DANH MỤC

Mobile / Fb / Zalo: 0912 842 224 | 0982 842 224

Cập nhật tình hình vĩ mô tới tháng 3/2020

Lượt xem: 575 - Ngày:
Chia sẻ

Báo cáo kinh tế hàng tháng: Triển vọng tăng trưởng năm 2020 gặp khó khăn

Số liệu kinh tế vĩ mô tháng 3/2020 và Q1/2020 công bố cho thấy tăng trưởng GDP thấp nhất kể từ cuộc khủng hoảng tài chính, áp lực lạm phát giảm cộng với số liệu thương mại, FDI, bán lẻ, du lịch kém khả quan. Và tất cả những điều này là do ảnh hưởng của dịch Covid-19.

Số liệu vĩ mô

  • Nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng 3,82% so với cùng kỳ trong Q1/2020; là tốc độ tăng trưởng thấp nhất kể từ Q1/2009 (là 3,12%). Tăng trưởng giảm tốc diễn ra ở hầu hết các ngành.
  • CPI hạ nhiệt (tăng 0,34% so với đầu năm) trong Q1/2020 do nhu cầu yếu đi và giá năng lượng giảm trước sự bùng phát của dịch Covid-19. Chúng tôi kỳ vọng áp lực lạm phát sẽ tiếp tục ở mức thấp trong những tháng tới nhờ giá năng lượng và giá hàng hóa cơ bản tiếp tục ở mức thấp, theo đó NHNN có thêm dư địa để thực hiện chính sách tiền tệ nhằm kích thích kinh tế.
  • Trong Q1/2020, hoạt động thương mại bị ảnh hưởng đáng kể của dịch Covid-19. Kim ngạch xuất khẩu tăng 0,5% so với cùng kỳ đạt 59,1 tỷ USD (Q1/2019 tăng 5,2% so với cùng kỳ) trong khi kim ngạch nhập khẩu giảm 1,9% so với cùng kỳ đạt 56,3 tỷ USD (Q1/2019 tăng 7,7% so với cùng kỳ). Cơ cấu kim ngạch thương mại cho thấy nông nghiệp, sắt thép, dệt may và sản xuất ô tô chịu ảnh hưởng nặng nề nhất.
  • Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Q1/2020 tăng trưởng kém nhất (tăng trưởng 5,3% so với cùng kỳ năm trước) kể từ Q1/2000 trong bối cảnh dịch Covid-19 khiến nhu cầu trong nước yếu đi và du lịch sụt giảm mạnh. Việt Nam đã thực hiện cách ly xã hội trong 15 ngày từ 1/4/2020, nên chúng tôi cho rằng doanh số bán lẻ sẽ tiếp tục giảm trong tháng 4 và thậm chí là cả những tháng sau đó. Chúng tôi cũng cho rằng lượng khách quốc tế đến Việt Nam cũng sẽ giảm ít nhất 50% trong năm 2020 trong khi tăng 16,2% trong năm 2019.

Điều chỉnh giảm mạnh dự báo tăng trưởng GDP

  • Theo chúng tôi, những trở lực như tăng trưởng của nền kinh tế thế giới chững lại và các động lực tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam gồm thương mại, sản xuất và dịch vụ tiếp tục gặp khó khăn sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong năm 2020. Hiện chúng tôi dự báo tăng trưởng GDP năm 2020 đạt 3,65%; thấp hơn 3,15 điểm phần trăm so với dự báo trước đó.
  • Kịch bản cơ sở của chúng tôi là Việt Nam sẽ khống chế hoàn toàn dịch Covid-19 vào cuối Q2/2020. Tuy nhiên sẽ phải mất thời gian lâu hơn thế để kinh tế thế giới hồi phục và dựa trên dự báo chung trên thị trường, chúng tôi giả định kinh tế thế giới sẽ tăng trưởng 0% đến -2% trong năm nay.
  • Nếu tình hình trở nên xấu đi với những giả định và khó khăn chúng tôi đưa ra kéo dài đến Q3/2020, tăng trưởng GDP năm 2020 của Việt Nam có thể rơi về 2,37%.

Thâm hụt ngân sách tăng lên mức 4,31% GDP

  • Tổng giá trị các gói kích thích tài khóa dành nền kinh tế hiện ước tính là 216 nghìn tỷ đồng (9,15 tỷ USD); tương đương 14,3% kế hoạch thu ngân sách năm 2020 và tương đương 3,6% GDP năm 2019. Với thu ngân sách giảm và chi ngân sách tăng; chúng tôi dự báo thâm hụt ngân sách sẽ tăng lên 4,31% GDP trong năm 2020.

Bảng 1: Xu hướng các chỉ số gần đây

Cập nhật tình hình vĩ mô tới tháng 3/2020

GDP tăng trưởng kém nhất kể từ Q1/2019

GDP của Việt Nam tăng trưởng 3,82% so với cùng kỳ trong Q1/2020; giảm mạnh từ mức tăng trưởng 6,97% so với cùng kỳ trong Q4/2019 và 6,82% trong Q1/2019. Đây là mức tăng trưởng kém nhất kể từ Q1/2019 (3,12%) và thấp hơn dự báo của Chính phủ là 4,52%. Tăng trưởng giảm tốc diễn ra ở hầu hết các ngành. 

Chúng tôi tin rằng tăng trưởng còn có xu hướng xấu đi trong Q2/2020, đặc biệt là ở khu vực công nghiệp & xây dựng (do vốn FDI và kim ngạch thương mại giảm trong bối cảnh chuỗi cung ứng bị gián đoạn và nhu cầu của nền kinh tế thế giới suy giảm) và khu vực dịch vụ (do cầu tiêu dùng trong nước và ngành du lịch suy giảm).

Theo khu vực: 1) khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chỉ tăng trưởng 0,08% so với cùng kỳ (Q4/2019 tăng trưởng 1,62% so với cùng kỳ và Q1/2019 tăng trưởng 2,81% so với cùng kỳ), đóng góp 10,24% vào GDP và đóng góp 0,01% vào mức tăng trưởng 3,82% của GDP chung; và đây là quý thứ 5 liên tiếp tăng trưởng của ngành này giảm tốc; 2) tăng trưởng khu vực công nghiệp và xây dựng giảm tốc còn 5,15% so với cùng kỳ (Q4/2019 tăng trưởng 7,92% so với cùng kỳ và Q1/2019 tăng trưởng 8,68% so với cùng kỳ), đóng góp 36,9% vào GDP và đóng góp 1,88% vào mức tăng trưởng 3,82% của GDP chung; 3) tăng trưởng khu vực dịch vụ ghi nhận mức thấp nhất từ khi số liệu này được công bố từ Q1/2000, chỉ tăng 3,27% so với cùng kỳ (Q4/2019 tăng trưởng 8,09% so với cùng kỳ và Q1/2019 tăng trưởng 6,5% so với cùng kỳ), đóng góp 40,3% vào GDP và đóng góp 1,33% vào mức tăng trưởng 3,82% của GDP chung (Hình 2, 3).

Nhìn sâu hơn vào cơ cấu GDP, các ngành có sự tăng trưởng cao (trên 7% so với cùng kỳ) gồm công nghiệp chế biến chế tạo (tăng trưởng 7,12% so với cùng kỳ và đóng góp 20,71% vào GDP); sản xuất và phân phối điện (tăng trưởng 7,46% so với cùng kỳ và đóng góp 4,97% vào GDP); thông tin và truyền thông (tăng trưởng 7,78% so với cùng kỳ và đóng góp 1,29% vào GDP); tài chính, ngân hàng và bảo hiểm (tăng trưởng 7,19% so với cùng kỳ và đóng góp 4,2% vào GDP); và y tế (tăng trưởng 9,97% so với cùng kỳ và đóng góp 1,39% vào GDP).

Những ngành có sự tăng trưởng âm gồm nông nghiệp (giảm 1,17% so với cùng kỳ trong khi Q4/2019 giảm 0,06% so với cùng kỳ và Q1/2019 tăng 1,93% so với cùng kỳ; đóng góp 7,27% vào GDP); khai khoáng (giảm 3,18% so với cùng kỳ trong khi Q4/2019 giảm 0,92% so với cùng kỳ và Q1/2019 giảm 0,03% so với cùng kỳ; đóng góp 5,34% vào GDP); vận tải và kho bãi (giảm 0,9% so với cùng kỳ trong khi Q4/2019 tăng 10,86% so với cùng kỳ và Q1/2019 tăng 7,58% so với cùng kỳ; đóng góp 3,04% vào GDP); dịch vụ lưu trú và ăn uống (giảm 11,04% so với cùng kỳ trong khi Q4/2019 tăng 7,4% so với cùng kỳ và Q1/2019 tăng 5,91% so với cùng kỳ; đóng góp 3,6% vào GDP).

Bảng 2: Cơ cấu GDP: tăng trưởng ngành công nghiệp & xây dựng và dịch vụ giảm tốc trong Q1/2020

 Cập nhật tình hình vĩ mô tới tháng 3/2020

Bảng 3: Chúng tôi tin rằng xu hướng tăng trưởng sẽ tiếp tục giảm trong Q2/2020

 Cập nhật tình hình vĩ mô tới tháng 3/2020

Tăng trưởng của ngành công nghiệp chế biến chế tạo giảm tốc trong Q1/2020 (Hình 4), đạt 7,12% so với cùng kỳ trong khi Q4/2019 tăng trưởng 10,86%; Q3/2019 tăng trưởng 11,96%; Q2/2019 tăng trưởng 10,9%; 1/2019 tăng trưởng 11,52%. Theo đó, tỷ trọng đóng góp vào tăng trưởng GDP trong Q1/2020 kém, chỉ dưới 2% (cụ thể là 1,44% trong mức tăng trưởng 3,82%). Tăng trưởng của ngành công nghiệp chế biến chế tạo kém đi là do giá trị một số sản phẩm chủ đạo tăng trưởng âm, gồm sản phẩm gỗ, dệt may, sản xuất xi măng, bê tông, và các sản phẩm từ xi măng và sản xuất xe có động cơ.

Tăng trưởng khu vực dịch vụ ở mức thấp kỷ lục với sự ảnh hưởng của một số ngành thành phần, gồm: bán buôn & bán lẻ (tăng trưởng 5,69% so với cùng kỳ trong Q1/2020 trong khi Q4/2019 tăng trưởng 9,82% so với cùng kỳ và Q1/2019 tăng trưởng 10,99% so với cùng kỳ; đóng góp 10,99% vào GDP); vận tải và kho bãi (giảm 0,9% so với cùng kỳ trong Q1/2020 trong khi Q4/2019 tăng trưởng 10,86% so với cùng kỳ và Q1/2019 tăng trưởng 7,58% so với cùng kỳ); dịch vụ lưu trú và ăn uống (giảm 11,04% so với cùng kỳ trong Q1/2020 trong khi Q4/2019 tăng trưởng 7,4% so với cùng kỳ và Q1/2019 tăng trưởng 5,91% so với cùng kỳ); kinh doanh bất động sản (tăng trưởng 2,65% so với cùng kỳ trong Q1/2020 trong khi Q4/2019 tăng trưởng 4,87% so với cùng kỳ và Q1/2019 tăng trưởng 4,75% so với cùng kỳ; đóng góp 5,68% vào GDP);

Bảng 4: Cơ cấu GDP

Cập nhật tình hình vĩ mô tới tháng 3/2020

Chúng tôi cho rằng tăng trưởng GDP sẽ tiếp tục giảm tốc trong những quý tới, chủ yếu do ảnh hưởng của khu vực công nghiệp & xây dựng (do vốn FDI và kim ngạch thương mại giảm trong bối cảnh chuỗi cung ứng bị gián đoạn và nhu cầu thế giới giảm) và khu vực dịch vụ (do sức cầu tiêu dùng trong nước yếu đi và du lịch suy giảm).

Kịch bản cơ sở của chúng tôi là Việt Nam sẽ khống chế hoàn toàn được dịch Covid-19 vào cuối Q2/2020. Tuy nhiên sẽ phải mất thời gian lâu hơn thế để kinh tế thế giới hồi phục và dựa trên dự báo chung trên thị trường, chúng tôi giả định kinh tế thế giới sẽ tăng trưởng 0% đến -2% trong năm nay.

Đối với Việt Nam, chúng tôi dự báo tăng trưởng GDP đạt 3,65% trong năm 2020 trước khi hồi phục trong năm 2021-2022. Chúng tôi thấy tăng trưởng GDP có thể đạt thấp hơn trong năm 2020 nếu dịch Covid-19 kéo dài đến Q3/2020 – kịch bản tiêu cực của chúng tôi, khi đó tăng trưởng GDP năm 2020 có thể giảm về 2,37%.

Lạm phát giảm tốc tháng thứ hai liên tiếp.

CPI đã hạ nhiệt trong tháng 2 và tháng 3 do nhu cầu yếu đi và giá năng lượng giảm trước tác động của dịch Covid-19. CPI tổng thể tăng 0,34% kể từ đầu năm trong Q1/2020 (giảm tốc từ mức tăng 0,69% trong Q1/2019).

Chúng tôi kỳ vọng áp lực lạm phát sẽ tiếp tục ở mức thấp trong những tháng tới nhờ giá năng lượng và giá hàng hóa cơ bản tiếp tục ở mức thấp. 

Lạm phát giảm đồng nghĩa NHNN sẽ có thêm dư địa để thực hiện kích thích kinh tế bằng chính sách tiền tệ. Chúng tôi kỳ vọng NHNN sẽ giảm các lãi suất điều hành (lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu) trong nửa cuối năm 2020.

Trong tháng 3/2020, tốc độ tăng CPI tổng thể so với cùng kỳ giảm còn 4,87% từ 5,4% trong tháng 2/2020 và 6,43% trong tháng 1/2020 (Hình 5); là tháng thứ 4 liên tiếp CPI so với cùng kỳ tăng trên 4%. Những nhân tố chủ chốt là: lương thực & thực phẩm (tăng 10,42% so với cùng kỳ trong khi tháng 2/2020 tăng 9,32%; tháng 1/2020 tăng 10,93%); nhà ở & vật liệu xây dựng (tăng 4,45% so với cùng kỳ trong khi tháng 2/2020 tăng 5,53%; tháng 1/2020 tăng 6,29%) (Hình 6). Tính từ đầu năm, CPI tổng thể tăng 0.34% so với cuối năm 2019 (giảm từ mức tăng 0,69% trong Q1/2019).

So với tháng liền trước, CPI tháng 3 giảm 0,72% (tháng 2/2020 giảm 0,17% và tháng 1/2020 tăng 1,23%). Đóng góp lớn nhất vào sự sụt giảm của CPI tháng 3 so với tháng liền trước là nhóm giao thông (giảm 4,87% so với tháng liền trước trong khi tháng 2/2020 giảm 2,5% so với tháng liền trước) do giá dầu giảm. Giá thịt lợn, thịt gia cầm tươi sống & trứng, thủy sản và rau tươi giảm khiến nhóm thực phẩm giảm 0,89% (tháng 2/2020 giảm 0,07% so với tháng liền trước). Giá gas giảm giúp nhóm hàng nhà ở & vật liệu xây dựng giảm 0,25% so với tháng liền trước trong tháng 3 (tháng 2/2020 giảm 0,03% so với tháng liền trước).

Trong khi đó, lạm phát cơ bản – không bao gồm lương thực, năng lượng, mặt hàng do nhà nước quản lý gồm y tế và giáo dục – cũng hạ nhiệt trong tháng 3, tăng 2,95% so với cùng kỳ và giảm 0,06% so với tháng trước (tháng 2/2020 tăng 2,94% so với cùng kỳ và tăng 0,17% so với tháng trước).

Chúng tôi kỳ vọng áp lực lạm phát từ các nhân tố trên sẽ tiếp tục thấp trong những tháng tới và duy trì dự báo lạm phát cả năm (CPI bình quân 12 tháng so với năm trước) là 4% cho năm 2020.

Bảng 5: Lạm phát tổng thể giảm trong tháng 2 và tháng 3 những vẫn trên mức 4%

Cập nhật tình hình vĩ mô tới tháng 3/2020

Bảng 6: Nhân tố lạm phát chính trong tháng 3/2020: lương thực & thực phẩm, nhà ở và xây dựng

Cập nhật tình hình vĩ mô tới tháng 3/2020

Tăng trưởng của ngành chế biến chế tạo giảm tốc trong Q1/2020

Chỉ số ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 7,25% so với cùng kỳ trong Q1/2020; thấp hơn nhiều mức tăng 11,1% so với cùng kỳ trong Q1/2019.

Chỉ số PMI ngành sản xuất trong tháng 3 giảm xuống mức thấp kỷ lục là 41,9; do các chỉ số thành phần là sản lượng, đơn hàng mới và việc làm giảm. Trong tương lai, việc PMI ở dưới mốc 50 (cho thấy sự thu hẹp của ngành sản xuất) trong tháng 4 không có gì bất ngờ trong bối cảnh các biện pháp chống dịch hiện đang được đẩy mạnh trên thế giới. 

Bảng 7: Chỉ số ngành công nghiệp chế biến chế tạo giảm tốc trong khi chỉ số PMI giảm xuống mức thấp kỷ lục

Cập nhật tình hình vĩ mô tới tháng 3/2020

Bảng 8: Tăng trưởng các nhóm ngành chính giảm trong tháng 3/2020

Cập nhật tình hình vĩ mô tới tháng 3/2020

Bảng 9: Vốn FDI cam kết từ đầu năm đến nay: Vốn FDI bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19, với vốn FDI cam kết tăng trưởng âm (giảm 20,9% so với cùng kỳ trong Q1/2020)

Cập nhật tình hình vĩ mô tới tháng 3/2020

Bảng 10: Khu vực châu Á là nguồn FDI đăng ký mới chin

Cập nhật tình hình vĩ mô tới tháng 3/2020

Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 5,96% so với cùng kỳ trong tháng 3/2020 (tháng 3/2019 tăng 6,29% so với cùng kỳ) và tăng 5,78% so với cùng kỳ trong Q1/2020 (Q1/2019 tăng 9,16% so với cùng kỳ); chỉ số ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 6,92% so với cùng kỳ trong tháng 3/2020 (tháng 3/2019 tăng 5,74% so với cùng kỳ) và tăng 7,25% so với cùng kỳ trong Q1/2020 (Q1/2019 tăng 11,1% so với cùng kỳ).

Chỉ số sản xuất công nghiệp trong tháng 3 và Q1/2020 tăng nhờ sự ảnh hưởng của:

  1. Sản xuất thiết bị truyền thông: điện thoại và các sản phẩm có liên quan (tăng 19% so với vùng kỳ trong tháng 3/2020 và tăng 15,1% so với cùng kỳ trong Q1/2020 trong khi tháng 2/2020 tăng 22,1% so với cùng kỳ; tháng 1/2020 giảm 5,1% so với cùng kỳ còn Q1/2019 tăng 0,9% so với cùng kỳ) và linh kiện điện tử (tăng 11,2% so với vùng kỳ trong tháng 3/2020 và tăng 13,7% so với cùng kỳ trong Q1/2020 trong khi tháng 2/2020 tăng 34,4% so với cùng kỳ; tháng 1/2020 giảm 1,2% so với cùng kỳ còn Q1/2019 tăng 3,5% so với cùng kỳ) (Hình 5);
  2. Sản phẩm dầu mỏ tinh chế (tăng 56,7% so với vùng kỳ trong tháng 3/2020 và tăng 23,9% so với cùng kỳ trong Q1/2020 trong khi tháng 2/2020 tăng 14,6% so với cùng kỳ; tháng 1/2020 tăng 9,3% so với cùng kỳ còn Q1/2019 tăng 97% so với cùng kỳ); và
  3. Sản xuất & phân phối điện (tăng 14,5% so với vùng kỳ trong tháng 3/2020 và tăng 7,1% so với cùng kỳ trong Q1/2020 trong khi tháng 2/2020 tăng 13,6% so với cùng kỳ; tháng 1/2020 tăng 0,9% so với cùng kỳ còn Q1/2019 tăng 9,4% so với cùng kỳ).

Trong khi đó, những lĩnh vực chủ chốt khác chứng kiến sự tăng trưởng âm trong Q1/2020 gồm khai khoáng (giảm 5,2% so với vùng kỳ trong khi Q1/2019 giảm 2,1% so với cùng kỳ); bia (giảm 18% so với vùng kỳ trong khi Q1/2019 tăng 11,9% so với cùng kỳ); gỗ (giảm 5,1% so với vùng kỳ trong khi Q1/2019 tăng 13,3% so với cùng kỳ); máy móc và thiết bị văn phòng (giảm 13,2% so với vùng kỳ trong khi Q1/2019 tăng 22,7% so với cùng kỳ); dệt may (giảm 10,7% so với vùng kỳ trong khi Q1/2019 tăng 13,4% so với cùng kỳ) và sản xuất xe có động cơ (giảm 1,7% so với vùng kỳ trong khi Q1/2019 tăng 28,7% so với cùng kỳ).

Chỉ số PMI ngành sản xuất giảm xuống 41,9; mức thấp nhất kể từ khi chỉ số này được công bố vào tháng 3/2011; các chỉ số thành phần là sản lượng, đơn hàng mới và việc làm giảm xuống mức thấp nhất từ trước đến nay.

Chỉ số PMI (được tính dựa trên bảng câu hỏi hàng tháng gửi đến các nhà quản trị mua hàng tại khoảng 400 doanh nghiệp sản xuất) đã giảm xuống dưới mức 50 trong tháng thứ 2 liên tiếp; cho thấy sự thu hẹp hoạt động kinh doanh trong bối cảnh những biện pháp khống chế dịch Covid-19 được thực hiện ngày càng ảnh hưởng đến nền kinh tế (Hình 4). Trong tương lai, việc PMI ở dưới mốc 50 (cho thấy sự thu hẹp của ngành sản xuất) trong tháng 4 không có gì bất ngờ trong bối cảnh các biện pháp chống dịch hiện đang được đẩy mạnh trên thế giới (tạm dừng hoạt động kinh doanh, cấm đi lại, phong tỏa các thành phố, giãn cách xã hội…)

Tăng trưởng FDI giải ngân được điều chỉnh xuống -4% từ 6,7% trong năm 2019

Trong Q1/2020, vốn FDI cam kết và giải ngân ước lần lượt đạt 8,6 tỷ USD (giảm 20,9% so với cùng kỳ) và 3,9 tỷ USD (giảm 6,6% so với cùng kỳ). Trong năm 2020, trước ảnh hưởng của dịch Covid-19, nhà đầu tư sẽ có thêm động lực để đa dạng hóa cơ sở sản xuất ra khỏi Trung Quốc nhằm giảm rủi ro. Nhưng mặt khác, sự lây lan của dịch Covid-19 trên thế giới cũng khiến vốn FDI giảm tạm thời. Chúng tôi đã điều chỉnh giảm dự báo vốn FDI giải ngân cho năm 2020 từ 21,7 tỷ USD xuống còn 19,6 tỷ USD; giảm 4% so với mức tăng 6,7% trong năm 2019.

Trong Q1/2020, vốn FDI cam kết và giải ngân ước lần lượt đạt 8,6 tỷ USD (giảm 20,9% so với cùng kỳ) và 3,9 tỷ USD (giảm 6,6% so với cùng kỳ). Trong đó, ngành công nghiệp chế biến chế tạo chiếm 31,9%, hoạt động kinh doanh bất động sản chiếm 3,1% và ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt chiếm 47,5% tổng vốn FDI đăng ký (Hình 9).

Dịch Covid-19 đã tạo ra trở ngại mới đối với dòng vốn FDI trong năm 2020, đó là sự suy giảm vốn FDI từ các nước rót vốn chủ chốt đã thể hiện rõ trong Q1/2020 gồm Trung Quốc (giảm 37% so với cùng kỳ trong khi Q1/2019 tăng 251,5% so với cùng kỳ); Hàn Quốc (giảm 48% so với cùng kỳ trong khi Q1/2019 tăng 11% so với cùng kỳ); Nhật Bản (giảm 74,5% so với cùng kỳ trong khi Q1/2019 tăng 77,5% so với cùng kỳ); (Hình 7). Điều này cho thấy xu hướng gia tăng dịch chuyển chuỗi cung ứng và nhà máy của các doanh nghiệp Trung Quốc sang các nước láng giềng (gồm có Việt Nam) như trong năm 2019 đã tạm thời bị gián đoạn và có lẽ sẽ chưa hồi phục cho đến năm 2021.

Chúng tôi duy trì quan điểm là khi dịch bệnh được khống chế, vốn FDI (từ các doanh nghiệp nước ngoài tại Trung Quốc) sẽ tiếp tục xu hướng chuyển ra khỏi Trung Quốc đến Việt Nam.

Tuy nhiên, mặc dù xu hướng dài hạn vẫn tích cực, trong ngắn hạn vẫn có sự gián đoạn, theo đó chúng tôi điều chỉnh giảm dự báo vốn FDI giải ngân trong năm 2020 xuống còn 19,6 tỷ USD từ 21,7 tỷ USD trước đó. Dự báo mới cho thấy vốn FDI giải ngân trong năm 2020 giảm 4% so với mức tăng 6,7% trong năm 2019.

Thương mại: một số ngành bị ảnh hưởng nặng nề hơn các ngành khác

Trong Q1/2020, hoạt động thương mại nói chung đã chịu ảnh hưởng đáng kể của dịch Covid-19. Kim ngạch xuất khẩu (đạt 59,1 tỷ USD) tăng 0,5% so với cùng kỳ (Q1/2019 tăng 5,2% so với cùng kỳ) trong khi kim ngạch nhập khẩu (đạt 56,3 tỷ USD) giảm 1,9% so với cùng kỳ (Q1/2019 tăng 7,7% so với cùng kỳ). Với kim ngạch nhập khẩu thấp hơn kim ngạch xuất khẩu, Việt Nam ước tính xuất siêu 2,82 tỷ USD trong Q1/2020 (Q1/2019 xuất siêu 1,46 tỷ USD). Cơ cấu kim ngạch thương mại cho thấy nông nghiệp, sắt thép, dệt may và ô tô chịu ảnh hưởng nặng nề nhất.

Trong bối cảnh chính quyền các nước trên thế giới đang chống dịch, thì sự suy giảm tăng trưởng hay thậm chí là suy thoái toàn cầu đang trở thành một rủi ro đáng kể. Điều này có thể ảnh hưởng đến tình hình thương mại thế giới và kim ngạch xuất khẩu có thể sẽ chịu ảnh hưởng lớn hơn trong những tháng tới. Có một điểm sáng là chúng tôi kỳ vọng xuất khẩu sang thị trường EU (chiếm 15,8% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2019) sẽ tăng tốc trong năm 2020 sau khi EVFTA có hiệu lực.

Chúng tôi dự báo tỷ giá USD/VND sẽ tăng 2,5% trong năm 2020

Số liệu ước tính của Tổng cục thống kê cho thấy kim ngạch xuất khẩu trong tháng 3/2020 giảm 12,1% so với cùng kỳ trong khi tháng 2 tăng 50,3% so với cùng kỳ (sau khi điều chỉnh từ mức tăng 34% so với cùng kỳ trước đó) và tháng 3/2019 tăng 7% so với cùng kỳ; và giảm 4,1% so với tháng trước (tháng 2/2020 tăng 13,8% so với tháng trước). Động lực chính khiến kim ngạch xuất khẩu tháng 3/2020 giảm so với cùng kỳ là: dệt may (giảm 29% so với cùng kỳ; tháng 3/2019 tăng 8,8% so với cùng kỳ); giầy dép (giảm 15,9% so với cùng kỳ; tháng 3/2019 tăng 9,7% so với cùng kỳ); điện thoại các loại và linh kiện (giảm 10,8% so với cùng kỳ; tháng 3/2019 tăng 2,2% so với cùng kỳ); thủy sản (giảm 11,9% so với cùng kỳ; tháng 3/2019 tăng 2,2% so với cùng kỳ) (Hình 11).

Kim ngạch nhập khẩu trong tháng 3/2020 giảm 10,1% so với cùng kỳ trong khi tháng 2 tăng 26,6% so với cùng kỳ và tháng 3/2019 tăng 11,1% so với cùng kỳ; và tăng 2,3% so với tháng trước (tháng 2/2020 giảm 0,1% so với tháng trước). Động lực chính khiến kim ngạch nhập khẩu tháng 3/2020 giảm so với cùng kỳ là: máy móc thiết bị (giảm 14,2% so với cùng kỳ; tháng 3/2019 tăng 14,2% so với cùng kỳ); nguyên phụ liệu dệt may, da giầy (giảm 23,5% so với cùng kỳ; tháng 3/2019 tăng 6,4% so với cùng kỳ); vải (giảm 25,9% so với cùng kỳ; tháng 3/2019 tăng 20,4% so với cùng kỳ); ô tô (giảm 36,7% so với cùng kỳ; tháng 3/2019 tăng 66,7% so với cùng kỳ); sắt thép (giảm 20,3% so với cùng kỳ; tháng 3/2019 tăng 19,7% so với cùng kỳ) (Hình 12).

Bảng 11: Kim ngạch xuất khẩu tháng 3/2020 giảm 12,1% so với cùng kỳ, các nhóm hàng chính đóng góp vào sự suy giảm kim ngạch là dệt may, giày dép, điện thoại, ĐTDĐ & linh kiện và thủy sản.

Cập nhật tình hình vĩ mô tới tháng 3/2020

Bảng 12: Kim ngạch nhập khẩu tháng 3/2020 giảm 10,1% so với cùng kỳ, các nhóm hàng chính đóng góp vào sự suy giảm kim ngạch là máy móc & thiết bị, nguyên phụ liệu dệt may, da giày, vải, ô tô, sắt và thép.

Cập nhật tình hình vĩ mô tới tháng 3/2020

Trong Q1/2020, kim ngạch thương mại chịu ảnh hưởng đáng kể của dịch Covid-19. Kim xuất khẩu (59,1 tỷ USD) tăng 0,5% so với cùng kỳ (Q1/2019 tăng 5,2% so với cùng kỳ) trong khi kim ngạch nhập khẩu (56,3 tỷ USD) giảm 1,9% so với cùng kỳ (Q1/2019 tăng 7,7% so với cùng kỳ). Với kim ngạch nhập khẩu thấp hơn kim ngạch xuất khẩu, Việt Nam ước tính xuất siêu 2,82 tỷ USD trong Q1/2020 (Q1/2019 xuất siêu 1,46 tỷ USD).

Nhìn vào cơ cấu kim ngạch xuất khẩu có thể thấy những nhóm hàng chính khiến tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu Q1/2020 giảm là: hàng dệt, may (giảm 8,9% so với cùng kỳ trong khi Q1/2019 tăng 10,7% so với cùng kỳ), đóng góp 11% vào tổng kim ngạch xuất khẩu; giày dép (giảm 1,9% so với cùng kỳ trong khi Q1/2019 tăng 14% so với cùng kỳ), đóng góp 6,5% vào tổng kim ngạch xuất khẩu; các phương tiện vận tải khác (giảm 5,5% so với cùng kỳ trong khi Q1/2019 tăng 5,6% so với cùng kỳ), đóng góp 2,7% vào tổng kim ngạch xuất khẩu; sắt thép (giảm 15,4% so với cùng kỳ trong khi Q1/2019 tăng 8,9% so với cùng kỳ), đóng góp 1,6% vào tổng kim ngạch xuất khẩu; hàng rau quả (giảm 11,5% so với cùng kỳ trong khi Q1/2019 giảm 3% so với cùng kỳ, Trung Quốc đóng góp 65% vào tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2019), đóng góp 1,4% vào tổng kim ngạch xuất khẩu.

Trái lại, nhóm hàng điện tử đóng góp 34,8% vào tổng kim ngạch xuất khẩu trong Q1/2020 và vẫn duy trì được đà tăng trưởng dương với điện thoại các loại tăng 2% so với cùng kỳ (Q1/2019 giảm 3,7% so với cùng kỳ), đóng góp 20,9% vào tổng kim ngạch xuất khẩu; máy vi tính & các sản phẩm điện tử tăng 16,2% so với cùng kỳ (Q1/2019 tăng 10,5% so với cùng kỳ), đóng góp 13,9% vào tổng kim ngạch xuất khẩu (Hình 13).

Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng xuất khẩu sản phẩm điện tử sẽ gặp khó khăn đáng kể do tăng trưởng của nền kinh tế thế giới giảm tốc, ít nhất là trong Q2 năm nay. Trong một báo cập nhật gần đây, Samsung Việt Nam dự kiến kim ngạch xuất khẩu giảm 5,8 tỷ USD, tương đương 11% trong năm 2020 còn 45,5 tỷ USD do nhu cầu tại Châu Âu và Mỹ suy giảm (hai thị trường này chiếm 1/2 kim ngạch xuất khẩu của Samsung Việt Nam). (Samsung Việt Nam lo ngại xuất khẩu giảm 11%, VNExpress, ngày 3/4/2020).

Bảng 13: Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu trong Q1/2020: Các nhóm hàng chính

Cập nhật tình hình vĩ mô tới tháng 3/2020

Những nhóm hàng chính khiến kim ngạch nhập khẩu Q1/2020 giảm là: máy móc thiết bị (giảm 8,6% so với cùng kỳ trong khi Q1/2019 tăng 14,7% so với cùng kỳ), đóng góp 13,9% vào tổng kim ngạch nhập khẩu; vải (giảm 17,7% so với cùng kỳ trong khi Q1/2019 tăng 5% so với cùng kỳ, Trung Quốc chiếm 58,3% tổng kim ngạch nhập khẩu vải trong năm 2019), đóng góp 4,2% vào tổng kim ngạch nhập khẩu; sắt thép (giảm 16% so với cùng kỳ trong khi Q1/2019 tăng 2,8% so với cùng kỳ, Trung Quốc chiếm 34,7% tổng kim ngạch nhập khẩu sắt thép trong năm 2019), đóng góp 3,4% vào tổng kim ngạch nhập khẩu; ô tô (giảm 24,4% so với cùng kỳ trong khi Q1/2019 tăng 107% so với cùng kỳ), đóng góp 2,5% vào tổng kim ngạch nhập khẩu; nguyên phụ liệu dệt may, da giầy (giảm 14,5% so với cùng kỳ trong khi Q1/2019 tăng 2,5% so với cùng kỳ, Trung Quốc chiếm 49,1% tổng kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu dệt may, da giầy trong năm 2019), đóng góp 2% vào tổng kim ngạch nhập khẩu. Nhập khẩu nguyên liệu giảm, chủ yếu do hạn chế biên mậu với Trung Quốc lý giải cho việc tăng trưởng xuất khẩu chậm lại, đặc biệt là sản phẩm dệt may và thép. Nhu cầu thế giới và đơn hàng mới giảm – như trong trường hợp của mặt hàng dệt may – có thể sẽ làm giảm nhập khẩu từ Trung Quốc trong năm 2020 (năm 2019 tăng 14,9%).

Trái lại, nhóm hàng điện tử đóng góp 29% vào tổng kim ngạch nhập khẩu trong Q1/2020 và vẫn duy trì được đà tăng trưởng dương: máy vi tính & các sản phẩm điện tử (tăng 11,8% so với cùng kỳ trong khi Q1/2019 tăng 11,9% so với cùng kỳ), đóng góp 23,4% vào tổng kim ngạch nhập khẩu; điện thoại các loại & linh kiện (tăng 14,1% so với cùng kỳ trong khi Q1/2019 giảm 16,6% so với cùng kỳ), đóng góp 5,6% vào tổng kim ngạch nhập khẩu. Điều này cho thấy doanh nghiệp sản xuất hàng điện tử tại Việt Nam vẫn nhập được nguyên liệu và linh kiện từ Trung Quốc (chiếm 51,9% tổng kim ngạch nhập khẩu ĐTDĐ và linh kiện trong năm 2019) và các nhà cung cấp khác mặc dù hoạt động giao thương qua biên giới bị hạn chế do ảnh hưởng của các biện pháp giữ an toàn trong thời gian có dịch bệnh.

Bảng 14: Tăng trưởng kim ngạch nhập khẩu trong Q1/2020: Các nhóm hàng chính

Cập nhật tình hình vĩ mô tới tháng 3/2020

Mặc dù thị trường ngoại hối chịu áp lực trong tháng 3/2020; đặc biệt từ việc NĐTNN bán ròng trên thị trường chứng khoán (ước tính khối ngoại bán ròng 8.714 nghìn tỷ đồng; tương đương 369 triệu USD trên HSX trong Q1/2020) (Hình 15); chúng tôi kỳ vọng tỷ giá sẽ khá ổn định trong năm 2020 và dự trữ ngoại hối sẽ vẫn ở trên 3,5 tháng nhập khẩu.

Chúng tôi cho rằng tỷ giá USD/VND sẽ không tăng quá 2,5% trong năm 2020 do tỷ giá (liên ngân hàng) vẫn nằm trong biên độ +/- 3% so với tỷ giá trung tâm do NHNN công bố (tỷ giá chính thức), và tỷ giá tự do vẫn chưa vượt quá cận trên của biên độ giao dịch (Hình 15).

Theo như thông tin công bố trên website, NHNN cho biết có đủ nguồn ngoại hối để can thiệp thị trường nếu cần thiết (NHNN cho biết sẵn sàng can thiệp nhằm ổn định thị trường ngoại hối, Bloomberg, ngày 23/3/2020).

Bảng 15: NĐTNN bán ròng 369 triệu USD trên thị trường chứng khoán trong Q1/2020

Cập nhật tình hình vĩ mô tới tháng 3/2020

Bảng 16: Chúng tôi cho rằng tỷ giá USD/VND sẽ không tăng quá 2,5% trong năm 2020

Cập nhật tình hình vĩ mô tới tháng 3/2020

Doanh số bán lẻ và ngành du lịch chịu ảnh hưởng nặng nề từ dịch Covid19

Doanh số bán lẻ hàng hóa và dịch vụ Q1/2020 chứng kiến mức tăng  trưởng so với cùng kỳ thấp nhất (tăng 5,3%) kể từ Q1/2000 do ảnh hưởng của dịch Covid-19. Dịch bệnh đã khiến nhu cầu trong nước yếu đi và ngành du lịch suy giảm mạnh. Việt Nam đã bắt đầu thực hiện cách ly xã hội trong 15 ngày từ ngày 1/4/2020, nên chúng tôi cho rằng doanh số bán lẻ sẽ tiếp tục giảm trong tháng 4 và có thể là các tháng sau đó. Chúng tôi cũng cho rằng lượng khách quốc tế đến Việt Nam sẽ giảm 50% trong năm nay (năm 2019 tăng 16,2%). 

Doanh số bán lẻ đạt 1.246,1 nghìn tỷ đồng trong Q1/2020 (tăng 5,3% so với cùng kỳ, so với mức tăng 12,9% so với cùng kỳ trong Q1/ 2019), với tháng 3/2020 giảm 0,3% so với cùng kỳ (so với mức tăng 13,5% so với cùng kỳ trong tháng 3/2019), dựa trên tính toán của chúng tôi (Hình 17).

Doanh số bán lẻ đạt mức tăng trưởng thấp nhất từ khi số liệu này được công bố do nhu cầu tiêu dùng nội địa suy yếu và ngành du lịch sụt giảm. Lượng khách du lịch giảm đáng kể trong tháng 3/2020; và đáng chú ý, khách từ Trung Quốc (đạt 33,2 nghìn lượt, giảm 91,5% so với cùng kỳ và giảm 82,9% so với tháng trước); Hàn Quốc (đạt 28,7 nghìn lượt, giảm 91,4% so với cùng kỳ và giảm 91,1% so với tháng trước), Nhật Bản (đạt 37,3 nghìn lượt, giảm 54,8% so với cùng kỳ và giảm 49,5% so với tháng trước); Mỹ (đạt 17,6 nghìn lượt, giảm 71,6% so với cùng kỳ và giảm 69,8% so với tháng trước) và Châu Âu (đạt 162,2 nghìn lượt, giảm 27,5% so với cùng kỳ và giảm 33,2% so với tháng trước). Trong Q1/2020, lượng khách du lịch đạt 3,7 triệu lượt, giảm 18,1% so với cùng kỳ (Q1/2019 tăng 7% so với cùng kỳ) (Hình 18). Chúng tôi cũng cho rằng lượng khách du lịch sẽ giảm 50% trong năm nay (năm 2019 tăng 16,2%).

Xu hướng trên đã ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng doanh số của ngành dịch vụ lữ hành và dịch vụ khác (giảm 10,9% so với cùng kỳ trong tháng 3/2020 trong khi tăng 10,5% so với cùng kỳ trong tháng 3/2019; giảm 0,5% so với cùng kỳ trong Q1/2020 trong khi tăng 6,7% so với cùng kỳ trong Q1/2019) và dịch vụ lưu trú & ăn uống (giảm 26,8% so với cùng kỳ trong tháng 3/2020 trong khi tăng 8% so với cùng kỳ trong tháng 3/2019; giảm 9,6% so với cùng kỳ trong Q1/2020 trong khi tăng 8,9% so với cùng kỳ trong Q1/2019) (Hình 17).

Do Việt Nam dừng toàn bộ cách chuyến bay quốc tế và giảm các chuyến bay nội địa, nên Vietnam Airlines ước tính doanh thu có thể giảm 50 nghìn tỷ đồng (2,1 tỷ USD); tương đương giảm 65% so với kế hoạch doanh thu đề ra cho năm 2020 (10.000 nhân viên Vietnam Airlines nghỉ không lương do cuộc khủng hoảng Covid-19, VNExpress, ngày 3/4/2020).

Tuy nhiên, tăng trưởng doanh số bán lẻ hàng hóa (chiếm 79,1% tổng doanh số bán lẻ trong Q1/2020) chịu ảnh hưởng ít hơn, vẫn tăng 8,4% so với cùng kỳ trong Q1/2020; nhưng đây vẫn là mức tăng trưởng thấp nhất trong các Q1 kể từ khi số liệu này được thu thập vào tháng 12/2000.

Bảng 17: Doanh số bán lẻ hàng tháng giảm do tác động của dịch COVID-19 đối với nhu cầu trong nước

Cập nhật tình hình vĩ mô tới tháng 3/2020

Bảng 18: Lượt khách du lịch suy yếu – 3,7 triệu lượt trong Q1/2020, giảm 18,1% so với cùng kỳ

Cập nhật tình hình vĩ mô tới tháng 3/2020

Việt Nam đã bắt đầu thực hiện cách ly xã hội trong 15 ngày từ ngày 1/4/2020, người dân phải ở trong nhà và chỉ được phép đi ra ngoài khi thực sự cần thiết, chẳng hạn như đi mua thực phẩm, thuốc men, sử dụng dịch vụ y tế khẩn cấp hoặc đi làm tại các doanh nghiệp được phép hoạt động (Việt Nam yêu cầu cách ly xã hội từ ngày 1/4/2020, Bloomberg, ngày 1/4/2020), chúng tôi cho rằng doanh số bán lẻ sẽ tiếp tục giảm trong tháng 4 và cả những tháng sau đó.

Tăng trưởng GDP của Việt Nam sẽ giảm mạnh – chúng tôi điều chỉnh giảm dự báo tăng trưởng còn 3,65% từ 6,8% trong dự báo trước đó

Do sự sụt giảm tăng trưởng trong nửa đầu năm 2020 là không thể tránh khỏi, nên nửa cuối năm tăng trưởng sẽ cần phải có sự hồi phục mạnh mẽ để có thể đạt mục tiêu đề ra cho cả năm. Chúng tôi cho rằng gần như không thể đạt được sự hồi phục mạnh như vậy trước những trở ngại như sự tăng trưởng chậm lại của nền kinh tế thế giới và các động lực tăng trưởng tiếp tục bị ảnh hưởng tiêu cực như thương mại, sản xuất và dịch vụ.

Kịch bản cơ sở của chúng tôi là Việt Nam sẽ khống chế hoàn toàn được dịch Covid-19 vào cuối Q2/2020. Tuy nhiên sẽ phải mất thời gian lâu hơn thế để kinh tế thế giới hồi phục và dựa trên dự báo chung trên thị trường, chúng tôi giả định kinh tế thế giới sẽ tăng trưởng 0% đến -2% trong năm nay. 

Hiện chúng tôi dự báo tăng trưởng kinh tế năm 2020 sẽ giảm 3,15% so với dự báo trước đó xuống còn 3,65%.

Một mặt, các biện pháp của chính phủ trong ứng phó không để dịch bệnh bùng phát mạnh là hợp lý nhưng mặt khác chúng tôi cho rằng thâm hụt tài khóa sẽ tăng vượt mục tiêu ban đầu của chính phủ cho năm 2020. Chúng tôi đã điều chỉnh dự báo thâm hụt ngân sách cho năm 2020 lên 4,31% GDP từ 3,78% GDP (mục tiêu của chính phủ là 3,44% GDP); những giả định chính là: thu ngân sách từ thuế & từ dầu thô giảm, tốc độ giải ngân vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước tăng.

Triển vọng tăng trưởng kém nhất từ năm 1988

Mặc dù hiện số ca nhiễm Covid-19 tại Việt Nam vẫn thấp so với thế giới (Hình 19, 20); nhưng ảnh hưởng về mặt kinh tế từ dịch bệnh đang thể hiện rõ ràng; cho đến nay ngành vận tải, du lịch, dệt may và nông nghiệp bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Vì vậy chúng tôi cho rằng mặc dù triển vọng tăng trưởng vẫn lạc quan trong trung hạn, thì tăng trưởng GDP trong những quý tới và cả năm 2020 sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực và cú sốc tăng trưởng từ ảnh hưởng vĩ mô của dịch Covid19 sẽ còn lớn hơn so với cuộc Khủng hoảng Tài chính toàn cầu; trong đó thương mại, sản xuất và dịch vụ sẽ chịu ảnh hưởng thực sự từ Q2/2020.

Bảng 19: Bùng nổ dịch coronavirus: Việt Nam đang kiểm soát tốt hình hình lây lan của dịch bệnh…

Cập nhật tình hình vĩ mô tới tháng 3/2020

Bảng 20: …so với thế giới

Cập nhật tình hình vĩ mô tới tháng 3/2020

Dự báo mới:

Chúng tôi đưa ra những giả định sau cho kịch bản cơ sở trong dự báo của mình. Chúng tôi cho rằng những áp lực từ dịch Covid-19 sẽ dịu xuống vào cuối Q2/2020:

Ngành nông nghiệp: cú sốc đối với nguồn cung thịt lợn trên toàn quốc do dịch tả lợn Châu Phi; năng suất canh tác tại ĐBSCL giảm do tình trạng xâm mặn cũng như hạn hán, triển vọng xuất khẩu kém do nền kinh tế thế giới tăng trưởng yếu đi.

Công nghiệp và xây dựng: giá dầu thấp, chuỗi cung ứng chịu sự gián đoạn nghiêm trọng, nhu cầu trong nước và thế giới suy yếu & điều này ảnh hưởng đến ngành khai khoáng và ngành sản xuất phục vụ xuất khẩu; rủi ro cách lý xã hội kéo dài đối với hoạt động xây dựng.

Ngành dịch vụ: các biện pháp hạn chế đi lại thực hiện trên toàn cầu khiến lượng du khách nước ngoài giảm khoảng 50% trong năm 2020; ảnh hưởng đến các ngành dịch vụ gồm bán buôn, bán lẻ; vận tải và kho bãi; lưu trú và ăn uống; hoạt động kinh doanh BĐS; giáo dục, đào tạo, nghệ thuật; vui chơi giải trí. Thu nhập và việc làm bất ổn; thu nhập khả dụng giảm; rủi ro găm giữ, tiết kiệm nhiều hơn tiêu dùng, đầu tư. Toàn bộ những nhân tố trên sẽ khiến sức tiêu dùng của hộ gia đình – đóng góp 67,6% GDP – giảm (động lực chính giúp doanh số bán lẻ tăng trưởng).

Dựa trên những giả định này chúng tôi dự báo tăng trưởng sẽ giảm xuống còn 1,29% trong Q2/2020 – một trong những quý tăng trưởng thấp nhất – nhưng sẽ hồi phục dần trong Q3 (3,88%) và Q4 (5,1%). Chúng tôi hy vọng tăng trưởng sẽ trở lại xu hướng bình thường vào năm 2021 (dự báo tăng trưởng 7,78%) (Hình 21).

Kịch bản tiêu cực:

Do chưa thể biết biết chắc chắn khoảng thời gian cần để giảm/khống chế được sự lây lan của dịch Covid-19 trên thế giới, nên sự hồi phục của nền kinh tế có lẽ sẽ chậm hơn kỳ vọng; do thất nghiệp gia tăng, đầu tư bị trì hoãn và nhu cầu của nền kinh tế thế giới giảm. Nhiều nhân tố tác động cùng lúc có thể khiến thời gian nền kinh tế Việt Nam phải đối mặt với cách thách thức kéo dài đến Q3/2020 và đây là kịch bản tiêu cực. Trong kịch bản này, tăng trưởng GDP năm 2020 có thể giảm xuống còn 2,37%.

Bảng 21: Q1/2020  – một trong những quý ghi nhận tăng trưởng thấp nhất

Cập nhật tình hình vĩ mô tới tháng 3/2020

Bảng 22: Chúng tôi đưa ra ước tính đối với chỉ số điều chỉnh GDP để chuyển GDP danh nghĩa sang GDP thực (theo giá cố định năm 2010).

Cập nhật tình hình vĩ mô tới tháng 3/2020

Trong Hình 23, chúng tôi trình bày dự báo lượng hóa ảnh hưởng đối với các cấu phần của GDP trong kịch bản tiêu cực và kịch bản cơ sở.

Bảng 23: Dự báo cơ cấu GDP theo kịch bản cơ sở và kịch bản kém khả quan

Cập nhật tình hình vĩ mô tới tháng 3/2020

Đẩy mạnh hỗ trợ tài khóa sẽ làm thâm hụt ngân sách tăng lên 4,31% GDP:

Nói chung, chúng tôi cho rằng sự ứng phó của Chính phủ là hợp lý và hiệu quả. Những biện pháp ứng phó gồm (i) đưa ra gói hỗ trợ tín dụng, trong đó: cơ cấu lại thời hạn trả nợ và/hoặc xem xét miễn giảm lãi vay đối với khách hàng gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch (tổng giá trị khoản vay gói hỗ trợ ước tính là 300 nghìn tỷ đồng); (ii) gói hỗ trợ tài khóa 180 nghìn tỷ đồng, gồm miễn giảm và hoãn nộp thuế, phí; (iii) gói hỗ trợ an sinh xã hội (61,58 nghìn tỷ đồng) và (iv) đẩy mạnh giải ngân 470,6 nghìn tỷ đồng vốn ngân sách dự kiến cho các dự án trọng điểm.

Bộ Tài chính đã ban hành 41/2020/NĐ-CP nhằm gia hạn thời hạn nộp thuế và tiền thuê đất với quy mô 180 nghìn tỷ đồng (7,6 tỷ USD) bao gồm thuế TNDN và TNCN và tiền thuê đất dành cho các tổ chức, doanh nghiệp ở hơn 34 ngành nghề chịu sự ảnh hưởng của dịch Covid-19 như: nông nghiệp, sản xuất ô tô, chế biến thực phẩm, thủy sản, vận tải, dệt may, du lịch, sản xuất da, chế biến kim loại & gỗ, BĐS, dịch vụ lao động, văn hóa giải trí (Việt Nam xem xét nâng quy mô gói hỗ trợ gia hạn thuế dành cho doanh nghiệp bị ảnh hưởng của dịch Covid-19, VNExpress, ngày 4/4/2020).

Chính phủ cũng đang xem xét gói hỗ trợ an sinh xã hội quy mô 61,58 nghìn tỷ đồng (trong đó 36 nghìn tỷ đồng (1,55 triệu USD) từ ngân sách nhà nước) để hỗ trợ người nghèo và những doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19. Gói hỗ trợ tập trung vào 6 nhóm cá nhân và doanh nghiệp; gồm các hộ gia đình có thu nhâp thấp và người lao động nghỉ việc không lương. Hình thức hỗ trợ là tiền mặt được cấp phát trong 3 tháng kể từ tháng 4 đến tháng 6/2020 (Việt Nam xem xét gói hỗ trợ 2,6 tỷ USD nhằm giảm hậu quả của dịch Covid 19, VNExpress, ngày 2/4/2020). Ước tính khoảng 20 triệu người sẽ được hưởng gói hỗ trợ này.

Bảng 24: Chi tiêu công từ lâu đã được sử dụng để đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế

Cập nhật tình hình vĩ mô tới tháng 3/2020

Bảng 25: Nhưng cũng tương quan nghịch với tăng trưởng GDP danh nghĩa trong một số năm

Cập nhật tình hình vĩ mô tới tháng 3/2020

Theo đó, hiện tổng quy mô hỗ trợ từ ngân sách cho nền kinh tế ước tính là 216 nghìn tỷ đồng (9,15 tỷ USD), tương đương 14,3% tổng thu ngân sách và bằng 3,6% GDP năm 2019.

Như đã đề cập trong báo cáo tháng trước, chúng tôi cho rằng chính sách tài khóa dựa trên giảm thuế có thể sẽ được ưu tiên sử dụng trong gói kích thích tài khóa. Giảm thuế là cách trực tiếp và nhanh chóng giảm áp lực cho doanh nghiệp bị ảnh hưởng của dịch bệnh.

Trước những biện pháp kích thích kinh tế nêu trên, chúng tôi cho rằng thâm hụt ngân sách sẽ tăng và vượt mục tiêu ban đầu của chính phủ đề ra cho năm 2020. Theo đó, chúng tôi đã điều chỉnh tăng dự báo thâm hụt ngân sách năm 2020 lên 4,31% GDP từ 3,78% GDP (mục tiêu của chính phủ là 3,44% GDP) (Hình 24). Những giả định chính của chúng tôi là: thu ngân sách trừ thuế giảm, thu từ dầu thô giảm (dự kiến đóng góp 2,3% tổng thu ngân sách trong năm 2020) và tốc độ giải ngân đầu tư công với nguồn tư ngân sách tăng. Chúng tôi cũng  kỳ vọng chính phủ sẽ phát hành thêm trái phiếu để lấy nguồn chi đầu tư cho cơ sở hạ tầng.

Kinh nghiệm cho thấy việc tăng chi tiêu công, đặc biệt là chi cho các dự án cơ sở hạ tầng trọng điểm có thể là biện pháp kích thích tài khóa giữ vai trò quan trọng, giúp kích thích tổng cầu và theo đó là tăng trưởng nói chung.

Tuy nhiên như có thể thấy trong Hình 25, giữa chi tiêu công và tăng trưởng GDP danh nghĩa có mối liên hệ ngược chiều. Nói cách khác, việc tăng đáng kể chi tiêu công có thể không dẫn đến sự tăng trưởng GDP danh nghĩa một cách tương xứng nếu số tiền chi ra không được đầu tư hiệu quả.

Một trong những khuyến nghị về mặt chính sách nhằm cải thiện hiệu quả của đầu tư công là khuyến kích hình thức đối tác công tư (PPP). Đây cũng là khuyến nghị của IMF trong Báo cáo quốc gia số 19/235, 2019. Gần đây, Bộ GTVT đã được yêu cầu đẩy nhanh tiến độ các dự án giao thông trong năm 2020 như Cao tốc Bắc-Nam, Sân bay quốc tế Long Thành tại Đồng Nai, Cao tốc Mỹ Thuận-Cần Thơ và đường sắt Cát Linh – Hà Đông. Hy vọng nguồn tài chính sẽ được huy động đáng kể thông qua cơ chế PPP.

Dự báo kinh tế vĩ mô của HSC

Cập nhật tình hình vĩ mô tới tháng 3/2020

Lưu ý và những giả định chính:

  • Dự báo GDP dựa trên ước tính chung từ IMF và ADB và ước tính của chúng tôi (áp dụng mô hình dự báo ARIMA và ước tính GDP thực theo giá cố định năm 2010 bằng cách sử dụng phương pháp sản xuất, tức là tổng hợp giá trị gia tăng của các ngành).
  • Dự báo CPI dựa trên ước tính chung từ IMF và ước tính của chúng tôi (áp dụng mô hình dự báo ARIMA và ước tính thay đổi CPI từ các thành phần trong giỏ).

Lịch kinh tế quan trọng (4/2020 – 7/2020)

Cập nhật tình hình vĩ mô tới tháng 3/2020

Các cổ phiếu HSC quan tâm

Cập nhật tình hình vĩ mô tới tháng 3/2020

                                                                                                                                                                                               Nguồn: HSC

 

BÌNH LUẬN()

CÁC TIN LIÊN QUAN

Đối tác

Gọi ngay
Messenger
Zalo chát
Mở tài khoản
Góp ý