DANH MỤC

Mobile / Fb / Zalo: 0912 842 224 | 0982 842 224

Cập nhật tình hình vĩ mô tới tháng 11/2019

Lượt xem: 444 - Ngày:
Chia sẻ

Tháng 11: Sản xuất, xuất khẩu giảm tốc, lạm phát tăng

Việt Nam đã công bố số liệu kinh tế vĩ mô tháng 11/2019. Trong đó hoạt động sản xuất và xuất khẩu giảm tốc trong khi áp lực lạm phát gia tăng. Hình 1 dưới đây thể hiện những xu hướng gần đây:

Bảng 1: Xu hướng các chỉ số gần đây

Lạm phát – Giá thịt lợn tăng tiếp tục gây áp lực lên lạm phát

CPI tiếp tục tăng tốc đáng kể trong tháng 11 (hình 2), tăng 3,52% so với cùng kỳ (tháng 10 tăng 2,24% so với cùng kỳ) và tăng 3,78% so với đầu năm. Như kỳ vọng của chúng tôi, nhóm hàng lương thực, thực phẩm đã tăng 5,61% so với cùng kỳ trong tháng 11 (tháng 10 tăng 2,65% so với cùng kỳ); cao hơn mức tăng của chung của CPI, chủ yếu do giá thịt lợn tăng trước ảnh hưởng kéo dài của dịch tả lợn Châu Phi và đây là nguyên nhân chính khiến lạm phát tăng tốc trong tháng 11.

Chúng tôi đã giả định giá nhóm hàng lương thực, thực phẩm sẽ tăng tốc trong Q4 – được thể hiện qua sự tăng tốc so với tháng liền trước trong tháng 11 (tăng 0,96% so với tháng liền trước trong khi tháng 10 tăng 0,59% so với tháng liền trước) (hình 3). Đây là mức tăng so với tháng liền trước mạnh nhất của tháng 11 trong vòng 9 năm qua. Đóng góp nhiều nhất vào lạm phát tháng 11 là nhóm hàng lương thực, thực phẩm, tăng 2,74% so với tháng liền trước (tháng 10 tăng 1,04% so với tháng liền trước). Ngoài ra giá gas tăng cũng khiến nhóm hàng nhà ở & vật liệu xây dựng tăng 0,13% so với tháng liền trước (tháng 10 tăng 0,53% so với tháng liền trước). Trong khi đó lạm phát cốt lõi – không bao gồm mặt hàng lương thực, năng lượng, mặt hàng do nhà nước quản lý gồm y tế và giáo dục – vẫn ổn định với mức tăng 2,18% so với cùng kỳ và tăng 0,3% so với tháng liền trước (tháng 10 tăng 1,96% so với cùng kỳ và tăng 0,15% so với tháng liền trước).

Với những nhân tố kể trên cộng với ảnh hưởng của tăng trưởng tiêu dùng và nền kinh tế, chúng tôi duy trì dự báo lạm phát cả năm (mức tăng CPI bình quân 12 tháng so với cùng kỳ) là 3%.

Bảng 2: Lạm phát lương thực thực phẩm cao hơn lạm phát tổng thể

Bảng 3: Nguyên nhân chính của lạm phát tháng 10/2019: thực phẩm

Ngành sản xuất giảm tốc nhưng PMI đã quay trở lại bên trên mốc 50

Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tăng 5,1% so với cùng kỳ (tháng 10 tăng 9,7% so với cùng kỳ) và giảm 1,6% so với tháng liền trước (tháng 10 tăng 2,9% so với tháng liền trước). Trong đó, chỉ số sản xuất ngành chế biến, chế tạo (ngành sản xuất) tăng 6,7% so với cùng kỳ (tháng 10 tăng 11,5% so với cùng kỳ) và giảm 1,1% so với tháng liền trước (tháng 10 tăng 2,1% so với tháng liền trước) (hình 4). Chỉ số sản xuất ngành chế biến, chế tạo tăng với:

  1. Sản phẩm thiết bị viễn thông giảm 0,5% so với cùng kỳ (tháng 10 tăng 18,5% so với cùng kỳ) trong khi sản phẩm linh kiện điện tử tăng mạnh, tăng 28,9% so với cùng kỳ (tháng 10 tăng 50,8% so với cùng kỳ) (hình 5).
  2. Sản xuất dầu mỏ tinh chế giảm mạnh, giảm 47,6% so với cùng kỳ (tháng 10 tăng 5,1% so với cùng kỳ), chủ yếu do sản lượng của nhà máy lọc dầu Nghi Sơn giảm.

FDI tiếp tục chảy mạnh vào ngành chế biến, chế tạo. Trong 11 tháng đầu năm 2019, vốn FDI cam kết và giải ngân ước tính đạt 31,8 tỷ USD (tăng 3,1% so với cùng kỳ) và 17,6 tỷ USD (tăng 6,8% so với cùng kỳ). Trong đó ngành chế biến, chế tạo chiếm 67,9%; ngành BĐS chiếm 10,4% tổng vốn FDI đăng ký (hình 6). Khu vực Châu Á vẫn là nguồn FDI lớn nhất (hình 7).

Bảng 4: Chỉ số sản xuất ngành chế biến chế tạo và PMI ngành sản xuất: PMI ở mức thấp nhất kể từ tháng 11/2015…

Bảng 5: …tuy nhiên, sản xuất công nghiệp tiếp tục mở rộng nhờ lĩnh vực linh kiện điện tử

Bảng 6: Dòng vốn FDI duy trì tăng trưởng mạnh, chủ yếu tập trung vào sản xuất, BĐS và bán buôn/bán lẻ

Bảng 7: Khu vực châu Á là nguồn FDI chính

Sát với kỳ vọng của chúng tôi, chỉ số PMI ngành sản xuất đạt 51 (tháng 10 là 50) (hình 4); cho thấy ngành có sự tăng trưởng so với tháng liền trước. Trong thời gian tới, chúng tôi kỳ vọng PMI tiếp tục ở trên mốc 50 trong tháng 12.

Kim ngạch thương mại – Số liệu ban đầu cho thấy hoạt động xuất khẩu có sự giảm tốc trong tháng 11

Trong tháng 11, kim ngạch xuất khẩu tăng 3,8% so với cùng kỳ (hình 8) (kim ngạch xuất khẩu tháng 10 được điều chỉnh tăng 7,3% so với cùng kỳ từ số liệu ban đầu là giảm 0,8% so với cùng kỳ) và giảm 6,7% so với  tháng liền trước (tháng 10 tăng 3,8% so với tháng liền trước), chủ yếu do kim ngạch nhóm hàng giày dép giảm 2,4% so với cùng kỳ và điện thoại & ĐTDĐ giảm 1,4% so với cùng kỳ. Động lực chính của kim ngạch xuất khẩu tháng 11 là khối doanh nghiệp nội (kim ngạch xuất khẩu tăng 22,3% so với cùng kỳ) trong khi kim ngạch xuất khẩu khối FDI giảm 3,4% so với cùng kỳ.

Bảng 8: Các ngành đóng góp tăng trưởng xuất khẩu: Toàn bộ ngành xuất khẩu chính giảm, trừ Máy tính & sản phẩm điện tử

Bảng 9: Các ngành đóng góp tăng trưởng nhập khẩu: Động lực tăng trưởng chính là Máy tính & điện tử và Máy móc & Thiết bị

Từ đầu năm, kim ngạch xuất khẩu đạt tổng cộng 241 tỷ USD, tăng 7,9% so với cùng kỳ. Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục khả quan hơn khu vực và sẽ tiếp tục như vậy (theo quan điểm của chúng tôi) nhờ ảnh hưởng của chiến tranh thương mại Mỹ – Trung. Theo đó, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ trong 11 tháng đầu năm đã tăng mạnh, tăng 27,9% so với cùng kỳ và chiếm 23% tổng kim ngạch xuất khẩu (hình 10). Xuất khẩu sang Nhật Bản và Hàn Quốc tăng ấn tượng, lần lượt tăng 7,6% so với cùng kỳ và 10,1% so với cùng kỳ. Tuy nhiên xuất khẩu sang các thị trường chủ chốt khác như Trung Quốc và EU giảm, lần lượt giảm 0,6% so với cùng kỳ và 2,3% so với cùng kỳ. Xuất khẩu sang thị trường EU hiện đóng góp 15,7% tổng kim ngạch xuất khẩu. Chúng tôi kỳ vọng tỷ trọng xuất khẩu sang EU sẽ tăng lên 20% vào năm 2020 khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực.

Bảng 10: Thị phần xuất khẩu sang Mỹ tiếp tục tăng mạnh

Bảng 11: Thị phần nhập khẩu từ Trung Quốc ổn định khoảng 30% tổng kim ngạch nhập khẩu

Trong cơ cấu xuất khẩu 11 tháng đầu năm, ngành hàng điện tử tăng mạnh nhất (điện thoại & ĐTDĐ tăng 5,5% so với cùng kỳ, máy tính & sản phẩm điện tăng 19,5% so với cùng kỳ), chiếm 1/3 tổng kim ngạch xuất khẩu. Những nhóm mặt hàng quan trọng khác có mức tăng trưởng xuất khẩu ấn tượng gồm: dệt may (tăng 7,9% so với cùng kỳ), giày dép tăng 12,6% so với cùng kỳ), máy móc & thiết bị (tăng 9,8% so với cùng kỳ), gỗ & sản phẩm gỗ (tăng 16,7% so với cùng kỳ), đồ mỹ nghệ (tăng 119,4% so với cùng kỳ).

Kim ngạch nhập khẩu tháng 11 tăng 4,5% so với cùng kỳ và tăng 0,6% so với tháng liền trước (tháng 10 tăng 2,9% cả so với cùng kỳ và so với tháng liền trước). Giá trị nhập khẩu tăng trưởng nhờ nhu cầu các linh kiện sản xuất, đặc biệt là nhập khẩu máy tính và các sản phẩm & linh kiện điện tử (hình 9), chiếm 20,3% tổng giá trị nhập khẩu; tăng 15,9% so với cùng kỳ trong tháng 11 và tăng 20,3% so với cùng kỳ trong 11 tháng đầu năm. Máy móc thiết bị chiếm 14,3% tổng kim ngạch nhập khẩu, tăng 6,7% so với cùng kỳ trong tháng 11 và tăng 11,3% so với cùng kỳ trong 11 tháng đầu năm. Hầu hết linh kiện sản xuất và máy móc thiết bị được nhập khẩu từ Trung Quốc (đối tác nhập khẩu chính của Việt Nam), chiếm 29,5% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ đầu năm (hình 11).

Đáng chú ý, kim ngạch nhập khẩu điện thoại, ĐTDĐ và linh phụ kiện liên quan chiếm 6,7% tổng giá trị kim ngạch nhập khẩu, giảm 11,3% so với cùng kỳ trong tháng 11 và giảm 5,3% so với cùng kỳ trong 11 tháng đầu năm. Giá trị kim ngạch nhập khẩu các sản phẩm này giảm nhiều khả năng sẽ khiến kim ngạch xuất khẩu điện thoại, ĐTDĐ tiếp tục gặp khó trong những tháng tới.

Lũy kế 11 tháng đầu năm 2019, kim ngạch nhập khẩu đạt 232 tỷ USD, tăng 7,6% so với cùng kỳ; giúp Việt Nam xuất siêu 9 tỷ USD trong kỳ.

Chúng tôi vẫn duy trì dự báo thặng dư thương mại cả năm 2019 là 11 tỷ USD. Chúng tôi duy trì dự báo thận trọng cho tài khoản vãng lai cho cả năm

Với dữ liệu trên, chúng tôi hy vọng diễn biến tỷ giá sẽ ổn định trong tháng cuối năm 2019 và dự trữ ngoại hối tương đương với ba tháng nhập khẩu (khoảng 70 tỷ USD). Chúng tôi không kỳ vọng sự phá giá đồng tiền so với USD vào năm 2019 vì tỷ giá trên thị trường (tỷ giá liên ngân hàng) vẫn đang ổn định trong biên độ +/- 3% xung quanh tỷ giá trung tâm được NHNN niêm yết hàng ngày (tỷ giá chính thức) và tỷ giá trên thị trường tự do đang tương đương với thị trường liên ngân hàng (hình 13).  2019 ở mức 6 tỷ USD so với 5,8 tỷ USD trong năm 2018. Thặng dư thương mại giúp tỷ giá hối đoái duy trì ổn định và dự trữ ngoại hối tiếp tục tăng.

Bảng 12: Mức tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục vượt trội so với các nước trong khu vực trong 11 tháng đầu năm 2019

Bảng 13: Chúng tôi không kỳ vọng sự phá giá đồng tiền so với USD vào tháng cuối cùng của năm 2019

Doanh số bán lẻ – khả quan nhờ sức tiêu thụ mạnh của hộ gia đình và sự bùng nổ ngành du lịch

Tổng lượng khách du lịch (hình 15) tiếp tục tăng mạnh trong tháng 11 (lũy kế từ đầu năm đạt 16,3 triệu lượt, tăng 15,4% so với cùng kỳ), đáng chú ý là khách từ Hàn Quốc (tăng 22,3% so với cùng kỳ và đạt 3,9 triệu lượt), Trung Quốc (tăng 15,1% so với cùng kỳ và đạt 5,2 triệu lượt) và Nhật Bản (tăng 15,4% so với cùng kỳ và đạt 0,9 triệu lượt); điều này đã hỗ trợ sự tăng trưởng của ngành dịch vụ và du lịch (tăng 15,7% so với cùng kỳ trong tháng 11 và tăng 9% so với cùng kỳ trong 11 tháng đầu năm) và dịch vụ lưu trú, ăn uống (tăng 4,1% so với cùng kỳ trong tháng 11 và tăng 9% so với cùng kỳ trong 11 tháng đầu năm)

Bảng 14: Doanh số bán lẻ đang tăng trưởng mạnh theo từng tháng

Bảng 15: Lượng khách du lịch tiếp tục tăng mạnh – 16,3 triệu lượt khách từ đầu năm đến nay

Bảng 16: Với tốc độ tăng trưởng kép hàng năm (CARG) là 18.5%…

Bảng 17: … Doanh số bán lẻ của Việt Nam đã tăng 24 lần kể từ năm 2000 đạt GDP ở mức 80% trong năm 2019

Bên cạnh khách du lịch, sức tiêu thụ của hộ gia đình lớn, chiếm 67,6% GDP năm 2018 cũng là động lực chính của ngành bán lẻ. Doanh số bán lẻ tăng 10,2% so với cùng kỳ trong tháng 11 (hình 16) và tăng 12% so với cùng kỳ trong 11 tháng đầu năm 2019 (dựa trên tính toán của chúng tôi). Doanh số bán lẻ đạt 4,5 nghìn tỷ đồng trong 11 tháng đầu năm và chúng tôi ước tính chiếm 80% GDP trong năm 2019 (hình 17).

Dự báo vĩ mô của HSC

Lưu ý và những giả định chính:

  • Dự báo GDP dựa trên ước tính chung từ IMF và ADB và ước tính của chúng tôi (áp dụng mô hình dự báo ARIMA và ước tính GDP thực theo giá cố định năm 2010 bằng cách sử dụng phương pháp sản xuất, tức là tổng hợp giá trị gia tăng của các ngành).
  • Dự báo CPI dựa trên ước tính chung từ IMF và ước tính của chúng tôi (áp dụng mô hình dự báo ARIMA và ước tính thay đổi CPI từ các thành phần trong giỏ).

Lịch kinh tế quan trọng (12/2019 – 03/2020)

Các cổ phiếu HSC quan tâm

Nguồn: HSC

 

BÌNH LUẬN()

CÁC TIN LIÊN QUAN

Đối tác

Gọi ngay
Messenger
Zalo chát
Mở tài khoản
Góp ý