Tiêu dùng là động lực thúc đẩy GDP trong Q3/2022
Doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ hồi phục hơn 40% so với cùng kỳ từ mức nền thấp năm 2021 – thời điểm Việt Nam thực hiện các biện pháp phong toả do dịch COVID-19, chủ yếu nhờ tiêu dùng trong nước mạnh mẽ, và cải thiện của thị trường lao động. Q3/2022, 300.000 người đã được bổ sung vào lực lượng lao động, nâng tổng số lao động lên 50,8 triệu và giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống 2,28%. Chúng tôi kỳ vọng lực lượng lao động sẽ tiếp tục được cải thiện trong Q4/2022, giúp tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống 2,2% vào cuối năm.
Các chỉ số khác trái chiều, nhiều khó khăn có thể xuất hiện
CPI trong những tháng tới rất đáng lưu ý. Mặc dù giá năng lượng và thịt lợn giảm, CPI vẫn tăng mạnh 3,94% so với cùng kỳ trong Q3/2022, cao hơn so với dự báo của chúng tôi là 3,57% (Mời xem: Lạm phát tháng 8/2022 tiếp tục giảm nhiệt, ngày 15/9/2022). Nguyên nhân chủ yếu là do áp lực tiếp tục gia tăng từ chi phí dịch vụ ăn uống, khiến CPI cơ bản chạm mức 3,8% trong tháng 9 – mức cao nhất kể từ tháng 4/2015. Đáng chú ý, điều này có thể gây áp lực khiến NHNN tiếp tục thắt chặt chính sách nếu lạm phát tổng thể tiếp tục tăng trên 4% trong các tháng tới. Về thương mại, KNXK tăng mạnh 17% so với cùng kỳ trong Q3/2022, một phần do mức nền thấp trong năm ngoái khi KNXK tăng không đáng kể. Tuy nhiên, KNNK chỉ tăng 8% so với cùng kỳ và trên thực tế đã giảm 7% so với quý trước, phản ánh trữ lượng hàng hoá giảm. Điều này có khả năng ảnh hưởng đến KNXK trong những quý tới trong bối cảnh nhu cầu tiêu dùng toàn cầu chuyển từ hàng hóa sang dịch vụ và lo ngại về suy thoái ở khu vực Eurozone và Mỹ.
Vốn FDI giải ngân trong 9 tháng đầu năm 2022 nhìn chung đáng thất vọng (chỉ hoàn thành khoảng 60% kế hoạch năm 2022). Đây là vấn đề chính trong một vài năm gần đây, đặc biệt ở khu vực phía Nam và có thể cản trở tăng trưởng dài hạn của Việt Nam. Theo các chuyên gia, cơ sở hạ tầng chậm phát triển là nguyên nhân chính (Mời xem: Việt Nam đang tăng trưởng ở mức 7%. Hà Nội có thể làm tốt hơn, ngày 19/8/2022, Bloomberg). Trước những khó khăn ngắn hạn này, HSC hạ nhẹ dự báo GDP Q4/2022 từ 6,0% xuống 5,4%, thấp hơn so với mức tăng kỷ lục ghi nhận trong Q3/2022 (do mức nền thấp). Tuy nhiên, do tăng trưởng GDP Q3/2022 cao hơn so với kỳ vọng, HSC nâng GDP cả năm 2022 từ 7,6% lên 8,1%. Chúng tôi cũng duy trì dự báo tăng trưởng GDP năm 2023 và 2024 lần lượt đạt 6,7% và 6,5% (Mời xem: Nền kinh tế Việt Nam ổn định trước tình hình đồng VND suy yếu nhẹ, ngày 30/9/2022).
Biểu đồ 1: Xu hướng của các chỉ số kinh tế 
Cập nhật số liệu kinh tế vĩ mô
Nhìn chung, nền kinh tế Việt Nam đã cải thiện trong Q3/2022 sau đà tăng rất mạnh của tiêu dùng và hoạt động thương mại tăng trưởng chậm lại. Các chỉ số khác trái chiều, và chúng tôi đang lưu ý đến ảnh hưởng khi CPI cơ bản tăng, số lượng khách du lịch quốc tế giảm và đầu tư công kém khả quan. Trước những khó khăn ngắn hạn này, HSC hạ nhẹ dự báo GDP Q4/2022. Tuy nhiên, do tăng trưởng GDP Q3/2022 cao hơn so với kỳ vọng, HSC nâng dự báo GDP cả năm 2022 từ 7,6% lên 8,1%, với nhiều khả năng GDP thực tế có thể vượt dự báo hơn nếu xu hướng tăng trong Q3/2022 tiếp diễn. Trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế toàn cầu chậm lại, tăng trưởng GDP của Việt Nam có thể đứng đầu khu vực châu Á trong năm 2022.
Tiêu điểm: Nâng dự báo GDP năm 2022 sau đà tăng mạnh trong Q3/2022
GDP Việt Nam tăng mạnh 13,7% so với cùng kỳ trong Q3/2022, cao hơn nhiều so với mức tăng 7,8% so với cùng kỳ trong Q2/2022 (điều chỉnh tăng từ mức 7,7% so với cùng kỳ trước đó) và cao hơn so với dự báo của chúng tôi là 11,8% so với cùng kỳ. Nhờ tăng trưởng GDP Q3/2022 cao kỷ lục kể từ năm 2000, GDP trong 9 tháng đầu năm 2022 đã tăng 8,8% so với cùng kỳ so với chỉ 1,4% trong 9 tháng đầu năm 2021.
Trước xu hướng tăng rất mạnh này, HSC nâng dự báo GDP cả năm 2022 từ 7,6% lên 8,1% (Bảng 2). Tuy nhiên, HSC cũng hạ nhẹ dự báo GDP Q4/2022 từ 6,0% xuống 5,4% do những thách thức trong ngắn hạn, bao gồm CPI tăng, hoạt động thương mại suy yếu và đầu tư công kém khả quan.
Chúng tôi duy trì dự báo tăng trưởng GDP năm 2023 và 2024 đạt lần lượt 6,7% và 6,5%.
Biểu đồ 2: Những điều chỉnh dự báo kinh tế vĩ mô được đề cập trong báo cáo này 
Biểu đồ 3: Tăng trưởng GDP theo ngành 
Phân tích chi tiết chỉ số GDP trong Q3/2022
Cơ cấu GDP Q3/2022 theo khu vực:
- Khu vực nông lâm & ngư nghiệp tăng 3,2% so với cùng kỳ từ tăng 3,1% so với cùng kỳ trong Q2/2022.
- Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 12,9% so với cùng kỳ, cao hơn so với tăng 8,7% so với cùng kỳ trong Q2/2022.
- Khu vực dịch vụ tăng đáng kể 18,9% so với cùng kỳ so với tăng 8,9% so với cùng kỳ trong Q2/2022, được thúc đẩy chủ yếu nhờ doanh số tăng mạnh của hoạt động bán buôn & bán lẻ hàng hoá, giao thông, dịch vụ lưu trú & ăn uống (Bảng 3).
Cụ thể, những ngành có tốc độ tăng trưởng cao hơn so với lạm phát tổng thể bao gồm ngành xây dựng (tăng 16,7% so với cùng kỳ), bán buôn & bán lẻ hàng hoá (tăng 21% so với cùng kỳ), giao thông & kho bãi (tăng 28,8% so với cùng kỳ), dịch vụ lưu trú & ăn uống (tăng 172% so với cùng kỳ), nghệ thuật & giải trí (tăng 26,5% so với cùng kỳ) (Bảng 4). Ngược lại, tăng trưởng chậm lại được ghi nhận đối với ngành y tế (tăng 18,2% so với cùng kỳ) do nhu cầu giảm sau đại dịch COVID-19.
Về sử dụng GDP, tiêu dùng cuối trong Q3/2022 tăng 10,1% so với cùng kỳ so với tăng 7,3% so với cùng kỳ trong Q2/2022. Trong khi đó, tích luỹ tài sản cố định gộp tăng 8,7%, cao hơn so với tăng 4,57% so với cùng kỳ trong Q2/2022. Ngoài ra, KNXK hàng hoá & dịch vụ tăng nhanh hơn so với KNNK (lần lượt đạt 9,3% và 2,7% so với cùng kỳ) trong Q3/0222 cũng góp phần thúc đẩy GDP tăng.
Biểu đồ 4: Cơ cấu GDP theo ngành 
CPI cơ bản chạm mức cao nhất kể từ tháng 4/2015
Lạm phát cơ bản tiếp tục tăng 3,8% so với cùng kỳ (Bảng 5), mức cao nhất kể từ tháng 4/2015 (theo dữ liệu cập nhật của chúng tôi), do nhu cầu tiêu dùng tiếp tục được thúc đẩy nhờ sự cải thiện của thị trường lao động. Trong Q3/2022, 300.000 người đã được bổ sung vào lực lượng lao động, nâng tổng số lao động lên 50,8 triệu và giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống 2,28%.
Chi phí dịch vụ ăn uống tăng 6,5% so với cùng kỳ là động lực chủ yếu thúc đẩy lạm phát cơ bản, đánh dấu tháng tăng thứ 14 liên tiếp, phản ánh nhu cầu đi lại trong nước mạnh mẽ trong dịp nghỉ lễ 2/9 và giá chế biến nguyên liệu thô tăng.
Lưu ý, xu hướng tăng kéo dài của CPI cơ bản khi đồng VND suy yếu trên thị trường ngoại hối có thể gây áp lực khiến NHNN tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ trong các quý tới. Ngoài ra, lạm phát tổng thể hiện đã tăng 3,9% so với cùng kỳ, gần chạm mức mục tiêu 4% của NHNN.
Theo HSC, nguyên nhân chủ yếu là do chi phí lương thực & thực phẩm tăng (Bảng 6) và sẽ tiếp tục gây áp lực chủ yếu lên lạm phát trong tương lai. Trên thực tế, chi phí lương thực & thực phẩm đã tăng 3,7% so với cùng kỳ – tháng tăng thứ 8 liên tiếp – khi giá thịt lợn giảm nhưng giá các mặt hàng thực phẩm khác như hải sản tươi sống và rau tăng.
Ngoài ra, lạm phát chi phí nhà ở & vật liệu xây dựng trong tháng 9 đã tăng trở lại 4,4% so với cùng kỳ từ mức nền thấp năm ngoái, chủ yếu do chi phí thuê nhà tăng 8,2% so với tháng trước.
Biểu đồ 5: Lạm phát tổng thể 
Biểu đồ 6: Đóng góp vào lạm phát tổng thể 
Một thông tin tích cực hơn, lạm phát giao thông đang có dấu hiệu hạ nhiệt, tăng 6,7% so với cùng kỳ, thấp hơn đáng kể so với tăng 8,9% so với cùng kỳ trong tháng 8/2022. Giá dầu thế giới trong tháng giảm đã khiến giá xăng dầu trong nước điều chỉnh giảm 3 lần trong kỳ, bình quân giảm 2,2% so với tháng trước.
Trong tương lai, chi phí giao thông được kỳ vọng sẽ tiếp tục giảm trong tháng 10. Vào ngày 3/10/2022, giá xăng trong nước đã được điều chỉnh giảm gần 5% nhờ giá năng lượng toàn cầu tiếp tục giảm.
Chỉ số công nghiệp duy trì tăng trưởng hai chữ số
Trong bối cảnh tăng trưởng ngành dịch vụ chững lại ở khu vực Eurozone và Mỹ (các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam), theo Tổng cục Thống kê, chỉ số công nghiệp chế biến & chế tạo vẫn tăng ổn định 12% so với cùng kỳ trong tháng 9 (Bảng 7). Trong 9 tháng đầu năm 2022, chỉ số công nghiệp chế biến & chế tiếp tục tăng mạnh 10,4% so với cùng kỳ, cao hơn so với tăng 5,5% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2021 và đã hồi phục về mức trước dịch COVID-19 năm 2019.
Điều này nhất quán với chỉ số PMI sản xuất của Việt Nam theo báo cáo từ S&P Global. Trong tháng 9, chỉ số này đã giảm nhẹ xuống 52,5, đánh dấu tháng hồi phục thứ 12 liên tiếp của môi trường kinh doanh với số lượng đơn đặt hàng và đơn hàng xuất khẩu mới tiếp tục tăng nhưng với tốc độ chậm hơn, cho thấy nhu cầu tại các thị trường xuất khẩu suy yếu và khó khăn đối với ngành công nghiệp phục vụ xuất khẩu của Việt Nam trong tương lai.
Biểu đồ 7: PMI và chỉ số công nghiệp chế biến & chế tạo 
Biểu đồ 8: Đóng góp vào tăng trưởng xuất khẩu 
Thương mại tăng trưởng chậm lại
Dù chịu tác động tích cực từ mức nền thấp (giảm 0,1% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021), KNXK đã tăng trưởng chậm lại 10,3% so với cùng kỳ do giảm 14% so với tháng trước (Bảng 8). Trong khi KNXK giày dép và hàng dệt may tiếp tục là động lực mạnh mẽ, tổng KNXK giảm đà tăng trưởng chủ yếu do KNXK thiết bị điện tử giảm. Đáng chú ý, KNXK điện thoại giảm 7% so với cùng kỳ, trong khi KNXK máy tính không ghi nhận tăng trưởng trong tháng 9 (Bảng 9).
Biểu đồ 9: Các mặt hàng chính dẫn đầu và cuối danh mục hàng xuất khẩu 
Biểu đồ 10: Đóng góp vào tăng trưởng nhập khẩu 
Biểu đồ 11: Các mặt hàng dẫn đầu và cuối danh mục nhập khẩu 
Trong khi đó, KNNK tăng chậm lại chỉ hơn 6% so với cùng kỳ (Bảng 10) do nhu cầu đối với các mặt hàng xuất khẩu chính bao gồm thiết bị điện tử và máy móc yếu đi, trong khi KNNK năng lượng tăng là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng KNNK trong tháng 9 (Bảng 11), cho thấy Việt Nam đang ngày càng phụ thuộc vào nguồn năng lượng nhập khẩu.
Về mặt tích cực, Việt Nam ghi nhận thặng dư thương mại ước tính đạt khoảng 1,1 tỷ USD, tương đương thặng dư thương mại luỹ kế 9 tháng đầu năm 2022 đạt 6,5 tỷ USD so với thâm hụt 3,4 tỷ USD trong 9 tháng đầu năm 2021, sát với dự báo thặng dư thương mại năm 2022 đạt 7,4 tỷ USD của chúng tôi và cho thấy cán cân thương mại của Việt Nam có thể cải thiện trong Q3/2022.
Dù tăng chậm lại trong tháng 9, KNXK (283 tỷ USD) và KNNK (276 tỷ USD) trong 9 tháng đầu năm 2022 đã tăng lần lượt 17,3% và 13% so với cùng kỳ, sát với dự báo của chúng tôi. Trong năm 2022, chúng tôi dự báo KNXNK sẽ tăng trưởng chậm lại còn lần lượt 13,1% và 12,0% trong năm 2021 (Mời xem: Căng thẳng địa chính trị ảnh hưởng tới nền kinh tế Việt Nam, ngày 25/3/2022).
FDI cam kết tiếp tục giảm
Tính từ đầu năm, vốn FDI giải ngân đã tăng 16,2% so với cùng kỳ – mức cao nhất ghi nhận trong 9 tháng đầu năm kể từ năm 2013 (Bảng 12), sát với dự báo tăng trưởng FDI giải ngân năm 2022 đạt 13,3% của chúng tôi (Mời xem: Nền kinh tế Việt Nam năm 2022-2023: Bức tranh tươi sáng, ngày 21/2/2022).
Tuy nhiên, FDI cam kết trong 9 tháng đầu năm 2022 đã giảm 15,3% so với cùng kỳ do vốn FDI đăng ký mới giảm 43% so với cùng kỳ. Trong khi đó, vốn bổ sung cho các dự án hiện hữu và góp vốn mua cổ phần tăng lần lượt gần 30% và 1,9% so với cùng kỳ. Nhật Bản là quốc gia với vốn FDI cam kết vào Việt Nam đứng đầu trong tháng 9 (Bảng 13).
Biểu đồ 12: Vốn FDI giải ngân 
Biểu đồ 13: Vốn FDI cam kết trong tháng 9 theo quốc gia 
Do FDI cam kết tính từ đầu năm thấp hơn so với kỳ vọng, HSC hạ dự báo năm 2022 – từ tăng 16,2% trong dự báo trước đó xuống giảm 3,5%.
Tuy nhiên, HSC vẫn duy trì nhận định lạc quan đối với triển vọng trong năm tới. Chúng tôi duy trì dự báo vốn FDI giải ngân và FDI cam kết năm 2023 sẽ tăng trưởng lần lượt 10% và 15%. Các doanh nghiệp sản xuất linh kiện bán dẫn đang lựa chọn Việt Nam là địa điểm sản xuất tiếp theo nhờ vị thế đi lên của Việt Nam trong chuỗi giá trị (Mời xem: Việt Nam trở thành tiêu điểm trong lĩnh vực bán dẫn toàn cầu nhờ nhận được sự quan tâm từ các nhà đầu tư lớn, ngày 20/9/2022, VnExpress).
Tốc độ giải ngân vốn đầu tư công chậm tính từ đầu năm
Đầu tư công trong tháng tăng hơn 42% so với cùng kỳ, nhưng nguyên nhân chủ yếu vẫn là do mức nền thấp trong tháng 9/2021 – thời điểm Việt Nam thực hiện các biện pháp phong toả do dịch COVID-19 (Bảng 14). Tuy nhiên, trong 9 tháng đầu năm 2022, đầu tư công chỉ tương đương chỉ 59% kế hoạch năm 2022 của Chính phủ (khoảng 526 nghìn tỷ đồng).
Trong đó, thu ngân sách cao hơn (tương đương 94% kế hoạch năm 2022) so với chi ngân sách (tương đương 61% kế hoạch năm 2022) tính từ đầu năm đến nay. Lưu ý, thu ngân sách từ dầu thô trong 9 tháng đầu năm 2022 đạt 60 nghìn tỷ đồng, tương đương 210% kế hoạch cả năm và tăng 104% so với cùng kỳ. Do đó, trong 9 tháng đầu năm 2022, ngân sách nhà nước thặng dư 241 nghìn tỷ đồng so với mục tiêu thâm hụt 372,9 nghìn tỷ đồng theo kế hoạch năm 2022 (“Quyết định 2432” của Bộ Tài chính).
Biểu đồ 14: Đầu tư công sử dụng ngân sách nhà nước 
Biểu đồ 15: Doanh số bán lẻ hàng hóa dịch vụ hàng tháng 
Doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ trở thành động lực chính thúc đẩy tăng trưởng
Trong tháng 9, doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ tăng hơn 36% so với cùng kỳ (tăng 2,9% so với tháng trước) (Bảng 15). Trong 9 tháng đầu năm 2022, doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ đã hồi phục 21% so với cùng kỳ đạt 4.179 nghìn tỷ đồng sau khi giảm 5% so với cùng kỳ trong tháng 9/2021, tương đương 61% GDP danh nghĩa và trở thành động lực chính thúc đẩy tăng trưởng trong khi hoạt động thương mại có vẻ đang chững lại. Nguyên nhân là nhờ tiêu dùng phục hồi mạnh mẽ từ mức nền thấp và thị trường lao động được cải thiện như đã trình bày phía trên.
Nhìn chung, điều này củng cố dự báo của HSC – doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ năm 2022 sẽ tăng trưởng 18,8% (Mời xem: Doanh số bán lẻ hàng hoá & dịch vụ sẽ là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng GDP Q3/2022, ngày 14/9/2022).
Tuy nhiên, động lực thúc đẩy tăng trưởng được dự báo sẽ chững lại trong các tháng tới do không còn hưởng lợi từ mức nền thấp.
Số lượng khách du lịch quốc tế trong tháng 9 giảm 11% so với tháng trước
Số lượng khách du lịch quốc tế trong tháng 9/2022 tiếp tục tăng mạnh 45 lần so với cùng kỳ, nhưng giảm 11% so với tháng trước, cho thấy động lực thúc đẩy đang tạm thời chững lại (Bảng 16). Khách du lịch chủ yếu đến từ Hàn Quốc, châu Âu và Mỹ (chiếm gần 50% tổng lượng khách du lịch) (Bảng 17).
Trong 9 tháng đầu năm 2022, tổng lượng khách du lịch quốc tế đạt 1,44 triệu người, tăng 16 lần so với cùng kỳ (so với giảm 97% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2021). Năm nay, HSC dự báo số lượng khách du lịch quốc tế sẽ tăng lên 3,5 triệu người và tăng gấp đôi trong năm 2023 đạt 7 triệu người (Mời xem: Doanh số bán lẻ hàng hoá & dịch vụ là tâm điểm trong tháng 7 ngày 9/8/2022). Số lượng khách du lịch quốc tế cần được cải thiện nhiều trong Q4/2022 để đạt dự báo cả năm 2022 của HSC.
Biểu đồ 16: Số lượng khách du lịch quốc tế hàng tháng 
Biểu đồ 17: Lượng khách quốc tế hàng tháng theo quốc gia
Dự báo kinh tế vĩ mô của HSC
Nguồn: HSC
Tuyên bố miễn trách nhiệm: Báo cáo chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin và nhà đầu tư chỉ nên sử dụng báo cáo phân tích này như một nguồn tham khảo. Dautucophieu.net sẽ không chịu bất kỳ trách nhiệm nào trước nhà đầu tư cũng như đối tượng được nhắc đến trong báo cáo này về những tổn thất có thể xảy ra khi đầu tư hoặc những thông tin sai lệch về doanh nghiệp.

