DANH MỤC

Mobile / Zalo / Viber: 0912 842 224

Cập nhật cổ phiếu MSN – LNST tăng 211.6% so với cùng kỳ trong 9 tháng

Lượt xem: 70 - Ngày:
Chia sẻ

Nhận định KQKD – MSN (Cổ phiếu MSN)công bố KQKD 9 tháng đầu năm với doanh thu đạt 26.630 tỷ đồng (giảm 3% so với cùng kỳ) và LNST của cổ đông công ty mẹ đạt 3.779 tỷ đồng (tăng 211,6% so với cùng kỳ). Nếu không bao gồm lợi nhuận không thường xuyên từ thoái vốn tại TCB, LNST của cổ đông công ty mẹ đạt 2.307 tỷ đồng (tăng 90,2% so với cùng kỳ). Theo đó, công ty đã hoàn thành 67,9% kế hoạch doanh thu thận trọng cho cả năm và 57,7% kế hoạch LNST tham vọng đặt ra cho năm nay.

Đồ thị cổ phiếu MSN phiên giao dịch ngày 05/11/2018. Nguồn: AmiBrokerĐồ thị cổ phiếu MSN phiên giao dịch ngày 05/11/2018. Nguồn: AmiBroker

Kết luận nhanh – Tiếp tục đánh giá Khả quan. Chúng tôi ước tính giá trị hợp lý của cổ phiếu là 98.907đ, tương đương P/E dự phóng là 21,7 lần. Doanh thu giảm do doanh thu của Masan Nutri Science giảm mạnh, trong khi các mảng khác vẫn tăng trưởng tốt.

Xét riêng trong Q3, doanh thu đạt 9.171 tỷ đồng (giảm 2,8% so với cùng kỳ) và LNST của cổ đông công ty mẹ đạt 918 tỷ đồng (giảm 3,2% so với cùng kỳ) – chủ yếu là do mảng Masan Nutri Science bị ảnh hưởng tiêu cực khi giá thịt heo giảm.

  • MCH đạt doanh thu 4.381 tỷ đồng (tăng 27,4% so với cùng kỳ) và lợi nhuận trước thuế, lãi vay và khấu hao (EBITDA) đạt 1.194 tỷ đồng (tăng 37,8% so với cùng kỳ). KQKD của MCH đạt sát kỳ vọng.
  • Do thị trường thức ăn cho heo thường đi sauchu kỳ chăn nuôi heo khoảng 12 tháng, KQKD của MNS thực tế chưa phản ảnh hết toàn bộ tăng trưởng nhu cầu đối với thức ăn chăn nuôi (được biểu hiện ở việc giá thịt heo tăng mạnh).
  • Mặc dù giá đồng giảm (do ảnh hưởng từ chiến tranh thương mại hiện tại và nhu cầu yếu), doanh thu của MSR vẫn tăng 5,8% so với cùng kỳ và công ty giữ lượng đồng tồn kho để bán khi điều kiện thị trường thuận lợi hơn, dự kiến là vào quý sau.
  • Hơn nữa, do tác động pha loãng đến phần sở hữu của công ty tại Techcombank (TCB) sau khi Ngân hàng này tiến hành IPO gần đây, đóng góp của TCB cho MSN giảm và công ty ghi nhận lãi từ công ty liên kết là 442 tỷ đồng (giảm 20,1% so với cùng kỳ) mặc dù TCB đạt KQKD rất ấn tượng trong Q3 với LNST đạt 2.060 tỷ đồng (tăng 20,7% so với cùng kỳ).

Doanh thu thuần 9 tháng đầu năm giảm 3,1% so với cùng kỳ – do doanh thu của Masan Nutri Science giảm trong khi đó cả Masan Consumer Holdings (MCH) và Masan Resources (MSR) đều tăng trưởng doanh thu tốt.

  • MCH đạt doanh thu thuần 11.907 tỷ đồng, tăng 33,3% so với cùng kỳ.
  • MSR đạt doanh thu thuần 4.688 tỷ đồng, tăng 19,3% so với cùng kỳ.
  • MSN đạt doanh thu thuần 10.035 tỷ đồng, giảm 31,2% so với cùng kỳ do cả sản lượng tiêu thụ và giá bán đều giảm bởi giá thịt lợn giảm mạnh trong năm ngoái.

Tỷ suất lợi nhuận gộp 9 tháng đầu năm tăng nhẹ từ 30,0% trong 9 tháng đầu năm ngoái lên 31,3% và cụ thể theo từng mảng kinh doanh như sau:

  • Tỷ suất lợi nhuận gộp của MCH tăng từ 42,8% lên 44,2%.
  • Tỷ suất lợi nhuận gộp của MNS giảm từ 22,0% xuống 15,3%.
  • Tỷ suất lợi nhuận gộp của MSR cũng tăng từ 29,6% lên 32,3%.

Chi phí bán hàng & quản lý giảm mạnh 20,3% so với cùng kỳ – Chi phí bán hàng & quản lý 9 tháng đầu năm là 5.386 tỷ đồng, giảm 20,3% so với cùng kỳ, chủ yếu nhờ chi phí bán hàng & quản lý tại MNS giảm mạnh và giảm nhẹ hơn tại MCH (giảm 3,2% so với cùng kỳ). Theo đó, tỷ lệ chi phí bán hàng & quản lý /doanh thu giảm từ 19,6% trong 9 tháng đầu năm 2017 xuống 16,1% trong cùng kỳ năm nay.

  • MCH ghi nhận lý 2.832 tỷ đồng (giảm 3,2% so với cùng kỳ) chi phí bán hàng & quản lý phát ính trong 9 tháng đầu năm. Tỷ lệ chi phí bán hàng & quản lý/doanh thu giảm đáng kể từ 32,7% trong 9 tháng đầu năm ngoái xuống 23,7% trong cùng kỳ đầu năm nay do công ty giảm chi phí bán hàng (đặc biệt là chi phí khuyến mại) và tăng chi phí marketing. Cụ thể, chi phí khuyến mại giảm 3,00% so với cùng kỳ nhưng chi phí marketing tăng mạnh 50% so với cùng kỳ nhằm đẩy mạnh quảng bá các sản phẩm mới.
  • Chi phí bán hàng & quản lý của MSN giảm 48,4% so với cùng kỳ từ 2.138 tỷ đồng xuống 1.103 tỷ đồng do doanh thu thức ăn chăn nuôi giảm, do ảnh hưởng sau khủng hoảng giá thịt heo.
  • Chi phí bán hàng & quản lý của MSR là 190 tỷ đồng, tăng nhẹ 2,1% so với cùng kỳ.

Lỗ tài chính thuần giảm 71,1% so với cùng kỳ, là 654 tỷ đồng – nhờ khoản lợi nhuận không thường xuyên liên quan đến thoái vốn tại TCB. Trong Q2, TCB (công ty liên kết của MSN) đã bán tổng cộng 172.353.345 cổ phiếu quỹ cho một số NĐT và người lao động, theo đó ghi nhận khoản lãi 16.349 tỷ đồng. MSN không mua vào bất kỳ số cổ phiếu quỹ bán ra này, do đó tỷ lệ sở hữu tại TCB bị pha loãng, giảm từ 25,2% xuống 20%. Về mặt kỹ thuật đây được xem như MSN thoái 5,2% cổ phần tại TCB và theo đó phát sinh lợi nhuận tài chính. Phần lợi nhuận này tương đương với số tiền giả định phân bổ cho MSN tương ứng với tỷ lệ sở hữu (20% trong tổng số 16.439 tỷ đồng như đề cập phía trên) trừ đi giá trị của 5,2% cổ phần trước khi thoái vốn kỹ thuật. Kết quả theo cách tính này là 1.472 tỷ đồng lợi nhuận không thường xuyên cho MSN. Đây hoàn toàn là lợi nhuận về mặt kế toán và không ảnh hưởng đến dòng tiền của MSN.

Lợi nhuận thuần từ HĐSXKD tăng 90,2% so với cùng kỳ – đạt 2.307 tỷ đồng, theo đó tỷ suất lợi nhuận thuần là 8,7% (cùng kỳ năm ngoái là 4,4%).

Phân tích KQKD 9 tháng đầu năm theo từng mảng kinh doanh – Dưới đây là KQKD cụ thể của từng mảng kinh doanh trong 9 tháng đầu năm nay.

  1. Masan Consumer Holdings (MCH) báo đạt doanh thu thuần 11.907 tỷ đồng, tăng 33,3% so với cùng kỳ và EBITDA đạt 3.103 tỷ đồng, tăng 98,6% so với cùng kỳ với hầu hết các mặt hàng đều cho kết quả tốt. Sản phẩm gia vị, thức ăn tiện lợi, nước giải khát và bia tăng trưởng doanh thu 30%, trong đó doanh thu từ bia tăng mạnh nhất 88% so với cùng kỳ dù xét riêng trong Q3 giảm 22,1% so với cùng kỳ. Công ty đã giới thiệu một số sản phẩm mới, như nước khoángVivant và khoai tây nghiền Omachi. MCH tăng đầu tư cho các hoạt động marketing để xây dựng thương hiệu, do đó chi phí marketing tăng 50%, đồng thời giảm chi phí khuyến mại 30% so với cùng kỳ. Nhìn chung, chi phí bán hàng và quản lý giảm 3,2% so với cùng kỳ xuống 2.832 tỷ đồng, theo đó tỷ lệ chi phí bán hàng & quản lý/doanh thu giảm xuống 23,7% trong 9 tháng đầu năm nay (cùng kỳ năm ngoái là 32,7%).

Theo sản phẩm –

–     Các sản phẩm gia vị đạt doanh thu thuần 4.761 tỷ đồng, tăng 39,7% so với cùng kỳ với sản lượng tiêu thụ tăng 30%. Các thương hiệu chính như Nam Ngư và Chinsu tiếp tục tăng trưởng tốt. Xét riêng trong Q3, doanh thu thuần tăng 36,1% so với cùng kỳ đạt 1.723 tỷ đồng nhờ doanh thu sản phẩm nước mắm cao cấp tăng 51%.

–     Dòng thức ăn tiện lợi báo đạt doanh thu thuần 3.271 tỷ đồng, tăng 35% so với cùng kỳ, nhờ sản lượng tiêu thụ tăng 28% so với cùng kỳ. Doanh thu Q3 tăng 32% so với cùng kỳ đạt 1.275 tỷ đồng nhờ doanh thu các sản phẩm Omachi tăng mạnh 60% so với cùng kỳ.

–     Doanh thu từ các sản phẩm thịt chế biến giảm 16,6% so với cùng kỳ, là 131 tỷ đồng.

–     Danh thu thuần từ cà phê (không gồm cà phê wake up 24-7) đạt 1.066 tỷ đồng (tăng 16,7% so với cùng kỳ), chủ yếu nhờ sản lượng tiêu thụ tăng.

–     Sản phẩm đồ uống không cồn tiếp tục tăng trưởng doanh thu tốt nhờ đóng góp của sản phẩm nước tăng lực. Doanh thu thuần tăng 29% so với cùng kỳ đạt 1.910 tỷ đồng. Trong đó, dòng nước tăng lực đóng góp 67,8% doanh thu với 1.294 tỷ đồng (tăng 55% so với cùng kỳ) nhờ mở rộng hệ thống bán hàng từ 75.000 điểm bán hàng vào cuối năm 2017 lên gần 90.000 điểm bán hàng vào cuối Q2 và tiếp đó lên 130.000 điểm bán hàng vào cuối Q3.

–     Mảng bia gây thất vọng trong Q3. Mặc dù tăng mạnh 88,8% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm đạt 275 tỷ đồng, doanh thu Q3 lại giảm 22,1% so với cùng kỳ, là 86 tỷ đồng.

  1. Hoạt động củaMasan Nutri Science vẫn ảm đạm trong Q3 dù giá thị lợn phục hồi trong 9 tháng đầu năm – Mảng này vẫn chịu những ảnh hưởng hậu khủng hoảng giá thị heo kéo dài từ năm 2017 đến Q1/2018. Giá thịt heo vào khoảng 30.000đ /kg trong phần lớn thời gian năm 2017 và Q1/2018. Giá bán tăng dần kể từ đầu Q2 năm nay và hiện vào khoảng 50.000đ /kg trong 3-4 tháng qua. Tuy nhiên, thị trường thức ăn chăn nuôi thường mất tới 12 tháng để hoàn toàn phục hồi từ khủng hoảng giá thịt heo trước đó, do đó doanh thu thuần của MSN vẫn giảm 31,2% so với cùng kỳ xuống 10.035 tỷ đồng và EBITDA cũng giảm 39,5% xuống 940 tỷ đồng. Tỷ suất lợi nhuận gộp cũng giảm từ 22,2% trong 9 tháng đầu năm 2017 xuống chỉ 15,2% trong cùng kỳ năm nay do: (1) giá ngô và đậu tương mua từ đầu năm tăng, và (2) đóng góp tốt hơn từ sản phẩm Biozeem xanh với tỷ suất lợi nhuận thấp hơn.
  2. Masan Resources cho KQKD 9 tháng đầu năm rất khả quan, dù giảm so với cùng kỳ trong Q3 – Cho 9 tháng đầu năm, MSR đạt doanh thu thuần 4.688 tỷ đồng (tăng 19,9% so với cùng kỳ) và LNST của cổ đông công ty mẹ đạt 340 tỷ đồng (tăng 247,3% so với cùng kỳ) nhờ giá bán bình quân của phần lớn các quặng khai thác tăng. Giá bán tungsten bình quân tăng 41,8% so với cùng kỳ lên 319 USD /mtu, kế đó là giá fluorspar cũng tăng 43,1% so với cùng kỳ lên 482 USD /tấn, và giá đồng tăng 11,6% so với cùng kỳ đạt 6.642 USD /tấn. Trái lại, giá bismuth giảm 0,6% so với cùng kỳ với giá bán bình quân là 4,6 USD /lb. Mặc dù giá bán tăng nhưng mức tăng thấp hơn nhiều so với trong 6 tháng đầu năm, với giá vonfram tăng 59,2% so với cùng kỳ, giá fluorspar tăng 50,6%, giá đồng tăng 20,1% so với cùng kỳ và bismuth tăng 6,5% so với cùng kỳ. Sản lượng khai thác giảm 13,9% so với cùng kỳ còn 8.539 tấn đơn vị tương đương tungsten do quặng khai thác có phẩm cấp thấp hơn.

HSC dự báo lợi nhuận thuần từ HĐSXKD năm 2018 tăng trưởng 50,3% – Chúng tôi dự báo doanh thu thuần tăng trưởng 4% đạt 39.138 tỷ đồng và LNST của cổ đông công ty mẹ từ HĐKD sau khi điều chỉnh khoản lợi nhuận không thường xuyên trong năm ngoái và năm nay đạt 3.388,8 tỷ đồng (tăng trưởng 50,3%). Các giả định chính của chúng tôi cho từng ngành kinh doanh là như sau:

  • Doanh thu thuần của Masan Consumer đạt 16.880 tỷ đồng (tăng trưởng 24,4%) và LNST của cổ đông công ty mẹ đạt 2.207,9 tỷ đồng (tăng trưởng 90,2%).
  • Doanh thu thuần của Masan Nutri Science dự báo đạt 14.571 tỷ đồng (giảm 22%) và LNST của cổ đông công ty mẹ đạt 137,1 tỷ đồng (giảm 77,8%).
  • Doanh thu thuần của Masan Resources đạt 7.687,7 tỷ đồng (tăng trưởng 42,2%) và LNST của cổ đông công ty mẹ đạt 824 tỷ đồng (tăng trưởng 300,5%) nhờ hợp nhất toàn bộ lợi nhuận của NHTCM từ Q4. Trong tháng 8/2018, Masan Resources Corporation (MSR) thông báo công ty đã mua vào 49% cổ phần còn lại tại Công ty TNHH Tinh luyện Vonfram Núi Pháo – H.C.Starck (NHTCM) tăng tỷ lệ sở hữu ở công ty này lên 100%.

Với những giả định trên, chúng tôi dự báo EPS (dựa trên lợi nhuận thuần từ HĐSXKD) năm 2018 là 3.136đ, P/E dự phóng là 27,2 lần.

Cho năm 2019, chúng tôi dự báo lợi nhuận thuần từ HĐSXKD sẽ tăng trưởng 56,2% – Trong năm sau, chúng tôi dự báo doanh thu thuần đạt 44.577 tỷ đồng (tăng trưởng 13,9%) và LNST của cổ đông công ty mẹ đạt 5.292 tỷ đồng (tăng trưởng 8,9%). Không tính lợi nhuận không thường xuyên trong năm 2018 thì lợi nhuận thuần từ HĐSXKD năm 2019 tăng trưởng 56,2%. Dưới đây là những giả định chủ chốt của chúng tôi:

  • Doanh thu thuần của Masan Consumer Holding đạt 18.452 tỷ đồng (tăng trưởng 9,3%) và LNST của cổ đông công ty mẹ đạt 2.831 tỷ đồng (tăng trưởng 28,2%).
  • Doanh thu thuần của Masan Nutri Science đạt 17.983 tỷ đồng (tăng trưởng 23,4%) và LNST của cổ đông công ty mẹ đạt 513,6 tỷ đồng (tăng trưởng 274,5%) với kỳ vọng hoạt động của MNS sẽ phản ánh sự phục hồi của giá thịt lợn.
  • Doanh thu thuần của Masan Resources đạt 8.141 tỷ đồng (tăng trưởng 5,9%) và LNST của cổ đông công ty mẹ đạt 1.026 tỷ đồng (tăng trưởng 24,4%).
  • Chi phí tài chính dự báo giảm mạnh 34% xuống 1.888,8 tỷ đồng với dự báo MSN sẽ sử dụng 11.000 tỷ đồng lợi nhuận từ thương vụ với SK để trả nợ vay.

EPS dự phóng đạt 4.550đ. Tại thị giá hiện tại, P/E dự phóng của cổ phiếu MSN là 18,7 lần.

Sản phẩm thịt tươi đóng gói dự kiến sẽ được tung ra thị trường trong Q4 – Sự kiện lớn trong nửa cuối năm là sản phẩm thịt tươi đóng gói sẽ được tung ra thị trường trong nước trong Q4. Thị trường thịt ước tính có giá trị 9 tỷ USD /năm và MSN kỳ vọng đến năm 2022 giành được 5% thị phần. Công ty sẽ bán sản phẩm thịt tươi đóng gói qua kênh phân phối truyền thống chẳng hạn như chợ hàng hóa tươi sống vốn có tỷ suất lợi nhuận cao hơn kênh phân phối hiện đại.

MSN đã bán toàn bộ 109 triệu cổ phiếu quỹ cho SK Group, một trong những tập đoàn lớn nhất tại Hàn Quốc, vào tháng 10 /2018 – với giá bán là 100.000đ /cp. Theo đó, MSN thu về 470 triệu USD, tương đương 11.000 tỷ đồng tiền mặt. MSN sẽ sử dụng phần lớn số tiền này để trả nợ vay. Việc lựa chọn SK làm đối tác nhằm giúp phát triển các mảng kinh doanh của MSN sẽ tạo ra sự cộng hưởng cho ngành kinh doanh hiện tại, đồng thời SK cũng là một đối tác tiềm năng có tiềm lực tài chính mạnh tạo điều kiện cho hoạt động M&A trong tương lai. SK Group là người mua tiềm năng của sản phẩm tungsten và fluorspar để phục vụ mảng sản xuất chất bán dẫn. Và SK có thể sử dụng mảng logistic để phân phối thịt cho Masan trên thị trường Trung Quốc trong tương lai.

Quỹ đầu tư Chính phủ Singapore (GIC) đã trở thành cổ đông lớn của MSN từ ngày 15/10/2018 – Vào đầu tháng 10 năm nay, một quỹ thuộc quản lý của GIC đã mua lại 24,5 triệu cổ phiếu, tương đương 2,11% cổ phần tại MSN, tăng sở hữu chung của GIC tại MSN từ 51,2 triệu cổ phiếu, tương đương 4,40% lên 75,7 triệu cổ phiếu, hay 6,51% cổ phần. Theo đó, GIC đã chính thức trở thành cổ đông lớn của MSN, là cổ đông nước ngoài lớn thứ hai, sau SK Group. Cũng vào thời điểm này, KKR cũng bán toàn bộ 54,8 triệu cổ phiếu, tương đương 4,7% tổng số cổ phiếu đang lưu hành của MSN.

Quan điểm đầu tư – Duy trì đánh giá Khả quan. Chúng tôi ước tính giá trị hợp lý của Cổ phiếu MSN là 98.907đ, tương đương P/E dự phóng 2019 là 21,7 lần. Quá trình tái cơ cấu mảng hàng tiêu dùng đã cho thấy kết quả tốt từ Q4 năm ngoái trong khi mảng khai thác tài nguyên hưởng lợi từ xu hướng tăng giá bán cộng với hiệu quả hoạt động được cải thiện. Mảng thức ăn cho heo sẽ hồi phục tốt trong năm sau nhờ giá thịt heo tăng trở lại. Triển vọng dài hạn của mô hình 3F của Masan Nutri Science cũng có nhiều hứa hẹn.

Nguồn: HSC

BÌNH LUẬN()

CÁC TIN LIÊN QUAN

Đối tác