc của Việt Nam, 46% kim ngạch xuất khẩu máy tính & sản phẩm điện tử của Việt Nam và 27% kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam phụ thuộc vào linh kiện nhập khẩu từ Trung Quốc. Từ đó, Việt Nam sẽ cần tiếp tục đa dạng hóa chuỗi cung ứng sang các đối tác thương mại chính khác. Tuy nhiên, điều này sẽ tốn nhiều thời gian, và dù thay đổi cơ cấu thế nào, Trung Quốc sẽ vẫn là đối tác thương mại quan trọng nhất của Việt Nam.
Bảng 1: Xu hướng của các chỉ số kinh tế 
Trung Quốc tăng trưởng chậm lại: Tác động tới hoạt động thương mại của Việt Nam
Số ca nhiễm COVID-19 tại Trung Quốc đang hạ nhiệt, nhưng nguy cơ từ các biện pháp phong tỏa vẫn còn. Hoạt động kinh tế của Trung Quốc chậm lại đang làm gián đoạn hoạt động sản xuất trên toàn cầu, bao gồm Việt Nam. Trong tháng 5/2022, HSC dự báo kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu sẽ tăng lần lượt 17,1% và 8,8% so với cùng kỳ, chậm lại so với tháng 4/2022 do tác động từ các biện pháp phong tỏa kéo dài của Trung Quốc. Do các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam (dệt may và điện tử) phụ thuộc nhiều vào nguồn cung từ Trung Quốc, Việt Nam sẽ cần tiếp tục đa dạng hóa chuỗi cung ứng sang các đối tác thương mại chính khác.
Chuỗi cung ứng của Trung Quốc đứt gãy đe dọa tới nền kinh tế Việt Nam như thế nào?
Số ca nhiễm COVID-19 tại Trung Quốc đang hạ nhiệt (Bảng 2), nhưng nguy cơ tiếp tục áp dụng các biện pháp phong tỏa chặt chẽ vẫn còn do số ca nhiễm mới liên tục được phát hiện tại các thành phố lớn và Trung Quốc vẫn áp dụng cách tiếp cận ‘Zero COVID-19’ (Mời xem: Số ca nhiễm COVID-19 tại Trung Quốc đang giảm dần nhưng nguy cơ phong tỏa vẫn còn, ngày 19/5/2022, Bloomberg).
Mới đây, Bắc Kinh đã công bố số ca nhiễm COVID-19 kỷ lục trong đợt bùng phát hiện tại, điều này làm dấy lên lo ngại Bắc Kinh có thể sẽ phải áp dụng các biện pháp phong tỏa trong bối cảnh chính phủ đang tìm cách dập tắt sự lây lan của virus trong cộng đồng (Mời xem: Bắc Kinh phát hiện số ca nhiễm kỷ lục trong đợt bùng phát hiện tại, dấy lên lo ngại về việc áp dụng các biện pháp phong tỏa, ngày 23/5/2022, Bloomberg).
Biểu đồ 2: COVID-19 tại Trung Quốc 
Biểu đồ 3: Hoạt động thương mại của Trung Quốc 
Các đợt bùng phát liên tục tạo áp lực lên Trung Quốc trong việc theo đuổi chủ trương ‘Zero COVID-19’, cũng như gây nên rủi ro gián đoạn nền kinh tế vốn đã gây ra tổn thất lớn về kinh tế và xã hội. Với các biện pháp hạn chế hiện được áp dụng, hoạt động thương mại của Trung Quốc đang chững lại.
Hàng trăm con tàu từ chở hàng rời tới các thùng container đang neo đậu ngoài khơi bờ biển phía đông của Trung Quốc (Mời xem: Hoạt động tiếp nhiên liệu cho tàu tại Trung Quốc: tình hình tắc nghẽn cảng đang ảnh hưởng tới nhu cầu, ngày 25/4/2022, Bloomberg).
Hoạt động kinh tế của Trung Quốc chững lại đang đe dọa phá vỡ chuỗi sản xuất trong khu vực và thế giới, bao gồm Việt Nam (Bảng 3).
Theo chỉ số PMI sản xuất tháng 4/2022 của Việt Nam, thời gian giao hàng của các nhà cung cấp tiếp tục kéo dài do các biện pháp phong tỏa tại Trung Quốc ảnh hưởng tới khả năng đảm bảo đầu vào của doanh nghiệp. Do thiếu hụt nguồn cung nguyên vật liệu, lượng hàng tồn kho đầu vào giảm lần đầu tiên trong 4 tháng trong tháng 4/2022. Điều này chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới hoạt động thương mại của Việt Nam trong những tháng tới. Trong tháng 5/2022, HSC dự báo kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu sẽ tăng lần lượt 17,1% và 8,8% so với cùng kỳ, chậm lại so với tháng 4/2022 do tác động tiêu cực trong ngắn hạn khi Trung Quốc kéo dài các biện pháp phong tỏa (Mời xem: Hoạt động thương mại tháng 4/2022 khả quan dù tình hình thế giới bất ổn, ngày 24/5/2022, HSC).
Vậy hoạt động thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc có chững lại? Tác động tới kim ngạch xuất khẩu sang Trung Quốc (đóng góp 13,5% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong tháng 4/2022) vẫn chưa rõ ràng khi tăng ổn định 19,5% so với cùng kỳ trong tháng 4/2022, cao hơn tăng trưởng 9,6% so với cùng kỳ trong tháng 4/2021 (Bảng 4) nhờ kim ngạch xuất khẩu điện thoại và máy tính & sản phẩm điện tử (Bảng 9), đóng góp gần một nửa (48,1%) tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc (Bảng 6).
Biểu đồ 4: Đóng góp của KNXK sang Trung Quốc vào tổng KNXK của Việt Nam 
Biểu đồ 5: Đóng góp của KNNK từ Trung Quốc vào tổng KNNK của Việt Nam 
Biểu đồ 6: KNXK của Việt Nam sang Trung Quốc từ đầu năm, theo các mặt hàng chủ lực 
Biểu đồ 7: KNNK của Việt Nam từ Trung Quốc từ đầu năm, theo các mặt hàng chủ lực 
Mặt hàng với kim ngạch xuất khẩu chịu tác động lớn nhất cho đến nay là giày dép và rau quả (Bảng 9). Kim ngạch xuất khẩu rau quả sang Trung Quốc giảm 29,2% so với cùng kỳ trong tháng 4/2022 trong khi tăng 17% so với cùng kỳ trong tháng 4/2021 và là tháng giảm thứ 8 liên tiếp kể từ tháng 8/2021. Trong khi đó, kim ngạch xuất khẩu giày dép sang Trung Quốc giảm tháng thứ 10 liên tiếp (Bảng 9), giảm 21,3% so với cùng kỳ.
Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng rau quả chịu tác động lớn hơn so với giày dép do kim ngạch xuất khẩu rau quả sang Trung Quốc đóng góp 53% tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này, so với giày dép chỉ là 6,9%, trong 4 tháng đầu năm 2022 (Bảng 6). Tuy nhiên, kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc tăng chậm lại đáng kể 11,5% so với cùng kỳ trong tháng 4/2022, thấp hơn tăng trưởng 54,3% so với cùng kỳ trong tháng 4/2021 (Bảng 7).
Điều này cho thấy nền kinh tế Việt Nam chịu nhiều rủi ro khi nguồn cung từ Trung Quốc bị gián đoạn. Trong đó, gần 53% kim ngạch xuất khẩu máy móc của Việt Nam phụ thuộc vào các linh kiện nhập khẩu từ Trung Quốc (Bảng 8). 46% kim ngạch xuất khẩu máy tính & sản phẩm điện tử của Việt Nam phụ thuộc vào nguồn cung từ Trung Quốc (Bảng 8). Ngoài ra, tỷ trọng vải nhập khẩu nhập khẩu từ Trung Quốc trên tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may trong 4 tháng đầu năm 2022 là 27% (Bảng 8).
Biểu đồ 8: KNNK của Việt Nam từ Trung Quốc và tổng KNXK của Việt Nam 
Biểu đồ 9: Tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc so với cùng kỳ, bình quân 3 tháng 
Biểu đồ 10: Tăng trưởng nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc so với cùng kỳ, bình quân 3 tháng 
Biểu đồ 11: Nhập khẩu máy vi tính và linh kiện của Việt Nam 
Biểu đồ 12: Nhập khẩu vải từ các đối tác thương mại 
Do nhiều sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam (dệt may & điện tử) phụ thuộc vào nguồn cung từ Trung Quốc như đã đề cập ở trên, Việt Nam sẽ cần tiếp tục đa dạng hóa chuỗi cung ứng cho các đối tác thương mại chính khác (Bảng 11, 12).
Tương tự, do hoạt động xuất khẩu rau quả phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc, Việt Nam cũng cần tìm thêm thị trường thay thế để tránh rủi ro phụ thuộc trong bối cảnh Trung Quốc áp dụng chính sách ‘Zero COVID-19’ kéo dài (Bảng 13).
Biểu đồ 13: Xuất khẩu hàng rau củ từ các đối tác thương mại 
Tuy nhiên, quá trình dịch chuyển thương mại khỏi Trung Quốc sẽ khó có thể xảy ra trong ngắn hạn, HSC nhận định rằng Trung Quốc sẽ vẫn là đối tác thương mại quan trọng nhất của Việt Nam dù có bất kì thay đổi gì.
Cập nhật số liệu kinh tế vĩ mô
Trong tháng 4/2022, lạm phát tăng 2,64% so với cùng kỳ cao hơn tốc độ 2,41% so với cùng kỳ trong tháng 3/2022 chủ yếu do chi phí giao thông tăng 16,59% so với cùng kỳ. Trong năm 2022, HSC dự báo CPI sẽ tăng 3,6% do giá dầu tăng. Việt Nam hưởng lợi nhờ giá trị sản xuất công nghiệp ổn định được thúc đẩy nhờ ngành công nghiệp chế biến & chế tạo. Hoạt động thương mại tích cực trong tháng 4/2022 với kim ngạch xuất khẩu tăng 25,2% so với cùng kỳ so với tăng 16,7% so với cùng kỳ trong tháng 3/2022. Vốn FDI giải ngân tăng 7,6% so với cùng kỳ, mức tăng cao nhất trong 4 tháng đầu năm kể từ năm 2018. Doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ tăng 12,1% so với cùng kỳ trong tháng 4/2022 đạt mức cao nhất trong tháng 4 kể từ khi số liệu bắt đầu được thu thập.
CPI tăng 2,64% so với cùng kỳ dưới tác động của giá năng lượng
Trong tháng 4/2022, lạm phát tổng thể tăng 2,64% so với cùng kỳ so với tăng 2,41% so với cùng kỳ trong tháng 3/2022 (Bảng 14). Nguyên nhân chủ yếu do chi phí giao thông tăng 16,59% so với cùng kỳ, chậm lại so với tăng 18,29% so với cùng kỳ trong tháng 3/2022 (Bảng 15) do giá dầu thế giới trong tháng giảm và khiến giá xăng dầu trong nước tăng chậm lại 46,1% so với cùng kỳ, thấp hơn tốc độ 53,3% so với cùng kỳ trong tháng 3/2022 (Bảng 16).
Biểu đồ 14: Lạm phát tổng thể 
Biểu đồ 15: Đóng góp vào lạm phát tổng thể 
Biểu đồ 16: Giá xăng dầu trong nước 
Lạm phát nhóm lương thực & thực phẩm (tăng 1,08% so với cùng kỳ) tăng chậm hơn so với lạm phát tổng thể nhờ chi phí thực phẩm giảm trong tháng thứ 7 liên tiếp (giảm 0,15% so với cùng kỳ). Điều này bù đắp cho chi phí dịch vụ ăn uống tăng 3,78% so với cùng kỳ cũng như lạm phát lương thực tăng 2,05% so với cùng kỳ.
Một thành phần chính khác của CPI – chi phí nhà ở & vật liệu xây dựng đã tăng 2,72% so với cùng kỳ từ tăng 1,72% so với cùng kỳ trong tháng 3/2022 do chi phí vật liệu xây dựng tăng 2,02% so với tháng trước, giá khí đốt tăng 2,63% so với tháng trước và giá thuê nhà tăng 0,47% so với tháng trước.
Tuy nhiên, áp lực lạm phát đã hạ nhiệt khi tăng 0,18% so với tháng trước, thấp hơn tốc độ 0,7% so với tháng trước trong tháng 3/2022 nhờ chi phí thực phẩm giảm 0,32% so với tháng trước (do giá thịt lợn giảm 1,03% so với tháng trước) và chi phí giao thông giảm 0,59% so với tháng trước. Điều này đã bù đắp vào phần tăng của chi phí nhà ở & vật liệu xây dựng (tăng 0,58% so với tháng trước).
HSC dự báo CPI năm nay sẽ tăng lên 3,6% do triển vọng giá dầu tăng (Mời xem: Căng thẳng địa chính trị ảnh hưởng tới nền kinh tế Việt Nam, ngày 26/3/2022, HSC).
Giá trị sản xuất công nghiệp tăng trưởng ổn định nhờ ngành công nghiệp chế biến & chế tạo
Theo Tổng cục Thống kê, giá trị sản xuất công nghiệp trong tháng 4 đã tăng 9,4% so với cùng kỳ, đánh dấu tháng tăng thứ 6 liên tiếp. Chỉ số công nghiệp chế biến & chế tạo tăng 11,3% so với cùng kỳ sau khi tăng 9,6% so với cùng kỳ trong tháng trước (Bảng 17). Trong khi đó, chỉ số khai thác khoáng sản, điện & khí đốt và cấp nước & quản lý chất thải tăng lần lượt 2,3%, 2,8% và 0,4% so với cùng kỳ, tăng chậm hơn đáng kể so với chỉ số chung.
Trong 4 tháng đầu năm 2022, giá trị sản xuất công nghiệp và chỉ số công nghiệp chế biến & chế tạo đã tăng lần lượt 7,5% và 8,3% so với cùng kỳ, so với tăng lần lượt 10% và 12,7% so với cùng kỳ trong 4 tháng đầu năm 2022.
Biểu đồ 17: PMI và chỉ số công nghiệp chế biến & chế tạo 
Biểu đồ 18: Động lực tăng trưởng chính cho hoạt động sản xuất 
Cơ cấu theo lĩnh vực chính, tốc độ tăng trưởng cao đối với sản xuất sản phẩm điện tử dân dụng (tăng 19,9% so với cùng kỳ) và giày dép (tăng 17,4% so với cùng kỳ), trong khi tốc độ tăng trưởng chậm lại đối với sợi (tăng 5,8% so với cùng kỳ), linh kiện điện tử (tăng 10,8% so với cùng kỳ) và sản xuất thiết bị truyền thông (tăng 19,2% so với cùng kỳ) (Bảng 18).
Chỉ số PMI sản xuất của Việt Nam duy trì ở mức 51,7 trong tháng 4/2022, đánh dấu tháng hồi phục thứ 7 liên tiếp của môi trường kinh doanh. Sản lượng đầu ra và số lượng việc làm đều tăng trở lại trong tháng 4 sau khi giảm trong tháng 3/2022. Doanh nghiệp đã hưởng lợi từ số ca nhiễm COVID-19 giảm sau khi làn sóng COVID-19 gần nhất đạt đỉnh trong tháng 3/2022.
Tình hình dịch bệnh cải thiện đã giúp người lao động có thể trở lại làm việc, trong khi các báo cáo cũng cho thấy nhu cầu tuyển dụng có xu hướng tăng. Trên thực tế, tốc độ tăng việc làm đã đạt mức cao nhất trong vòng 1 năm trở lại đây. Năng lực sản xuất tăng giúp doanh nghiệp tăng sản lượng đầu ra và tận dụng được nhu cầu mạnh mẽ hơn của người tiêu dùng. Sản lượng đầu ra đã tăng tháng thứ 6 trong vòng 7 tháng gần đây.
Trong khi đó, áp lực lạm phát đã tăng nhanh, với phần lớn số người trả lời khảo sát cho rằng nguyên nhân đến từ cước vận tải, xăng dầu và khí đốt tăng. Do đó, các doanh nghiệp sản xuất đã nâng giá bán với tốc độ nhanh nhất kể từ tháng 11/2021.
Doanh nghiệp vẫn lạc quan rằng nhu cầu tiêu dùng và hạn chế về nguồn cung sẽ được cải thiện. Tuy nhiên, trở ngại đối với tốc độ tăng trưởng sản lượng đầu ra bao gồm tình hình đại dịch vẫn diễn biến xấu tại Trung Quốc và giá cả vẫn tiếp tục tăng mạnh. Những vấn đề này sẽ tác động đến cả nguồn cung và cầu vào đầu Q2/2022 và có khả năng sẽ hạn chế tăng trưởng trong các tháng tới.
Hoạt động thương mại ổn định trong tháng 4
KNXK trong tháng 4 tăng 25,2% so với cùng kỳ (điều chỉnh từ tăng 25,0% so với cùng kỳ) đạt 33,3 tỷ USD, sau khi tăng 16,7% so với cùng kỳ trong tháng 3/2022 (Bảng 19).
Theo các mặt hàng chính, KNXK tăng nhanh hơn đối với điện thoại các loại (tăng 52% so với cùng kỳ), máy tính và sản phẩm điện tử (tăng 14,6% so với cùng kỳ), máy móc (tăng 20,6% so với cùng kỳ), hàng dệt may (tăng 27,5% so với cùng kỳ), giày dép (tăng 17,2% so với cùng kỳ), thủy sản (tăng 50,6% so với cùng kỳ), sắt thép (tăng 33,8% so với cùng kỳ), gỗ và sản phẩm từ gỗ (tăng 12% so với cùng kỳ), sản phẩm nhựa (tăng 33,7% so với cùng kỳ), cao su (tăng 28,3% so với cùng kỳ), sợi (tăng 4,5% so với cùng kỳ) và dầu thô (tăng 112,8% so với cùng kỳ) nhưng tăng chậm lại đối với cà phê (tăng 47% so với cùng kỳ).
Ngược lại, tổng KNXK giảm do KNXK rau quả giảm 19,1% so với cùng kỳ, gạo giảm 34,4% so với cùng kỳ.
Biểu đồ 19: Đóng góp vào tăng trưởng xuất khẩu 
Biểu đồ 20: Đóng góp vào tăng trưởng nhập khẩu 
Trong khi đó, KNNK trong tháng 4 tăng 16,1% so với cùng kỳ (điều chỉnh từ tăng 15,5% so với cùng kỳ) đạt 32,5 tỷ USD, sau khi tăng 13,9% so với cùng kỳ trong tháng 3/2022 (Bảng 20) và là tháng tăng thứ 20 liên tiếp của KNNK.
KNNK tăng nhanh đối với nguyên phụ liệu dệt may và da giày (tăng 8,3% so với cùng kỳ), nhựa (tăng 6,6% so với cùng kỳ), ô tô (tăng 8,4% so với cùng kỳ), than (tăng 157,3% so với cùng kỳ), phân bón (tăng 62,5% so với cùng kỳ). Trong khi đó, KNNK tăng chậm lại đối với máy tính & sản phẩm điện tử (tăng 32,4% so với cùng kỳ) và điện thoại các loại (tăng 37,5% so với cùng kỳ) và vải (tăng 2,8% so với cùng kỳ). Ngược lại, KNNK máy móc giảm 2,9% so với cùng kỳ và sắt thép giảm 4,7% so với cùng kỳ.
So với tháng trước, KNXK và KNNK giảm lần lượt 4% và 0,6%.
Trong tháng 4/2022, Việt Nam ghi nhận thặng dư thương mại ước tính khoảng 849 triệu USD, so với thặng dư thương mại 2,0 tỷ USD trong tháng 3/2022, tương đương thặng dư thương mại 2,5 tỷ USD luỹ kế 4 tháng đầu năm 2022 so với thặng dư 1,5 tỷ USD trong 4 tháng đầu năm 2021.
Trong 4 tháng đầu năm 2022, KNXK (122,5 tỷ USD) và KNNK (120 tỷ USD) tăng lần lượt 16,5% và 15,3% so với cùng kỳ, chậm lại so với mức tăng lần lượt 29,8% và 32,7% so với cùng kỳ trong 4 tháng đầu năm 2021.
Trong năm 2022, HSC dự báo KNXK sẽ tăng trưởng chậm lại 13,1% từ 12,0% trong năm 2021 (Mời xem: Căng thẳng địa chính trị ảnh hưởng tới nền kinh tế Việt Nam, ngày 26/3/2022, HSC).
Vốn FDI giải ngân tăng 7,6% trong 4 tháng đầu năm 2022
Tính từ đầu năm, vốn FDI giải ngân đã tăng 7,6% so với cùng kỳ lên 5,92 tỷ USD – mức cao nhất ghi nhận trong 4 tháng đầu năm kể từ năm 2018 (Bảng 21). Tuy nhiên, FDI cam kết (10,81 tỷ USD) đã giảm 11,7% so với cùng kỳ so với giảm 0,7% trong 4 tháng đầu năm 2021.
Về vốn FDI giải ngân, ngành công nghiệp chế biến & chế tạo (4,49 tỷ USD) nhận khoản đầu tư lớn nhất (đóng góp 75,8%), theo sau là hoạt động kinh doanh BĐS (555 triệu USD) đóng góp 9,4% và lĩnh vực sản xuất, phân phối điện, khí đốt (498,4 triệu USD) đóng góp 8,4%.
Vốn FDI đăng ký mới (3,7 tỷ USD) giảm 56,3% so với cùng kỳ so với tăng 24,7% so với cùng kỳ trong 4 tháng đầu năm 2021 và tập trung vào ngành công nghiệp chế biến & chế tạo (2,46 tỷ USD), đóng góp 66,5% và lĩnh vực kinh doanh BĐS (662 triệu USD), đóng góp 17,9%.
Biểu đồ 21: Vốn FDI giải ngân 
Biểu đồ 22: Đầu tư công sử dụng ngân sách 
Trong khi đó, vốn bổ sung cho các dự án hiện hữu (5,29 tỷ USD) tăng 92,5% so với cùng kỳ so với giảm 10,6% so với cùng kỳ trong 4 tháng đầu năm 2021, trong đó đáng chú ý là khoản đầu tư bổ sung 920 triệu USD của Samsung cho nhà máy tại Thái Nguyên và 941 triệu USD vào KCN Việt Nam Singapore (VSIP) tại Bắc Ninh.
Nhờ các biện pháp hạn chế đi lại được nới lỏng, góp vốn mua cổ phần (1,82 tỷ USD) tăng 74,5% so với cùng kỳ so với giảm 57,8% so với cùng kỳ trong 4 tháng đầu năm 2021.
Trong năm 2022, HSC dự báo vốn FDI giải ngân và FDI đăng ký mới sẽ tăng trưởng lần lượt 13,3% và 16,2% (Mời xem: Nền kinh tế Việt Nam năm 2022-2023: Bức tranh tươi sáng, ngày 21/2/2022, HSC).
Trong tháng, đầu tư công đạt 33,5 nghìn tỷ đồng (tăng 6,6% so với cùng kỳ) (Bảng 22). Trong 4 tháng đầu năm 2022, đầu tư công (109,6 nghìn tỷ đồng) tương đương 20,6% kế hoạch năm 2022 của Chính phủ (526,1 nghìn tỷ đồng) và tăng 9,1% so với cùng kỳ; thấp hơn so với mức tăng 18,4% so với cùng kỳ trong 4 tháng đầu năm 2021.
Trong 4 tháng đầu năm 2022, ngân sách nhà nước thặng dư 175,1 nghìn tỷ đồng so với mục tiêu thâm hụt 372,9 nghìn tỷ đồng theo kế hoạch năm 2022 (“Quyết định 2432” của Bộ Tài chính). Trong đó, thu ngân sách cao hơn (645,3 nghìn tỷ đồng, tương đương 45,7% kế hoạch năm 2022) so với chi ngân sách (470,2 nghìn tỷ đồng, tương đương 26,3% kế hoạch năm 2022) tính từ đầu năm đến nay.
Doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ tăng 12,1% so với cùng kỳ trong tháng 4
Trong tháng 4, doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ hàng tháng (455,5 nghìn tỷ đồng) tăng 12,1% so với cùng kỳ (tăng 3,1% so với tháng trước), mức cao nhất ghi nhận trong tháng 4 kể từ khi số liệu bắt đầu được thu thập.
Doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ đặc biệt được thúc đẩy nhờ doanh số bán lẻ hàng hóa (đạt 363,6 nghìn tỷ đồng, tăng 12,4% so với cùng kỳ), doanh số bán lẻ dịch vụ lưu trú & ăn uống (đạt 45,5 nghìn tỷ đồng, tăng 14,8% so với cùng kỳ) và dịch vụ du lịch (đạt 1,2 nghìn tỷ đồng, tăng 39,4% so với cùng kỳ) (Bảng 23).
Doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ (1.777 nghìn tỷ đồng) trong 4 tháng đầu năm 2022 đã tăng 6,5% so với cùng kỳ so với tăng 10,0% so với cùng kỳ trong 4 tháng đầu năm 2021, nhờ tiêu dùng dần hồi phục sau khi thị trường lao động được cải thiện và giúp thu nhập hộ gia đình tăng.
Trong năm 2022, HSC dự báo doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ sẽ tăng trưởng 10,1% so với giảm 3,8% trong năm 2021 (Mời xem: Nền kinh tế Việt Nam năm 2022- 2023: Bức tranh tươi sáng, ngày 21/2/2022, HSC).
Biểu đồ 23: Doanh số bán lẻ hàng hóa và dịch vụ hàng tháng 
Biểu đồ 24: Lưu lượng hành khách quốc tế hàng tháng 
Biểu đồ 25: Hoạt động di chuyển trong nước 
Hoạt động di chuyển trong nước tiếp tục cải thiện với số lượng hành khách trong nước tăng 6,1% so với cùng kỳ so với tăng 30,7% trong tháng 3/2022 (Bảng 25).
Sau khi mở cửa trở lại đường bay quốc tế, số lượng khách du lịch quốc tế trong tháng 4/2022 đã tăng 420,6% so với cùng kỳ (243,4% so với tháng trước) lên 101,4 nghìn người – mức cao nhất kể từ tháng 3/2020 (Bảng 24); trong đó khách du lịch chủ yếu đến từ Trung Quốc (7,6 nghìn người), Đài Loan (4,4 nghìn người), Hàn Quốc (14,0 nghìn người), Nhật Bản (4,3 nghìn người), Mỹ (13 nghìn người) và châu Âu (19,6 nghìn người). Trong 4 tháng đầu năm 2022, tổng lượng khách du lịch là 192,4 nghìn người, tăng 184,7% so với cùng kỳ (so với giảm 98,2% so với cùng kỳ trong 4 tháng đầu năm 2021).
Từ ngày 15/3/2022, Việt Nam đã mở cửa biên giới trở lại cho khách du lịch quốc tế và khôi phục chính sách miễn thị thực trước dịch COVID-19 cho công dân từ 24 quốc gia bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc và châu Âu. Du khách nước ngoài đến Việt Nam chỉ cần xuất trình kết quả xét nghiệm âm tính với COVID-19 (Mời xem: Số lượng khách du lịch quốc tế trong quý 1 tăng gần 90%, ngày 29/3/2022, VnExpress).
Trong năm 2022, HSC dự báo số lượng khách du lịch quốc tế sẽ tăng lên 2,46 triệu người từ 157.300 người trong năm 2021 (Mời xem: Nền kinh tế Việt Nam năm 2022- 2023: Bức tranh tươi sáng, ngày 21/2/2022, HSC).
Biểu đồ 26: Số ca nhiễm mới COVID-19 tại Việt Nam 
Thời gian tới, HSC kỳ vọng nhu cầu trong nước của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng nhờ số ca nhiễm COVID-19 hàng ngày gần đây đã bắt đầu giảm từ mức đỉnh (Bảng 26) và hoạt động di chuyển tiếp tục cải thiện.
Dự báo kinh tế vĩ mô của HSC
Nguồn: HSC
Tuyên bố miễn trách nhiệm: Báo cáo chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin và nhà đầu tư chỉ nên sử dụng báo cáo phân tích này như một nguồn tham khảo. Dautucophieu.net sẽ không chịu bất kỳ trách nhiệm nào trước nhà đầu tư cũng như đối tượng được nhắc đến trong báo cáo này về những tổn thất có thể xảy ra khi đầu tư hoặc những thông tin sai lệch về doanh nghiệp.

