Nền kinh tế nhìn chung yếu đi, nhưng vẫn duy trì tăng trưởng bình thường
Trong báo cáo trước, HSC đã hạ dự báo GDP trong Q4/2022 xuống 5,4% – mức tăng theo quý thấp hơn so với mức tăng kỷ lục ghi nhận trong Q3/2022 (do mức nền thấp) (Mời xem: GDP tăng kỷ lục trong Q3/2022; nâng dự báo GDP cả năm 2022 lên 8,1%, ngày 9/10/2022). Các số liệu kinh tế trong tháng 10 hầu hết sát với sự báo của chúng tôi.
Doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ tăng 17,1% so với cùng kỳ (sau khi tăng 23,9% so với cùng kỳ trong tháng 9) và tiếp tục là điểm sáng trong tháng 10/2022. Mặc dù vậy, lãi suất huy động vẫn tiếp tục tăng để hỗ trợ đồng VND khi tỷ giá hối đoái đang ở mức thấp kỷ lục, HSC cho rằng việc tăng lãi suất sẽ hạn chế chi tiêu trong tương lai, đồng thời làm suy yếu nhu cầu tiêu dùng trong bối cảnh lạm phát hiện nay.
Trên thực tế, CPI đã vượt mức 4% lần đầu tiên kể từ tháng 3/2020, do các cấu phần cơ bản thúc đẩy. Đây là xu hướng đáng quan tâm, do các cấu phần này có xu hướng tăng kéo dài và sẽ gây áp lực khiến NHNN tăng mục tiêu lạm phát lên 4,5% trong năm 2023.
Trong bối cảnh nhu cầu toàn cầu suy yếu, hoạt động thương mại tháng 10/2022 kém khả quan sát với dự báo. KNXK tăng chậm lại 4,5% so với cùng kỳ – mức tăng thấp nhất kể từ tháng 9/2021 – thời điểm Việt Nam thực hiện các biện pháp phong toả do dịch COVID-19. Nguyên nhân chủ yếu do KNXK điện thoại giảm 9% so với cùng kỳ do nhu cầu điện tử tiêu dùng suy yếu. KNNK tăng 7,1% so với cùng kỳ chủ yếu nhờ nhu cầu nhập khẩu năng lượng tiếp tục tăng mạnh, cho thấy Việt Nam đang dễ bị ảnh hưởng hơn khi giá năng lượng toàn cầu biến động.
Dù đối mặt với nhiều biến động của thị trường ngoại hối trong ngắn hạn, nhà đầu tư vẫn lạc quan với triển vọng dài hạn của nền kinh tế. Tính từ đầu năm, vốn FDI giải ngân đã tăng 15,2% so với cùng kỳ – mức cao nhất ghi nhận trong 10 tháng đầu năm kể từ năm 2015, sát với dự báo tăng trưởng FDI giải ngân năm 2022 đạt 13,3% của chúng tôi.
Dù tốc độ giải ngân vốn FDI ổn định, giải ngân vốn đầu tư công trong nước nhiều khả năng sẽ khó hoàn thành mục tiêu đề ra trong năm nay và sẽ là thách thức lớn đối với tăng trưởng kinh tế trong năm tới, đặc biệt trong bối cảnh chi phí đi vay tăng.
Bảng 1: Xu hướng của các chỉ số kinh tế 
GDP sẽ giảm xuống 5,4% do lãi suất tăng kìm hãm chi tiêu
Nền kinh tế bắt đầu suy yếu trong 10/2022, sát với dự báo của HSC – GDP Q4/2022 sẽ tăng chậm lại 5,4% so với cùng kỳ sau khi tăng 13,7% so với cùng kỳ trong Q3/2022. Nguyên nhân chính là do động lực thúc đẩy tăng trưởng yếu đi khi rủi ro gia tăng, trong đó: (1) CPI tăng do các cấu phần cơ bản với xu hướng tăng kéo dài gây áp lực khiến NHNN tăng mục tiêu lạm phát lên 4,5% trong năm 2023, (2) hoạt động sản xuất & thương mại đều tăng trưởng chậm lại xuống mức một con số, và (3) tốc độ đầu tư công khó có thể đạt được mục tiêu đề ra. Về mặt tích cực, doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ tăng 17% so với cùng kỳ, cho thấy nhu cầu trong nước phục hồi. Tuy nhiên, lãi suất huy động tăng có thể sẽ kìm hãm chi tiêu trong tương lai do chính sách giảm 2% thuế VAT sẽ kết thúc vào tháng 12.
Doanh số bán lẻ hàng hoá & dịch vụ vẫn ổn định mặc dù ảnh hưởng của mức nền thấp đang yếu đi
Trong tháng 10, doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ tăng hơn 17% so với cùng kỳ (tăng 1,5% so với tháng trước) (Bảng 2). Trong 10 tháng đầu năm 2022, doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ đã hồi phục hơn 20% so với cùng kỳ đạt 4.644 nghìn tỷ đồng sau khi giảm 5% so với cùng kỳ trong tháng 10/2021. Doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ vẫn là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng trong khi hoạt động thương mại có vẻ đang chững lại.
Biểu đồ 2: Doanh số bán lẻ hàng hóa dịch vụ hàng tháng 
Nhìn chung, điều này củng cố dự báo của HSC – doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ năm 2022 sẽ tăng trưởng 18,8% (Mời xem: Doanh số bán lẻ hàng hoá & dịch vụ sẽ là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng GDP Q3/2022, ngày 14/9/2022).
Tuy nhiên, động lực thúc đẩy tăng trưởng được dự báo sẽ quay trở lại mức bình thường trong các tháng tới do lợi thế từ mức nền thấp giảm dần và lạm phát gia tăng làm suy yếu nhu cầu đối với hàng hóa và dịch vụ của người tiêu dùng.
Ngoài ra, lãi suất huy động tăng sẽ khuyến khích người tiêu dùng tiết kiệm hơn trong thời gian tới. Vietcombank (VCB) – một trong bốn ngân hàng lớn nhất Việt Nam – gần đây đã tăng lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng lên 7,4%, mức cao nhất kể từ tháng 4/2014, nâng lãi suất lên 190 điểm cơ bản tính từ đầu năm (Bảng 3).
Biểu đồ 3: Lịch sử lãi suất tiền gửi, VCB 
Do áp lực tiếp tục gia tăng khi đồng VND suy yếu và NHNN tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ, HSC dự báo lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng sẽ là 7,5% vào cuối năm 2022 và có thể tăng lên 8% vào cuối năm 2023.
CPI vượt 4%, mức cao nhất kể từ tháng 3/2022
CPI tổng thể hiện đã vượt mục tiêu 4% của NHNN, tăng lên 4,3% so với cùng kỳ – mức cao nhất kể từ tháng 3/2020. Theo HSC, áp lực lên lạm phát tổng thể sẽ tiếp diễn trong các tháng tới, do lạm phát cơ bản (với xu hướng tăng kéo dài) sẽ tiếp tục tăng lên 4,5% so với cùng kỳ trong tháng 10 (Bảng 4), mức cao nhất kể từ tháng 4/2015 (theo dữ liệu cập nhật của chúng tôi). Kiểm soát lạm phát trở thành ưu tiên hàng đầu của NHNN Việt Nam khi Chính phủ đề xuất nâng mục tiêu lạm phát lên 4,5% trong năm 2023 từ mức mục tiêu 4% đã được duy trì trong hơn 6 năm qua.
Chi phí dịch vụ ăn uống tăng 6,6% so với cùng kỳ là động lực chủ yếu thúc đẩy lạm phát cơ bản, đánh dấu tháng tăng thứ 15 liên tiếp và phản ánh giá chế biến nguyên liệu thô tăng. Ngoài ra, lạm phát chi phí nhà ở & vật liệu xây dựng trong tháng 10 đã tăng 5,4% so với cùng kỳ từ mức nền thấp năm ngoái, chủ yếu do chi phí thuê nhà tăng 8,9% so với tháng trước.
Biểu đồ 4: Lạm phát tổng thể 
Biểu đồ 5: Đóng góp vào lạm phát tổng thể 
Ngoài các mặt hàng chính, chi phí thực phẩm cũng tăng 5% so với cùng kỳ – tháng tăng thứ 6 liên tiếp – khi giá thịt lợn giảm nhưng giá các mặt hàng thực phẩm khác như hải sản tươi sống và rau tăng.
Về mặt tích cực, lạm phát giao thông đã tăng chậm lại 1,8% so với cùng kỳ, thấp hơn đáng kể so với tăng 6,7% so với cùng kỳ trong tháng 9/2022 (Bảng 5). Nguyên nhân nhờ mức nền cao trong năm trước và giá xăng dầu trong nước giảm 6% so với tháng trước dù giá dầu thế giới trong tháng ổn định.
Chỉ số công nghiệp tăng trưởng chậm lại 5,7%
Trong bối cảnh tăng trưởng ngành dịch vụ chững lại ở khu vực Eurozone và Mỹ (các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam), theo Tổng cục Thống kê, chỉ số công nghiệp chế biến & chế tạo tăng chậm lại 5,7% so với cùng kỳ trong tháng 10 (Bảng 6).
Biểu đồ 6: PMI và chỉ số công nghiệp chế biến & chế tạo
Tuy nhiên, trong 10 tháng đầu năm 2022, chỉ số công nghiệp chế biến & chế tiếp tục tăng mạnh 9,6% so với cùng kỳ, cao hơn so với tăng 4,5% so với cùng kỳ trong 10 tháng đầu năm 2021 và đã hồi phục về mức trước dịch COVID-19 năm 2019. Điều này nhất quán với chỉ số PMI sản xuất của Việt Nam theo báo cáo từ S&P Global. Trong tháng 10, chỉ số này đã giảm xuống 50,6 từ 52,5 (Bảng 6), đánh dấu tháng hồi phục thứ 13 liên tiếp của môi trường kinh doanh nhưng với tốc độ chậm hơn khi số lượng đơn đặt hàng và đơn hàng xuất khẩu mới tiếp tục tăng chậm lại. Tuy nhiên, nền kinh tế toàn cầu ảm đạm đang bắt đầu tác động đến tăng trưởng của các doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam.
Thương mại tăng trưởng chậm lại nhưng vẫn mạnh mẽ tính từ đầu năm
Do nhu cầu trên thế giới suy yếu, hoạt động thương mại của Việt Nam kém khả quan trong tháng 10. Mặc dù động lực thúc đẩy tăng trưởng yếu đi, trong 10 tháng đầu năm 2022, KNXK (313 tỷ USD) và KNNK (303 tỷ USD) vẫn tăng ổn định lần lượt 15,9% và 12,2%, sát với dự báo của chúng tôi. Trong năm 2022, chúng tôi dự báo KNXK sẽ tăng trưởng nhẹ 13,1% từ 12,0% trong năm 2021 (Mời xem: Căng thẳng địa chính trị ảnh hưởng tới nền kinh tế Việt Nam, ngày 25/3/2022).
KNXK tăng trưởng chậm lại 4,5% so với cùng kỳ – mức tăng thấp nhất kể từ tháng 9/2021 – thời điểm Việt Nam thực hiện các biện pháp phong toả do dịch COVID-19 (Bảng 7). Trong khi KNXK giày dép tiếp tục là động lực mạnh mẽ khi tăng 103% so với cùng kỳ và đóng góp 6,3% vào tổng KNXK, tổng KNXK giảm chủ yếu do KNXK điện thoại giảm 9% so với cùng kỳ (Bảng 8), phản ánh nhu cầu điện tử tiêu dùng suy yếu.
Biểu đồ 7: Đóng góp vào tăng trưởng xuất khẩu 
Biểu đồ 8: Các mặt hàng chính dẫn đầu và cuối danh mục hàng xuất khẩu 
Xu hướng tương tự được ghi nhận đối với KNNK – tăng 7,1% so với cùng kỳ (Bảng 9) chủ yếu nhờ nhu cầu sử dụng năng lượng tiếp tục tăng mạnh: KNNK dầu thô tăng 138% so với cùng kỳ trong khi KNNK sản phẩm xăng dầu tăng 55% so với cùng kỳ (Bảng 10). Tuy nhiên, với các mặt hàng nhập khẩu chính, KNNK điện thoại giảm 3% so với cùng kỳ trong khi KNNK vải đi ngang trong tháng 10.
Biểu đồ 9: Đóng góp vào tăng trưởng nhập khẩu 
Biểu đồ 10: Các mặt hàng dẫn đầu và cuối danh mục nhập khẩu: 
Thặng dư thương mại của Việt Nam đạt 9,4 tỷ USD tính từ đầu năm
Về mặt tích cực, Việt Nam ghi nhận thặng dư thương mại ước tính đạt khoảng 2,3 tỷ USD, tương đương thặng dư thương mại luỹ kế 10 tháng đầu năm 2022 đạt 9,4 tỷ USD so với thâm hụt 0,6 tỷ USD trong 10 tháng đầu năm 2021, cao hơn một chút với dự báo thặng dư thương mại năm 2022 đạt 7,4 tỷ USD của chúng tôi. Dòng ngoại hối bổ sung đang giúp đáp ứng nhu cầu cao tại thị trường trong nước và giảm áp lực lên đồng VND.
FDI cam kết giảm chậm lại
Tính từ đầu năm, vốn FDI giải ngân đã tăng 15,2% so với cùng kỳ – mức cao nhất ghi nhận trong 10 tháng đầu năm kể từ năm 2015 (Bảng 11), sát với dự báo tăng trưởng FDI giải ngân năm 2022 đạt 13,3% của chúng tôi (Mời xem: Nền kinh tế Việt Nam năm 2022-2023: Bức tranh tươi sáng, ngày 21/2/2022).
Biểu đồ 11: Vốn FDI giải ngân 
Biểu đồ 12: Vốn FDI cam kết hàng tháng theo quốc gia 
Ngoài ra, FDI cam kết trong 10 tháng đầu năm 2022 đã giảm chậm lại 5,4% so với cùng kỳ do vốn FDI đăng ký mới giảm 24% so với cùng kỳ. Trong khi đó, vốn bổ sung cho các dự án hiện hữu và góp vốn mua cổ phần tăng lần lượt hơn 23% và 4,5% so với cùng kỳ. Nhật Bản là quốc gia với vốn FDI cam kết vào Việt Nam đứng đầu trong tháng 10 (Bảng 12).
FDI cam kết tính từ đầu năm sát với dự báo cả năm của HSC; chúng tôi dự báo FDI cam kết năm 2022 giảm 3,5% (Mời xem: Doanh số bán lẻ hàng hoá & dịch vụ sẽ là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng GDP Q3/2022, ngày 14/9/2022).
Đầu tư công chỉ đạt 2/3 kế hoạch cả năm
Đầu tư công trong tháng tăng hơn 24% so với cùng kỳ (Bảng 13), tuy nhiên, trong 10 tháng đầu năm 2022, đầu tư công tương đương chỉ 67% kế hoạch năm 2022 của Chính phủ (khoảng 526 nghìn tỷ đồng).
Biểu đồ 13: Đầu tư công sử dụng ngân sách nhà nước 
Trong đó, thu ngân sách cao hơn (tương đương 104% kế hoạch năm 2022) so với chi ngân sách (tương đương 68% kế hoạch năm 2022) tính từ đầu năm đến nay. Lưu ý, thu ngân sách từ dầu thô trong 10 tháng đầu năm 2022 đạt 66 nghìn tỷ đồng, tương đương 232% kế hoạch cả năm và tăng 95% so với cùng kỳ. Do đó, trong 10 tháng đầu năm 2022, ngân sách nhà nước thặng dư 245 nghìn tỷ đồng so với mục tiêu thâm hụt 372,9 nghìn tỷ đồng theo kế hoạch năm 2022 (“Quyết định 2432” của Bộ Tài chính).
Số lượng khách du lịch quốc tế cải thiện 12%
Số lượng khách du lịch quốc tế trong tháng 10/2022 tiếp tục tăng mạnh 46 lần so với cùng kỳ sau khi tăng 12% so với tháng trước, cho thấy động lực đang gia tăng, sát với dự báo của HSC trong báo cáo trước đó (Bảng 14). Khách du lịch chủ yếu đến từ Hàn Quốc, châu Âu và Mỹ (chiếm gần 50% tổng lượng khách du lịch) (Bảng 15).
Trong 10 tháng đầu năm 2022, tổng lượng khách du lịch quốc tế đạt 2,4 triệu người, tăng gần 18 lần so với cùng kỳ (so với giảm 97% so với cùng kỳ trong 10 tháng đầu năm 2021). Năm nay, HSC dự báo số lượng khách du lịch quốc tế sẽ tăng lên 3,5 triệu người và tăng gấp đôi trong năm 2023 đạt 7 triệu người (Mời xem: Doanh số bán lẻ hàng hoá & dịch vụ là tâm điểm trong tháng 7, ngày 9/8/2022). HSC kỳ vọng số lượng khách du lịch quốc tế sẽ tiếp tục được cải thiện trong Q4/2022 để đạt dự báo cả năm 2022.
Biểu đồ 14: Số lượng khách du lịch quốc tế hàng tháng 
Biểu đồ 15: Lượng khách quốc tế hàng tháng theo quốc gia
Dự báo kinh tế vĩ mô của HSC
Nguồn: HSC
Tuyên bố miễn trách nhiệm: Báo cáo chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin và nhà đầu tư chỉ nên sử dụng báo cáo phân tích này như một nguồn tham khảo. Dautucophieu.net sẽ không chịu bất kỳ trách nhiệm nào trước nhà đầu tư cũng như đối tượng được nhắc đến trong báo cáo này về những tổn thất có thể xảy ra khi đầu tư hoặc những thông tin sai lệch về doanh nghiệp.

