DANH MỤC

Mobile / Fb / Zalo: 0912 842 224 | 0982 842 224

Cập nhật tình hình vĩ mô tới tháng 1/2020

Lượt xem: 654 - Ngày:
Chia sẻ

Báo cáo kinh tế hàng hàng: Tháng 1: lạm phát cao; điều chỉnh dự báo lạm phát cả năm

Bảng 1: Xu hướng các chỉ số gần đây

Tháng 1/2020: Lạm phát tăng bên cạnh những thách thức mới

Lạm phát tổng thể và lạm phát cở bản tăng đáng kể trong tháng 1; theo đó chúng tôi đã điều chỉnh dự báo lạm phát cho năm 2020 (tốc độ tăng CPI bình quân 12 tháng) từ 3,5% lên 4%. Nói chung hiện có những rủi ro đối với nền kinh tế Việt Nam. Kim ngạch thương mại và doanh số bán lẻ nhiều khả năng sẽ tiếp tục kém đi từ mức kém khả quan trong tháng 1 trước ảnh hưởng của dịch bệnh Corona.

Mặc dù hiện có những nhân tố gây lo ngại (bao gồm dịch Corona), chúng tôi vẫn kỳ vọng xuất khẩu sẽ tăng tốc trong Q2/2020 trong bối cảnh cuộc chiến tranh thương mại Mỹ – Trung Quốc đang xuống thang (đáng chú ý là thỏa thuận ‘giai đoạn 1’ đã được ký vào ngày 15/1/2020) và chúng tôi kỳ vọng xuất khẩu sang EU (EU đóng góp 15,8% tổng kim ngạch xuất khẩu trong năm 2019) sẽ tăng mạnh hơn khi hiệp định EVFTA có hiệu lực.

Lạm phát tăng mạnh trong tháng 1

Mặc dù lạm phát bình quân trong tháng được kiểm soát ở bên dưới mục tiêu của chính phủ là 4% (tháng 1/2020 là 3,11% trong khi tháng 12/2019 là 2,79%), lạm phát chung và lạm phát cơ bản tăng đáng kể trong tháng 1; theo đó chúng tôi đã điều chỉnh dự báo lạm phát cho năm 2020 (tốc độ tăng CPI bình quân 12 tháng) từ 3,5% lên 4%. Chúng tôi coi dự báo này là thận trọng dựa trên kỳ vọng là nguồn cung thịt lợn sẽ hồi phục trong vài tháng tới và dịch Corona có thể được ngăn chặn trước cuối Q1/2020 trong khi giá năng lượng giảm có thể giúp hạ nhiệt CPI từ Q2/2020.

Trong tháng 1/2020, lạm phát tăng đáng kể tháng thứ 4 liên tiếp với CPI tăng 6,43% so với cùng kỳ (tháng 12/2019 tăng 5,23% so với cùng kỳ) (Hình 2). Ngoài ra, tháng 1 là tháng thứ 2 liên tiếp lạm phát vượt mốc 4%. Những nhân tố chủ chốt là: lương thực & thực phẩm (tăng 10,93% so với cùng kỳ trong khi tháng 12/2019 tăng 9,17%); nhà ở & vật liệu xây dựng (tăng 6,29% so với cùng kỳ trong khi tháng 12/2019 tăng 5,12%) và giao thông (tăng 7,5% so với cùng kỳ trong khi tháng 12/2019 tăng 3,52%).

Bảng 2: Lạm phát tổng thể và lạm phát lương thực thực phẩm tăng trên 4% vào tháng 1

Bảng 3: Nhân tố lạm phát chính trong tháng đầu năm 2020: thực phẩm, nhà ở và xây dựng và vận tải

Trong báo cáo tháng trước, chúng tôi đã nhận định áp lực lạm phát sẽ vẫn còn trong Q1/2020. CPI tháng 1 tăng 1,23% so với tháng liền trước (tháng 12/2019 tăng 1,4% so với tháng liền trước). Đây là mức tăng so với tháng liền trước mạnh nhất trong tháng 1 của 7 năm qua. Đóng góp lớn nhất vào mức tăng này là lương thực & thực phẩm (tăng 2,29% so với tháng liền trước trong khi tháng 1/2019 tăng 3,42%), chủ yếu do giá thịt lợn tăng 8,29% so với tháng liền trước. Vật liệu bảo dưỡng nhà cửa và gas tăng khiến nhóm hàng nhà ở & vật liệu xây dựng tăng 1,47% so với tháng liền trước trong tháng 1 (tháng 12 tăng 0,43% so với tháng liền trước). Nhu cầu vận chuyển và bảo dưỡng xe tăng cũng khiến nhóm hàng giao thông tăng 0,69% so với tháng liền trước (tháng 12 tăng 0,61% so với tháng liền trước).

Trong khi đó, lạm phát cơ bản – không bao gồm lương thực, năng lượng, mặt hàng do nhà nước quản lý gồm y tế và giáo dục) – cũng tăng đáng kể trong tháng 1, tăng 3,25% so với cùng kỳ và tăng 0,76% so với tháng liền trước (tháng 12/2019 tăng 2,78% so với tháng liền trước và tăng 0,68% so với cùng kỳ).

Ngành chế biến, chế tạo tăng trưởng âm mặc dù PMI vẫn trên 50

Chỉ số sản xuất công nghiệp giảm 5,5% so với cùng kỳ trong tháng 1 (tháng 12/2019 giảm 1,1% so với cùng kỳ) và giảm 11,8% so với tháng liền trước (tháng 12/2019 giảm 2,2% so với tháng liền trước). Trong đó chỉ số ngành chế biến chế tạo giảm 5,5% so với cùng kỳ (tháng 12/2019 giảm 0,9% so với cùng kỳ) và giảm 12,9% so với tháng liền trước (tháng 12/2019 giảm 2,5% so với tháng liền trước) (Hình 4). Cùng với sự tăng trưởng chậm lại của sản xuất công nghiệp, chỉ số PMI ngành sản xuất cũng giảm trong tháng 1 (và hiện đã giảm trong 2 tháng liên tiếp). Chúng tôi kỳ vọng chỉ số PMI vẫn ở trên mốc 50 nhờ các chỉ số thành phần: đơn hàng mới và đơn hàng xuất khẩu mới tiếp tục tăng.

Chỉ số sản xuất công nghiệp trong tháng 1 chịu ảnh hưởng từ sự suy giảm của:

  1. Thiết bị thông tin liên lạc: điện thoại và các sản phẩm có liên quan (giảm 5,5% so với cùng kỳ trong khi tháng 12/2019 giảm 18,8% so với cùng kỳ và tháng 11/2019 giảm 7,7% so với cùng kỳ); linh kiện điện tử (giảm 3,2% so với cùng kỳ trong khi tháng 12/2019 tăng 9,6% so với cùng kỳ và tháng 11/2019 tăng 20,2% so với cùng kỳ).
  2. sản phẩm dệt may (giảm 6,8% so với cùng kỳ trong khi tháng 12/2019 tăng 10,5% so với cùng kỳ và tháng 11/2019 giảm 8,1% so với cùng kỳ); và
  3. xe ô tô (giảm 32,3% so với cùng kỳ trong khi tháng 12/2019 tăng 1,3% so với cùng kỳ và tháng 11/2019 tăng 5,1% so với cùng kỳ); xe gắn máy (giảm 21% so với cùng kỳ trong khi tháng 12/2019 giảm 6,9% so với cùng kỳ và tháng 11/2019 giảm 6,8% so với cùng kỳ).

Bảng 4: Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp và chỉ số PMI suy giảm…

Bảng 5: …do các lĩnh vực chính kém khả quan

Bảng 6: Vốn FDI tăng trưởng vững, với vốn đăng ký mới thuộc lĩnh vực điện & khí

Bảng 7: Khu vực Châu Á là nguồn FDI chính

Như đã đề cập, chỉ số PMI ngành sản xuất cũng giảm trong tháng 1 (và hiện chỉ số này đã giảm 2 tháng liên tiếp). Chỉ số PMI ngành sản xuất đạt 50,6 trong tháng 1/2020, giảm so với 50,8 trong tháng 12/2019 và 51 trong tháng 11/2019 (Hình 4) nhưng vẫn cho thấy ngành sản xuất có sự tăng trưởng so với tháng liền trước. Trong tương lai, chúng tôi cho rằng chỉ số PMI sẽ ở trên mốc 50 nhờ các chỉ số thành phần: đơn hàng mới và đơn hàng xuất khẩu mới tiếp tục tăng.

Vốn FDI vẫn tăng trưởng vững với vốn đăng ký mới thuộc lĩnh vực điện & khí

Trong tháng 1/2020, vốn FDI cam kết và giải ngân ước lần lượt đạt 5,3 tỷ USD (tăng 179,5% so với cùng kỳ) và 1,6 tỷ USD (tăng 3,2% so với cùng kỳ) với dự án điện khí LNG với vốn đăng ký 4 tỷ USD tại Bạc Liêu đóng góp phần lớn. Trong năm 2020, lo ngại dịch bệnh Corona có thể sẽ khiến các doanh nghiệp đa dạng hóa cơ sở sản xuất ra khỏi Trung Quốc để tránh rủi ro; đồng thời chi phí sản xuất thấp cũng đang là lợi thế lớn cho Việt Nam. Chúng tôi kỳ vọng vốn FDI giải ngân trong năm 2020 sẽ đạt 25 tỷ USD, tăng 23% (năm 2019 tăng 6,7%).

Ngành chế biến chế tạo chiếm 16,1% vốn FDI đăng ký, ngành BĐS chiếm 1,4% và ngành điện & khí chiếm 75,8% (một NĐT Singapore đăng ký dự án điện khí LNG 4 tỷ USD tại Bạc Liêu) (Hình 7).

Năm 2019 chứng kiến sự thay đổi mạnh mẽ trong chuỗi cung ứng và nhà máy từ Trung Quốc sang các nước láng giềng. Việt Nam đã hưởng lợi với vốn FDI mới đăng ký tăng 95% so với cùng kỳ trong năm 2019 (năm 2018 giảm 13,7% so với cùng kỳ), chủ yếu để tránh thuế quan của Mỹ. Dịch hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona mặc dù là sự kiện không mong muốn, nhưng sẽ tiếp tục khiến FDI chảy từ Trung Quốc sang Việt Nam.

Thương mại – số liệu ban đầu cho thấy hoạt động thương mại trầm lắng trong tháng 1

Trong tháng 1/2020, kim ngạch xuất khẩu giảm 14,3% so với cùng kỳ (số liệu tháng 12 sau khi được điều chỉnh tăng 14% so với cùng kỳ) và giảm 15,8% so với tháng liền trước (tháng 12 giảm 1% so với tháng liền trước). (Hình 8). Kim ngạch nhập khẩu trong tháng 1/2020 giảm 11,3% so với cùng kỳ (tháng 12/2019 tăng 8,6% so với cùng kỳ) và giảm 14,4% so với tháng liền trước (tháng 12 tăng 4,5% so với tháng liền trước) (Hình 9). Mặc dù hiện có những nhân tố gây lo ngại (bao gồm dịch Corona), chúng tôi vẫn kỳ vọng xuất khẩu sẽ tăng tốc trong Q2/2020 trong bối cảnh cuộc chiến tranh thương mại Mỹ – Trung Quốc đang xuống thang (đáng chú ý là thỏa thuận ‘giai đoạn 1’ đã được ký vào ngày 15/1/2020) và chúng tôi kỳ vọng xuất khẩu sang EU (EU đóng góp 15,8% tổng kim ngạch xuất khẩu trong năm 2019) sẽ tăng mạnh hơn khi hiệp định EVFTA có hiệu lực. Theo đó, chúng tôi vẫn duy trì dự báo năm 2020 Việt Nam sẽ xuất siêu 16,5 tỷ USD do với mức 10,4 tỷ USD trong năm 2019.

Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu trong tháng 1 đạt thấp nhất kể từ tháng 2/2010, một phần do ảnh hưởng của dịp Tết nguyên đán rơi vào cuối tháng 1 năm nay thay vì rơi vào đầu tháng 2 như năm 2019 (nghĩa là tháng 1 năm nay số ngày làm việc ít hơn năm ngoái).

Những nhóm mặt hàng chính dẫn đến sự sụt giảm kim ngạch xuất khẩu là dệt may và may mặc (giảm 21% so với cùng kỳ so với mức tăng 7,5% so với cùng kỳ trong tháng 12/2019 và đóng góp 11,5% tổng kim ngạch xuất khẩu), giày dép (giảm 9,7% so với cùng kỳ so với mức tăng 12,3% so với cùng kỳ trong tháng 12/2019 và đóng góp 7,1% tổng kim ngạch xuất khẩu), điện thoại, ĐTDĐ và linh kiện (giảm 22,4% so với cùng kỳ so với mức giảm 4,8% so với cùng kỳ trong tháng 12/2019 và đóng góp 11,3% tổng kim ngạch xuất khẩu); máy móc thiết bị (giảm 6,5% so với cùng kỳ so với mức tăng 28,1% so với cùng kỳ trong tháng 12/2019 và đóng góp 6,4% tổng kim ngạch xuất khẩu).

Những nhân tố chính dẫn đến sự sụt giảm của kim ngạch nhập khẩu là máy tính & sản phẩm điện, linh phụ kiện (giảm 8,5% so với cùng kỳ so với mức tăng 13,3% so với cùng kỳ trong tháng 12/2019 và đóng góp 19,1% tổng kim ngạch nhập khẩu); điện thoại, ĐTDĐ và linh kiện (giảm 9,5% so với cùng kỳ so với mức giảm 17,3% so với cùng kỳ trong tháng 12/2019 và đóng góp 5,5% tổng kim ngạch nhập khẩu); máy móc thiết bị (giảm 6,8% so với cùng kỳ so với mức tăng 22,5% so với cùng kỳ trong tháng 12/2019 và đóng góp 16,8% tổng kim ngạch nhập khẩu).

Bảng 8: Xuất khẩu: Những nhân tố chính dẫn đến sự sụt giảm trong tháng 1 – dệt may và may mặc, giày dép, điện thoại, ĐTDĐ

Bảng 9: Nhập khẩu: Những nhân tố chính dẫn đến sự sụt giảm trong tháng 1 – máy tính & sản phẩm điện, điện thoại, ĐTDĐ, máy móc & thiết bị

Với kim ngạch xuất khẩu giảm mạnh hơn so với kim ngạch nhập khẩu, Việt Nam đã nhập siêu 100 triệu USD trong tháng đầu của năm 2020. Sự bất ổn trong hoạt động thương mại liên quan đến dịch Corona đã trực tiếp ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc (bằng 3,25% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam) và các ngành sản xuất với định hướng xuất khẩu đã bắt đầu bị ảnh hưởng (như chúng tôi đã phân tích trong báo cáo phát hành gần đây vào ngày 6/2/2020 với tựa đề: Dịch Corona có thể ảnh hưởng ra sao đến nền kinh tế?).

Chúng tôi dự kiến tỷ giá sẽ vẫn ổn định trong năm 2020 và dự trữ ngoại hối sẽ ở trên mức 3,5 tháng nhập khẩu. Chúng tôi không kỳ vọng sự phá giá đồng tiền so với USD vào năm 2020 vì tỷ giá trên thị trường (tỷ giá liên ngân hàng) vẫn đang ổn định trong biên độ +/- 3% xung quanh tỷ giá trung tâm được NHNN niêm yết hàng ngày (tỷ giá chính thức) và tỷ giá trên thị trường tự do đang tương đương với thị trường liên ngân hàng (hình 10).

Bảng 10: Chúng tôi không kỳ vọng sự phá giá đồng tiền so với USD trong năm 2020

Doanh số bán lẻ vẫn khả quan nhờ ngành du lịch và vẫn chưa chịu ảnh hưởng của dịch Corona

Dựa trên tính toán của chúng tôi, doanh số bán lẻ đạt 448 nghìn tỷ đồng, tăng 11,2% so với cùng kỳ trong tháng 1/2020 (tháng 12/2019 tăng 12,4% so với cùng kỳ) (Hình 11). Doanh số bán lẻ tăng mạnh nhờ tiêu dùng hộ gia đình và khách du lịch. Trong tương lai, chúng tôi cho rằng doanh số bán lẻ có thể giảm tạm thời do ảnh hưởng trực tiếp của đại dịch Corona đối với nhu cầu trong nền kinh tế vì người dân sẽ có xu hướng ở nhà nhiều hơn, ít đi lại và mua sắm hơn.

Lượng khách du lịch tiếp tục tăng mạnh trong tháng 1 (từ đầu năm đạt 1,99 triệu khách, tăng 32,8% so với cùng kỳ), đáng chú ý là khách từ Hàn Quốc (đạt 468,4 nghìn người, tăng 20,4% so với cùng kỳ), Trung Quốc (644,7 nghìn người, tăng 72,6% so với cùng kỳ) và Nhật Bản (89,1 nghìn người, tăng 11,4% so với cùng kỳ) (Hình 12). Và điều này đã hỗ trợ cho sự tăng trưởng ngành dịch vụ & du lịch (tăng 12,5% so với cùng kỳ trong tháng 1/2020 so với mức tăng 19,5% so với cùng kỳ trong tháng 12/2019) và dịch vụ nhà ở, thực phẩm đồ uống (tăng 11,5% so với cùng kỳ trong tháng 1/2020 so với mức tăng 6,8% so với cùng kỳ trong tháng 12/2019) (Hình 11). Chúng tôi kỳ vọng tăng trưởng sẽ chùng xuống trong tháng 2 và có lẽ là cả sau đó.

Bảng 11: Doanh số bán lẻ hàng tháng đang tăng trưởng mạnh

Bảng 12: Lượt khách du lịch tiếp tục tăng mạnh – 1,99 triệu lượt khách từ đầu năm đến nay

Dịch Corona: Sự ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng

Ảnh hưởng của dịch Corona đã bắt đầu thể hiện rõ, đặc biệt là đối với ngành nông nghiệp, vận tải, du lịch, lưu trú & ăn uống và dịch vụ giải trí. Hiện vẫn còn quá sớm để dự báo chính xác ảnh hưởng của dịch đến những doanh nghiệp sản xuất với định hướng xuất khẩu. Và sự ảnh hưởng phụ thuộc vào: khoảng thời gian nguồn cung bị gián đoạn; thời gian đóng cửa biên giới giữa 2 nước; tồn kho hiện có và khả năng các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam tìm kiếm dược các nhà cung cấp khác. 

Bảng 13: Top 20 sản phẩm nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc (% thị phần)

Cần lưu ý rằng những doanh nghiệp sản xuất với định hướng xuất khẩu hiện đã bắt đầu chịu ảnh hưởng, đặc biệt là các doanh nghiệp liên quan đến chuỗi cung ứng. Nguyên liệu đầu vào cho sản xuất của Việt Nam được nhập khẩu nhiều từ Trung Quốc. Chúng tôi đã xem xét 54 chủng loại sản phẩm được nhập khẩu vào Việt Nam từ 138 đối tác thương mại, từ đó giúp xác định mức độ quan trọng của Trung Quốc trong từng thị trường của từng sản phẩm.

Chúng tôi ước tính Trung Quốc lần lượt đóng góp 40,6%; 23,6%; 58,3%; 51,9% và 34,7% tổng kim ngạch nhập khẩu máy móc thiết bị, máy tính & sản phẩm điện tử, vải, điện thoại & ĐTDĐ và sắt thép trong năm 2019 (Hình 13).

Do vậy, sự gián đoạn tại các chuỗi cung ứng tại Trung Quốc có thể đem đến nguy cơ cao cho sự tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm chủ chốt của Việt Nam, gồm điện thoại & ĐTDĐ (chiếm 19,5% tổng kim ngạch xuất khẩu); máy tính & sản phẩm điện (chiếm 13,6% tổng kim ngạch xuất khẩu); dệt may & quần áo (chiếm 12,4% tổng kim ngạch xuất khẩu); giày dép (chiếm 6,9% tổng kim ngạch xuất khẩu); máy móc thiết bị (chiếm 6,9% tổng kim ngạch xuất khẩu) (Hình 14).

Cũng cần lưu ý rằng thành phố Vũ Hán và tỉnh Hồ Bắc, tâm dịch đã được cách ly hiện chiếm 74,3% tổng số ca nhiễm Covid-19 tại Trung Quốc (Hình 15) chỉ lần lượt đóng góp khoảng 0,7% và 1,3% tổng kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc (Hình 16). Cho dù Hồ Bắc có nền công nghiệp ô tô lớn (chiếm khoảng 9% tổng sản lượng sản xuất của Trung Quốc), thì Việt Nam ít phụ thuộc vào phụ tùng ô tô Trung Quốc với 17% phụ tùng và phụ kiện xe ô tô được nhập khẩu từ Trung Quốc trong năm 2019 (Hình 13).

Bảng 14: Top 20 sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam

Bảng 15: Dịch Coronavirus: số lượng nạn nhân tại Hồ Bắc, Trung Quốc và toàn thế giới

Bảng 16: Xuất khẩu của Vũ Hàn và Hồ Bắc trên tổng xuất khẩu của Trung Quốc

Dự báo vĩ mô của HSC

Lưu ý và những giả định chính:

  • Dự báo GDP dựa trên ước tính chung từ IMF và ADB và ước tính của chúng tôi (áp dụng mô hình dự báo ARIMA và ước tính GDP thực theo giá cố định năm 2010 bằng cách sử dụng phương pháp sản xuất, tức là tổng hợp giá trị gia tăng của các ngành).
  • Dự báo CPI dựa trên ước tính chung từ IMF và ước tính của chúng tôi (áp dụng mô hình dự báo ARIMA và ước tính thay đổi CPI từ các thành phần trong giỏ).

Lịch trình kinh tế chính (Tháng 2 – tháng 6/2020)

Các cổ phiếu HSC quan tâm

                                                                                                                                                                         Nguồn: HSC

BÌNH LUẬN()

CÁC TIN LIÊN QUAN

Đối tác

Gọi ngay
Messenger
Zalo chát
Mở tài khoản
Góp ý