Vì sao Việt Nam cần một gói kích thích kinh tế?
HSC kỳ vọng trong kỳ họp Quốc hội những tuần sắp tới (tháng 12/2021 hoặc đầu tháng 1/2022) sẽ quyết định triển khai gói kích thích kinh tế mang tên “Chương trình tổng thể về phục hồi và phát triển kinh tế sau đại dịch COVID -19” trong giai đoạn 2022-2023. Gói kích thích này là cần thiện để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 2021-2025 đạt mục tiêu 6,4-6,8% mỗi năm, tăng 1 điểm phần trăm so với viễn cảnh không áp dụng gói hỗ trợ này và giúp tăng trưởng đạt mục tiêu Quốc hội đề ra trong kỳ họp đầu tiên vào tháng 7/2021.
Gói kích thích cần có quy mô phù hợp
Theo HSC, gói kích thích sẽ (i) tăng cường hỗ trợ an sinh xã hội bằng tiền mặt/hỗ trợ tài chính trực tiếp cho người nghèo, lao động tự do, lao động thu nhập thấp; (ii) gia hạn các hỗ trợ tài chính hiện tại về giảm thuế, phí, giảm lãi suất và và tái cơ cấu các khoản vay ngân hàng cho người lao động, doanh nghiệp và kinh doanh hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19, bao gồm nhưng không giới hạn trong các ngành giao thông vận tải, du lịch, nông lâm ngư nghiệp; và (iii) phân bổ đầu tư công nhằm kích cầu tiêu dùng, ổn định thị trường lao động, đẩy mạnh giải ngân vốn FDI ngắn hạn cũng như cải thiện cơ sở hạ tầng dài hạn, đặc biệt là tuyến đường cao tốc Bắc – Nam Việt Nam.
Chúng tôi cho rằng gói kích thích kinh tế sẽ có quy mô vừa phải và không vượt mục tiêu thâm hụt ngân sách 372,9 nghìn tỷ đồng (chiếm 4% GDP) trong năm 2022 được thông qua gần đây.
Thách thức về năng lượng liệu có cản trở việc triển khai gói kích thích?
Khác với Trung Quốc, HSC không cho rằng Việt Nam sẽ phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng năng lượng ngắn hạn có nguy cơ làm gián đoạn việc triển khai gói kích thích. Tiêu thụ năng lượng tháng 10/2021 của Việt Nam tăng 3,9% so với cùng kỳ, thấp hơn nhiều so với bình quân trước đại dịch là tăng 9,9% so với cùng kỳ. Ngoài ra, cấu trúc sản lượng điện của Việt Nam ít phụ thuộc vào điện than hơn so với Trung Quốc.
Biểu đồ 1: Xu hướng của các chỉ số kinh tế 
Ý nghĩa của quyết định sắp tới trong kỳ họp Quốc hội: Một gói kích thích kinh tế?
Để đạt được “mục tiêu kép vừa phòng chống dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế”, đồng thời theo đuổi chiến lược tiêm chủng phù hợp, Việt Nam cần triển khai một gói kích thích kinh tế nhằm hồi sinh thị trường lao động đang có với tỷ lệ thất nghiệp cao và ngành dịch vụ bị thiệt hại nghiêm trọng. Theo HSC, một gói kích thích kinh tế với quy mô vừa phải – không vượt mục tiêu thâm hụt ngân sách 372,9 nghìn tỷ đồng (chiếm 4% GDP) của trong năm 2022 được Quốc hội thông qua gần đây – sẽ sớm được thống nhất. Mục tiêu chính của gói hỗ trợ này là thúc đẩy nền kinh tế trong giai đoạn 2021-2025 đạt mục tiêu tăng trưởng 6,4-6,8% mỗi năm – tăng 1 điểm phần trăm so với kịch bản không áp dụng gói hỗ trợ này.
Vì sao Việt Nam cần một gói kích thích kinh tế?
Nhờ thực hiện thành công chính sách “Không COVID-19” trong gần như cả năm 2020, Việt Nam là quốc gia duy nhất trong 6 nước ASEAN ghi nhận tăng trưởng kinh tế dương trong năm 2020 (Bảng 2).
Biểu đồ 2: Tăng trường kinh tế năm 2020 của 6 nước ASEAN 
Biểu đồ 3: GDP theo giá hiện hành (tỷ USD) 
Từ thành công của năm ngoái, tầm nhìn trung hạn hướng đến năm 2025, Việt Nam nhiều khả năng sẽ bắt kịp hay thậm chí vượt qua một số quốc gia khác trong khu vực về GDP tính theo giá USD hiện hành (Bảng 3). Triển vọng này là khả thi nếu Việt Nam đạt được mục tiêu tăng trưởng 6,5-7% mỗi năm trong giai đoạn 2021-2025 được Quốc hội khoá XV chính thức đề ra trong kỳ họp đầu tiên vào tháng 7/2021.
Từ thành công của năm ngoái, tầm nhìn trung hạn hướng đến năm 2025, Việt Nam nhiều khả năng sẽ bắt kịp hay thậm chí vượt qua một số quốc gia khác trong khu vực về GDP tính theo giá USD hiện hành (Bảng 3). Triển vọng này là khả thi nếu Việt Nam đạt được mục tiêu tăng trưởng 6,5-7% mỗi năm trong giai đoạn 2021-2025 được Quốc hội khoá XV chính thức đề ra trong kỳ họp đầu tiên vào tháng 7/2021.
Biểu đồ 4: Tăng trưởng kinh tế Q3/2021 Q3/2021 6 nước ASEAN 
Biểu đồ 5: Dự báo tăng trưởng kinh tế 2021 của 6 nước ASEAN 
Do đó, tăng trưởng GDP của Việt Nam trong năm 2021 có thể sẽ chỉ đạt 2,08% (Mời xem: Hạ dự báo GDP năm 2021 xuống 2,08% do GDP Q3 giảm sâu, 10/10/2021, HSC), mức thấp nhất kể từ năm 1986, và sẽ thấp hơn hầu hết các nền kinh tế khác trong khu vực ASEAN (Bảng 5). Điều này chắc chắn sẽ đe doạ mục tiêu tăng trưởng trung hạn.
Nhận thấy tầm quan trọng của việc bao phủ vắc-xin đối với sự phục hồi của nền kinh tế, từ giữa tháng 9/2021, Chính phủ đã đẩy nhanh tiến độ bao phủ vắc-xin, với tốc độ bình quân hơn 1,1 triệu mũi tiêm được thực hiện mỗi ngày.
Từ một quốc gia có tỷ lệ tiêm chủng thấp nhấp khu vực ASEAN trong nửa đầu năm 2021, hiện nay tỷ lệ tiêm đủ liều vắc-xin ở Việt Nam đã đạt 45% dân số, cao hơn so với Philippines (38,4%) và Indonesia (32.5%) (Bảng 6).
Do số ca tử vong COVID-19 bình quân mỗi ngày đã giảm từ 350 ca trong tháng 8/2021 xuống khoảng 100 ca trong tháng 10/2021 (Bảng 7), chính quyền Việt Nam đã có thể nởi lỏng các hạn chế – một phần của việc thay đổi cách tiếp cận từ ‘Không COVID-19’ sang “sống chung với COVID-19” theo Nghị quyết 128 (có hiệu lực từ ngày 11/10/2021 trên phạm vi toàn quốc, ban hành các hướng dẫn để thích nghi an toàn với dịch COVID-19).
Việt Nam đặt mục tiêu tiêm đủ liều vắc-xin cho 100% dân số từ 18 tuổi trở lên vào cuối tháng 12/2021 và 70% tổng dân số vào cuối tháng 3/2022 (Mời xem: Việt Nam dự kiến tiêm đủ liều vắc-xin cho toàn bộ dân số trưởng thành vào cuối năm 2021, 22/11/2021, theo Bloomberg).
Với tiến độ tiêm chủng hiện nay, HSC tin tưởng chắc chắn rằng mục tiêu sẽ sớm được hoàn thành, tạo tiền đề để Việt Nam mở cửa trở lại nền kinh tế một cách bền vững, đặc biệt là lĩnh vực dịch vụ du lịch.
Biểu đồ 6: Tỷ lệ tiêm chủng tại ASEAN tính đến 20/11/2021 
Biểu đồ 7: COVID-19: Số ca tử vong hàng ngày tại Việt Nam từ 27/4/2021 
Từ đó, để thực hiện được “mục tiêu kép vừa phòng chống dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế” cùng với một chiến dịch tiêm chủng phù hợp, Việt Nam cần triển khai một gói kích thích kinh tế nhằm hồi sinh thị trường lao động đang đối mặt với tỷ lệ thất nghiệp cao (3,72% vào cuối tháng 9/2021) và ngành dịch vụ bị thiệt hại nghiêm trọng (giảm 0,69% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2021).
Do mức nền tăng trưởng kinh tế thấp như dự báo phía trên, nếu không triển khai gói kích thích kinh tế, Việt Nam khó có thể hoàn thành mục tiêu tăng trưởng hàng năm là 6,5-7% trong giai đoạn 2021-2025.
Quy mô gói kích thích kinh tế?
Hiện nay vẫn còn nhiều tranh cãi xung quanh quy mô và nội dung gói kích thích kinh tế. Bộ Tài chính đang tham mưu Chính phủ cung cấp gói kích cầu thông qua hỗ trợ lãi suất chiết khấu 4% trị giá khoảng 20nghìn tỷ mỗi năm trong năm 2022-2023. Như vậy tổng giá trị khoản vay ưu đãi được cung cấp sẽ tương đương 1 triệu tỷ, sẽ hỗ trợ thị trường việc làm, tăng trưởng sản lượng và giảm bội chi ngân sách nhà nước trong năm sau. (Mời xem: Bộ Tài chính xem xét cung cấp gói hỗ trợ 7,9 nghìn tỷ đồng để hỗ trợ phục hồi kinh tế, 12/11/2021, VnExpress).
Bên cạnh đó, Bộ Kế hoach và Đầu tư đã đề xuất chương trình phục hồi kinh tế trong 2 năm tiếp theo. Mặc dù con số vẫn chưa được công bố chính thức, nhưng một số phương tiện truyền thông trong nước cho biết quy mô chương trình là khoảng 800.000 tỷ đồng (35 tỷ USD), tương đương 9,7% GDP năm 2021 (Mời xem: Việt Nam triển khai gói kích thích 35 tỷ USD để hỗ trợ sự phục hồi của nền kinh tế trong năm 2022- 2023, 2/11/2021, Hanoi Times).
Chúng tôi kỳ vọng Kỳ họp Quốc hội tiếp theo (vào tháng 12/2021 hoặc đầu tháng 1/2022) sẽ quyết định gói kích thích kinh tế trên các cơ sở và nội dung chủ yếu sau:
- Tên gói hỗ trợ: Chương trình tổng thể về phục hồi và phát triển kinh tế sau đại dịch COVID -19.
- Dư địa tài khóa thuận lợi cho gói kích thích kinh tế: Chúng tôi ước tính tỷ lệ nợ công/GDP của Việt Nam là khoảng 44-47% GDP trong năm 2021 so với mức cảnh báo của Chính phủ là 55% và mức trần nợ công là 60%.
- Mục tiêu chính của gói kích thích kinh tế: Nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2021-2025 đạt mục tiêu tăng trưởng 6,4-6,8% mỗi năm, cao hơn 1 điểm phần trăm so với khi không triển khai gói kích thích kinh tế.
- Hoạt động chủ yếu của gói kích thích kinh tế:
- Cung cấp các khoản trợ cấp bằng tiền mặt/và các hình thức hỗ trợ tài chính trực tiếp khác đối với người nghèo, lao động tự do và lao động thu có nhập thấp.
- Kéo dài các gói hỗ trợ tài chính đang triển khai thông qua giảm thuế phí, giảm lãi suất và tái cơ cấu cho các khoản vay ngân hàng cho người lao động, doanh nghiệp và hộ kinh doanh bị ảnh hưởng do COVID-19, bao gồm nhưng không giới hạn trong lĩnh vực vận tải & logistics, \ du lịch, và nông lâm ngư nghiệp.
- Ngân sách nhà nước phân bổ nhiều hơn cho đầu tư công: Nhằm kích cầu tiêu dùng, ổn định thị trường việc làm, khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài trong ngắn hạn, cũng như cải thiện cơ sở hạ tầng trong dài hạn, đặc biệt là tuyến cao tốc Bắc Nam Việt Nam.
- Gói kích thích kinh tế yêu cầu sự phối hợp giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các cơ quan liên quan khác.
- Quy mô gói kích thích kinh tế: Chúng tôi dự báo quy mô của chương trình ở mức vừa phải, không vượt mục tiêu thâm hụt ngân sách 372,9 nghìn tỷ đồng (4% GDP) trong năm 2022 vừa được Quốc hội phê duyệt gần đây .
- Giai đoạn triển khai: Trong 2 năm tới (2022-2023).
Biểu đồ 8: Tăng trưởng kinh tế tại Trung Quốc 
Biểu đồ 9: Nhu cầu tiêu thụ điện năng 
Liệu thiếu hụt năng lượng có cản trở Việt Nam thực hiện gói kích thích kinh tế như Trung Quốc đang gặp phải?
Sau cú sốc kinh tế vào Q1/2020 do COVID-19, nền kinh tế Trung Quốc đã phục hồi nhanh chóng và mạnh mẽ (Bảng 8), kèm theo là nhu cầu tiêu thụ điện tăng mạnh hơn so với tốc độ tăng trưởng bình quân sản lượng điện trong 10 năm qua (Bảng 9). Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới khủng hoảng năng lượng tại Trung Quốc, trong bối cảnh giá than tăng vọt và công suất điện bị hạn chế tại các mạng lưới nhiệt điện hiện nay do hệ thống “quản lý kép” – các địa phương của Trung Quốc được phân công các mục tiêu khó khăn là hạn chế tiêu thụ năng lượng và tăng hiệu quả sử dụng năng lượng (Mời xem: Khủng hoảng năng lượng tại Trung Quốc sẽ là mấu chốt thúc đẩy triển khai nâng cấp hệ thống lưới điện, ngày 30/9/2021, Bloomberg).
Tuy nhiên, khác với Trung Quốc, chúng tôi cho rằng Việt Nam sẽ không đối mặt với khủng hoảng năng lượng trong ngắn hạn. Tốc độ tăng trưởng sản lượng tiêu thụ năng lượng tại Việt Nam thấp hơn đáng kể so với mức bình quân trước đại dịch (Bảng 10). Ngoài ra, cấu trúc sản xuất điện tại Việt Nam ít lệ thuộc vào điện than hơn so với Trung Quốc (Bảng 11).
Mặc dù vậy, Việt Nam vẫn phục thuộc rất nhiều vào nhiệt điện than để đáp ứng nhu cầu điện tăng nhanh (Bảng 11). Điện than tăng từ 19% lên 50% tổng điện tiêu thụ tại Việt Nam trong 10 năm qua.
Biểu đồ 10: Nhu cầu tiêu thụ điện năng tại Việt Nam 
Biểu đồ 11: Cơ cấu tiêu thụ điện năng của Việt Nam 
Biểu đồ 12: Cơ cấu sản lượng điện năng tiêu thụ tại Việt Nam (tính đến T9/2021) 
Biểu đồ 13: Kế hoạch công suất thiết kế năm 2030 
Tuy nhiên, về mặt tích cực, Việt Nam đang cân nhắc về một quy hoạch điện quốc gia mới. Dự thảo quy hoạch phát triển điện VIII gần đây đề xuất giảm các nhà máy điện than trong cơ cấu năng lượng tại Việt Nam, từ khoảng 50% vào tháng 9/2021 (Bảng 11) xuống 30% vào năm 2030 (Bảng 13). Ngoài ra, quy hoạch cũng hướng tới giảm tỷ trọng thủy điện từ 28% như hiện nay xuống 20% vào năm 2030.
Ngoài ra, quy hoạch này củng cố thêm quan điểm của Chính phủ về ưu tiên các nguồn năng lượng tái tạo nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực từ sản xuất nhiệt điện tới môi trường.
Tại Hội nghị thượng đỉnh về biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc gần đây, Việt Nam đã nghiêm túc cam kết ngừng xây dựng các nhà máy điện than mới, cùng với cam kết đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. (Mời xem: Việt Nam ngừng phát triển nhiệt điện than để loại bỏ tác động tới môi trường theo mục tiêu của khu vực Đông Nam Á , 5/11/2021, Blommberg).
Cập nhật số liệu kinh tế vĩ mô
Số liệu tháng 10/2021 cho thấy nền kinh tế đang cải thiện. Lạm phát tăng chậm lại 1,77% so với cùng kỳ do giá lương thực & thực phẩm và nhà ở & vật liệu xây dựng giảm trong khi chi phí giao thông tăng do giá xăng dầu trong nước tăng. Chỉ số PMI trong tháng 10/2021 đã vượt mức 50 lên 52,1; từ đó có thể thấy ngành công nghiệp chế biến & chế tạo đã tăng trưởng trở lại. Kim ngạch xuất khẩu trong tháng 10/2021 tăng trở lại kể từ tháng 7/2021, đưa thặng dư thương mại ước tính lên 2,7 tỷ USD trong tháng 10. Cuối cùng, do các tỉnh thành trọng điểm đã nới lỏng các biện pháp phong tỏa, đầu tư công tăng 18,6% so với tháng trước (tuy nhiên vẫn giảm 17,4% so với cùng kỳ) và doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ tăng 18,1% so với cùng kỳ.
Lạm phát vừa phải trong kỳ
Trong tháng 10/2021, lạm phát tổng thể tăng chậm lại 1,77% so với cùng kỳ so với tăng 2,06% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021 (Bảng 14) chủ yếu do chi phí lương thực & thực phẩm hạ nhiệt (tăng 0,14% so với cùng kỳ) (Bảng 15). Trong đó, lạm phát lương thực tăng chậm lại 4,31% so với cùng kỳ (giảm 0,17% so với tháng trước), do giá gạo giảm 0,25% so với tháng trước. Trong khi đó, chi phí thực phẩm giảm 1,38% so với cùng kỳ (giảm 2,05% so với tháng trước) do giá thịt lợn giảm 9,38% so với tháng trước trong bối cảnh các nhà chăn nuôi đang nỗ lực giải phóng hàng tồn kho tích lũy từ những tháng trước đó.
Động lực chính khác thúc đẩy lạm phát tổng thể là nhà ở & xây dựng tăng chậm lại 1,07% so với cùng kỳ trong tháng 10/2021 nhờ giá thuê giảm 4,67% so với tháng trước và giá điện giảm 0,99% so với tháng trước do nhu cầu tiêu thụ thấp trong mùa thu.
Biểu đồ 14: Lạm phát tổng thể 
Biểu đồ 15: Đóng góp vào lạm phát tổng thể 
Biểu đồ 16: Giá xăng dầu trong nước 
Ngoài ra, chi phí giao thông tăng 16,52% so với cùng kỳ do giá dầu thế giới tăng khiến giá xăng dầu trong nước phải điều chỉnh tăng 3 lần trong kỳ báo cáo (ngày 25//9, và 11/10 và 26/10/2021). Giá xăng trong nước đã tăng 51,2% so với cùng kỳ lên mức cao nhất trong 7 năm (Bảng 16).
Trong khi đó, lạm phát tổng thể và lạm phát cơ bản bình quân trong 10 tháng lần lượt tăng 1,81% và 0,84% so với cùng kỳ, mức tăng thấp nhất kể từ năm 2016 (Bảng 17) và thấp hơn nhiều so với mục tiêu lạm phát 4,0% của Chính phủ.
Xu hướng lạm phát sát với dự báo lạm phát bình quân tăng 2,3% trong năm 2021 của chúng tôi. Ngoài ra, chúng tôi giữ nguyên dự báo lạm phát bình quân sẽ duy trì ở mức dưới 4,0% trong năm 2022 và 2023 (lần lượt tăng 3,5% và 3,0%) (Mời xem: Hạ dự báo GDP năm 2021 và 2022, ngày 30/8/2021).
Do lạm phát được kiểm soát, HSC kỳ vọng NHNN sẽ duy trì chính sách tiền tệ phù hợp để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ít nhất là trong phần còn lại của năm nay.
Biểu đồ 17: Lạm phát bình quân 10 tháng đầu năm 
Biểu đồ 18: Chỉ số ngành công nghiệp chế biến & chế tạo 
Giá trị sản xuất công nghiệp hồi phục 6,9% so với tháng trước nhưng giảm 1,6% so với cùng kỳ
Giá trị sản xuất công nghiệp giảm với chậm lại là 1,6% so với cùng kỳ so với giảm 7,6% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021. Chỉ số công nghiệp chế biến & chế tạo cũng giảm nhẹ 1,6% so với cùng kỳ, so với giảm 6,5% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021, trong bối cảnh các hạn chế di chuyển dần được nới lỏng (Bảng 18). So với tháng trước, giá trị sản xuất công nghiệp và chỉ số công nghiệp chế biến & chế tạo tăng trở lại lần lượt 6,9% và 6,7% trong tháng 10/2021.
Sát với ước tính của Tổng cục Thống kê, chỉ số PMI sản xuất của Việt Nam cũng vượt mức 50 lên 52,1 nhờ sản lượng tăng trở lại trong tháng 10/2021, qua đó chấm dứt chuỗi 4 tháng giảm liên tiếp (Bảng 18).
Số lượng đơn hàng xuất khẩu mới tăng lần đầu kể từ tháng 5/2021 trong bối cảnh các hạn chế dần được nới lỏng giúp một số công ty trở lại sản xuất trong khi một số công ty khác đẩy mạnh sản xuất trong tháng 10/2021.
Mặc dù vậy, có 2 vấn đề kéo dài do đợt bùng phát gần đây gây ra:
- Thứ nhất, những thách thức đối với vận tải và chuỗi cung ứng khiến chi phí đầu vào tăng mạnh nhất kể từ tháng 4/2021 trong bối cảnh cước vận tải tăng và thiếu hụt nguyên vật liệu. Đáp lại, các công ty cũng tích lũy thêm tồn kho đầu vào tháng thứ 3 liên tiếp trong tháng 10/2021 để đề phòng giá tăng trong tương lai.
- Thứ hai, số lượng việc làm tiếp tục giảm đáng kể trong tháng 10/2021. Một số công ty cho biết nhân viên của họ đã về quê và vẫn chưa quay lại làm việc. Tình trạng thiếu hụt lao động góp phần làm tăng khối lượng công việc tồn đọng trong bối cảnh áp lực từ các đơn hàng mới ngày càng lớn.
Thời gian tới, những thách thức này được kỳ vọng sẽ giảm bớt do ngành công nghiệp chế biến & chế tạo sẽ tiếp tục trở lại bình thường trong những tháng tới.
Biểu đồ 19: Động lực chính thúc đẩy hoạt động sản xuất 
Cơ cấu theo lĩnh vực chính, tốc độ giảm đã chậm lại đối với hàng điện tử tiêu dùng (giảm 34,6% so với cùng kỳ so với giảm 47,1% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021) và dệt may (giảm 16,1% so với cùng kỳ so với giảm 30,2% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021). Trong khi đó, giày dép (tăng 0,4% so với cùng kỳ so với giảm 21,7% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021) đã tăng trở lại (Bảng 7). Về mặt tích cực, linh kiện điện tử (tăng 13,3% so với cùng kỳ so với tăng 0,1% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021) và thiết bị truyền thông (tăng 2,5% so với cùng kỳ so với tăng 10,1% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021) tăng tháng thứ 2 liên tiếp.
Tuy nhiên, giá trị sản xuất công nghiệp và chỉ số công nghiệp chế biến & chế tạo sụt giảm trong tháng 10/2021 đã kéo tổng giá trị lũy kế trong 10 tháng đầu năm 2021 chỉ còn tăng lần lượt 3,3% và 4,5% so với cùng kỳ, từ lần lượt tăng 4,1% và 5,5% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2021. Tuy nhiên, mức tăng vẫn cao hơn so với cùng kỳ (lần lượt tăng 2,7% và 4,2% so với cùng kỳ trong 10 tháng đầu năm 2020). Ngoài ra, ngành khai khoáng giảm 7,0% so với cùng kỳ trong 10 tháng đầu năm 2021 so với giảm 8,1% so với cùng kỳ trong 10 tháng đầu năm 2020, ảnh hưởng tiêu cực tới tăng trưởng chung của ngành công nghiệp.
Kim ngạch xuất khẩu tháng 10/2021 tăng 0,3% lần đầu kể từ tháng 7/2021
Kim ngạch xuất khẩu trong tháng 10/2021 tăng 6,1% so với cùng kỳ (điều chỉnh tăng từ tăng 0,3% so với cùng kỳ) lên 28,9 tỷ USD, so với giảm 0,5% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021 (Bảng 20). Trong số các mặt hàng chính, kim ngạch xuất khẩu đã tăng đối với điện thoại các loại (tăng 3,2% so với cùng kỳ), máy móc (tăng 20,8% so với cùng kỳ, dệt may (tăng 3,2% so với cùng kỳ), sắt thép (tăng 142,8% so với cùng kỳ, sợi (tăng 23,1% so với cùng kỳ, sản phẩm nhựa (tăng 15,9% so với cùng kỳ, hạt điều (tăng 9,5% so với cùng kỳ, cao su (tăng 25,9% so với cùng kỳ, gạo (tăng 67,8% so với cùng kỳ, cà phê (tăng 28,0% so với cùng kỳ và dầu thô (tăng 222,1% so với cùng kỳ).
Kim ngạch xuất khẩu cà phê tăng trong tháng 10/2021, đứng thứ 20 trong số các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam và đứng thứ 2 về sản lượng xuất khẩu cà phê trên thế giới, là do giá cà phê Robusta toàn cầu tăng lên mức cao trong thập kỷ trong bối cảnh tồn kho ngày càng giảm (Mời xem: Biến động giá hợp đồng tương lai cà phê tăng khi hàng tồn kho giảm dần, ngày 29/10/2021, Bloomberg).
Trái lại, kim ngạch xuất khẩu giảm tại các mặt hàng máy tính và thiết bị điện tử (giảm 0,7% so với cùng kỳ), giày dép (giảm 33,0% so với cùng kỳ, gỗ và sản phẩm từ gỗ (giảm 25,9% so với cùng kỳ và sản phẩm thủy sản (giảm 2,9% so với cùng kỳ).
Biểu đồ 20: Đóng góp vào tăng trưởng xuất khẩu 
Biểu đồ 21: Đóng góp vào tăng trưởng nhập khẩu 
Kim ngạch khập khẩu tăng 7,8% so với cùng kỳ (điều chỉnh giảm từ tăng 8,1% so với cùng kỳ) lên 26,1 tỷ USD trong tháng 10/2021, giảm nhẹ so với tăng 10,2% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021 (Bảng 21). Đây là tháng tăng thứ 15 liên tiếp của kim ngạch nhập khẩu trong bối cảnh nhu cầu trong nước ổn định. Kim ngạch nhập khẩu tăng chậm lại đối với máy tính và sản phẩm điện tử (tăng 4,6% so với cùng kỳ, máy móc (tăng 7,8% so với cùng kỳ, điện thoại các loại (tăng 3,1% so với cùng kỳ), và nhựa (tăng 3,1% so với cùng kỳ). Kim ngạch nhập khẩu tăng tốc đối với sắt thép (tăng 55,7% so với cùng kỳ và ô tô (tăng 0,6% so với cùng kỳ.
Ngược lại, kim ngạch nhập khẩu vải (giảm 0,2% so với cùng kỳ, và nguyên phụ liệu dệt may và da giày (giảm 16,9% so với cùng kỳ).
So với tháng trước, kim ngạch xuất khẩu tăng 6,8%, nhưng kim ngạch nhập khẩu giảm 2,0% do những khó khăn đối với chuỗi cung ứng và hoạt động logistics.
Trong 10 tháng đầu năm 2021, kim ngạch xuất khẩu (269,8 tỷ USD) và kim ngạch nhập khẩu (269,6 tỷ USD) lần lượt tăng 17,4% và 28,3% so với cùng kỳ so với lần lượt tăng 4,9% và 0,2% so với cùng kỳ trong 10 tháng đầu năm 2020. Trong 10 tháng đầu năm 2021, kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường chính bao gồm Mỹ (76 tỷ USD), Trung Quốc (44,2 tỷ USD) và châu Âu (31,7 tỷ USD) lần lượt tăng 21,9%, 16,8% và 8,9% so với cùng kỳ nhờ nhu cầu cải thiện sau khi tiếp tục triển khai vắc-xin tại những các quốc gia này.
Trong tháng 10/2021, Việt Nam xuất siêu ước tính là 2,7 tỷ USD, từ đó thu hẹp thâm hụt thương mại lũy kế 10 tháng đầu năm 2021 xuống còn 1,5 tỷ USD so với thặng dư 19,6 tỷ USD trong 10 tháng đầu năm 2020.
Xu hướng dự trữ thương mại, chuyển từ thâm hụt sang thặng dư trong 2 tháng liên tiếp, sát với dự báo của chúng tôi là thặng dư 4,3 tỷ USD trong năm 2021 so với thặng dư 19,9 tỷ USD trong năm 2020 (Mời xem: Điều chỉnh dự báo thương mại do dịch COVID-19 bùng phát, 4/9/2021, HSC).
Vốn FDI giải ngân giảm 4,1% trong 10 tháng đầu năm 2021 nhưng tăng 10% trong tháng 10/2021
Trong 10 tháng đầu năm 2021, FDI giải ngân giảm 4,1% so với cùng kỳ xuống 15,15 tỷ USD so với giảm 2,5% so với cùng kỳ trong 10 tháng đầu năm 2020 (Bảng 10). Về mặt tích cực, FDI cam kết (23,74 tỷ USD) tăng 1,1% so với cùng kỳ so với giảm 19,4% so với cùng kỳ trong 10 tháng đầu năm 2020. Về FDI giải ngân, ngành công nghiệp chế biến & chế tạo (10,94 tỷ USD) đóng góp 72,2%, hoạt động kinh doanh BĐS (2,08 tỷ USD) đóng góp 13,7% và lĩnh vực sản xuất, phân phối điện, khí đốt (1,15 tỷ USD) đóng góp 7,6%.
Vốn FDI đăng ký mới (13,02 tỷ USD) tăng 11,6% so với cùng kỳ so với giảm 9,1% so với cùng kỳ trong 10 tháng đầu năm 2020 và tập trung vào các dự án năng lượng, bao gồm các nhà máy nhiệt điện LNG do Singapore phát triển 3,1 tỷ USD (Long An 1 và 2) tại tỉnh Long An, Nhà máy nhiệt điện 1,3 tỷ USD do Nhật Bản phát triển (Ô Môn 2) tại thành phố Cần Thơ và nhà máy pin mặt trời 498 triệu USD do Hồng Kông phát triển ở tỉnh Quảng Ninh.
Biểu đồ 22: Vốn FDI giải ngân 
Biểu đồ 23: Đầu tư công sử dụng ngân sách nhà nước 
Trong khi đó, vốn bổ sung cho các dự án hiện hữu (7,09 tỷ USD) cũng tăng 24,2% so với cùng kỳ so với tăng 4,4% so với cùng kỳ trong 10 tháng đầu năm 2020. Một trong những dự án quan trọng là đầu tư bổ sung 1,5 tỷ USD vào nhà máy LG Display Hải Phòng vào ngày 31/8/2021 (tổng vốn đầu tư vào dự án này hiện là 4,65 tỷ USD).
Mặc dù vậy, các biện pháp hạn chế đi lại kéo dài tiếp tục cản trở các NĐT đưa ra quyết định đầu tư. Góp vốn mua cổ phần (3,63 tỷ USD) giảm 40,6% so với cùng kỳ so với giảm 43,5% so với cùng kỳ trong 10 tháng đầu năm 2020.
Đồng thời, Do các biện pháp phong tỏa, giãn cách xã hội và hạn chế di chuyển tại các tỉnh thành lớn dần được nới lỏng, tốc độ giải ngân vốn đầu tư công sẽ được đẩy nhanh trong phần còn lại của năm. Trong tháng 10/2021, đầu tư công đạt 41,7 nghìn tỷ đồng (tăng 18,6% so với tháng trước nhưng giảm 17,4% so với cùng kỳ) (Bảng 23). Trong 10 tháng đầu năm 2021, đầu tư (318,6 nghìn tỷ đồng) tương đương 64,7% kế hoạch năm 2021 của Chính phủ (477,3 so với cùng kỳ tỷ đồng) và giảm 8,3% so với cùng kỳ và thấp hơn so với mức tăng trong 10 tháng đầu năm 2020 (tăng 31,6% so với cùng kỳ).
Tính đến ngày 15/10/2021, thặng dư ngân sách nhà nước là 19,7 nghìn tỷ đồng so với thâm hụt 343,7 nghìn tỷ đồng theo kế hoạch năm 2021 (“Quyết định 1927” của Bộ Tài chính). Trong đó, thu ngân sách cao hơn (1.118,2 nghìn tỷ đồng, tương đương 83,2% kế hoạch năm 2021) so với chi ngân sách (1088,5 nghìn tỷ đồng, tương đương 65,1% kế hoạch năm 2021).
Doanh số bán lẻ tháng 10/2021 giảm 19,5% so với cùng kỳ nhưng tăng 18,1% so với tháng trước
Doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ hàng tháng (357,9 nghìn tỷ đồng) giảm 19,5% so với cùng kỳ nhưng tăng 18,1% so với tháng trước trong tháng 10/2021. Theo đó, doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ trong 10 tháng đầu năm 2021 (3.720,nghìn 4 tỷ đồng) giảm 8,6% so với cùng kỳ so với tăng 1,3% so với cùng kỳ trong 10 tháng đầu năm 2020.
Tổng doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ trong tháng 10/2021 giảm so với cùng kỳ do doanh số bán lẻ hàng hóa (304,7 nghìn tỷ đồng, giảm 13,5% so với cùng kỳ), doanh số bán lẻ dịch vụ lưu trú và ăn uống (27,6 nghìn tỷ đồng, giảm 37% so với cùng kỳ) và dịch vụ du lịch (0,4 nghìn tỷ đồng, giảm 63,4% so với cùng kỳ) (Bảng 24). Mặc dù vậy, doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ tăng 18,1% so với tháng trước nhờ các biện pháp phong tỏa dần được nới lỏng tại một số tỉnh thành trọng điểm, theo Nghị quyết 128, đưa ra các hướng dẫn theo cách tiếp cận “Thích ứng an toàn với COVID-19”.
Hoạt động di chuyển trong nước cũng cải thiện thông qua số lượng hành khách vận chuyển trong nước tăng 47,2% so với tháng trước nhưng vẫn giảm 58,1% so với cùng kỳ trong tháng 10/2021 (Bảng 14). Đáng chú ý, sau khi nối lại các chuyến bay nội địa và các hoạt động du lịch, doanh số bán lẻ dịch vụ lưu trú và ăn uống và dịch vụ du lịch tăng lần lượt 47,2% và 298,9% so với tháng trước.
Trong tháng 10/2021, tại miền Bắc, một số khu nghỉ dưỡng nổi tiếng như Melia Ba Vì Mountain Retreat, Avana Retreat, Mai Chau Hideaway, Serena Resort Kim Bôi, FLC Hạ Long đã hoạt động trở lại, một số nơi đã kín phòng trong các ngày cuối tuần.
Tại miền Nam và miền Trung, các khu nghỉ dưỡng biệt lập tại Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa như The Anam, Radisson Blu, Movenpick Cam Ranh, Cam Ranh Riviera, Noa Resort Cam Ranh cũng đã được cơ quan chức năng cho phép đón khách du lịch trở lại.
Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã cho phép khu nghỉ dưỡng Melia Hồ Tràm, khu nghỉ dưỡng & sòng bạc The Grand Hồ Tràm, suối nước nóng Bình Châu và khu nghỉ dưỡng Six Senses Côn Đảo mở cửa phục vụ khách du lịch trở lại.
Một yêu cầu chung cho tất cả các tour du lịch là khách du lịch phải được tiêm chủng đầy đủ với liều thứ 2 được tiêm ít nhất 14 ngày trước khi đến hoặc cung cấp giấy chứng nhận đã mắc COVID-19 và phục hồi. Ngoài ra, khách du lịch cũng phải xét nghiệm PCR âm tính trong vòng 72 giờ trước khi khởi hành (Mời xem: Nối lại các tour du lịch nội địa tại Việt Nam với các biện pháp phòng dịch nghiêm ngặt, ngày 2/11/2021, VnExpress).
Thời gian tới, chúng tôi kỳ vọng doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ sẽ tiếp tục hồi phục trong phần còn lại của năm trong bối cảnh hoạt động tiêm chủng trên toàn quốc đạt tốc độ ấn tượng.
Do hầu như không thực hiện các chuyến bay thương mại kể từ tháng 4/2020, lượng khách du lịch quốc tế giảm 28,8% so với cùng kỳ xuống còn 10,6 nghìn lượt (Bảng 25); những lượt khách này chủ yếu là các chuyên gia nước ngoài và lao động tay nghề cao đến từ Trung Quốc (3,3 nghìn lượt), Hàn Quốc (2,3 nghìn lượt), Nhật Bản (676 lượt), Mỹ (165 lượt) và châu Âu (1,5 nghìn lượt). Trong 10 tháng đầu năm 2021, tổng lượng khách du lịch đạt 125 nghìn lượt, giảm 96,7% so với cùng kỳ (so với giảm 73,8% so với cùng kỳ trong 10 tháng đầu năm 2020).
Biểu đồ 24: Doanh số bán lẻ sản phẩm, dịch vụ hàng tháng 
Biểu đồ 25: Lưu lượng khách quốc tế hàng tháng 
Biểu đồ 26: Lưu lượng khách di chuyển trong nước hàng tháng 
Về mặt tích cực, kể từ tháng 11/2021, Việt Nam sẽ chào đón khách du lịch quốc tế trong nỗ lực tái mở cửa dần lĩnh vực dịch vụ trong giai đoạn đại dịch.
Khánh Hòa, Quảng Nam và Phú Quốc bắt đầu nhận các chuyến bay với các du khách quốc tế tới từ Nhật Bản, Hàn Quốc và Mỹ từ tháng 11/2021.
Du khách quốc tế sẽ phải đối mặt với những yêu cầu chặt chẽ bao gồm tiêm chủng đầy đủ ít nhất 14 ngày trước khi khởi hành hoặc đã hồi phục sau khi mắc COVID-19 không quá 6 tháng trước khi khởi hành, theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Du khách phải được xét nghiệm âm tính COVID-19 trong vòng 72 tiếng trước khi khởi hành và phải tổ chức theo tour và bị hạn chế sử dụng dịch vụ và tham quan một số khu vực.
Bộ Giao thông Vận tải Việt Nam đã đề xuất kế hoạch 3 giai đoạn để nối lại các chuyến bay quốc tế thường xuyên vào năm tới, theo website Chính phủ. Giai đoạn đầu tiên sẽ bắt đầu vào Q1/2022 với các chuyến bay đến từ Pháp, Đức, Nga, Anh, Úc, Trung Quốc, Hồng Kông, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Singapore, Malaysia, Lào và Campuchia. (Mời xem: Vietnam bắt đầu mở cửa lại một cách hạn chế cho khách du lịch nước ngoài, 15/11/2021, Bloomberg).
Tiến độ này sát với quan điểm của chúng tôi rằng chìa khóa cho sự hồi sinh ngành du lịch của Việt Nam sẽ phụ thuộc vào việc dỡ bỏ rộng rãi các hạn chế di chuyển. Trước tình hình làn sóng dịch COVID-19 mới, theo quan điểm của chúng tôi, điều này sẽ không xảy ra ít nhất đến đầu Q1/2022.
Dự báo kinh tế vĩ mô của HSC 
Lịch sự kiện kinh tế quan trọng 
Các cổ phiếu HSC khuyến nghị
Nguồn: HSC
Tuyên bố miễn trách nhiệm: Báo cáo chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin và nhà đầu tư chỉ nên sử dụng báo cáo phân tích này như một nguồn tham khảo. Dautucophieu.net sẽ không chịu bất kỳ trách nhiệm nào trước nhà đầu tư cũng như đối tượng được nhắc đến trong báo cáo này về những tổn thất có thể xảy ra khi đầu tư hoặc những thông tin sai lệch về doanh nghiệp.

