Cổ phiếu Việt Nam hấp dẫn
HSC duy trì quan điểm tích cực đối với thị trường chứng khoán Việt Nam. Thị trường Việt Nam hiện đang có định giá hấp dẫn sau đợt giảm mạnh gần đây. Theo chúng tôi, cổ phiếu Việt Nam có định giá hấp dẫn với P/E dự phóng 2022 chỉ là 10,8 lần (8,9 lần cho năm 2023), thấp hơn lần lượt 20% và 23% so với mức bình quân trong 3 năm và 5 năm qua và thấp hơn 15% so với mức bình quân của khu vực, bất chấp triển vọng tăng trưởng lợi nhuận của Việt Nam vượt trội hơn nhiều.
Lợi nhuận doanh nghiệp khả quan và các nền tảng vĩ mô được duy trì
Lợi nhuận của những cổ phiếu chúng tôi khuyến nghị đều rất tích cực trong Q1/2022 và vượt dự báo của chúng tôi.
Quan điểm tích cực của chúng tôi đối với thị trường chứng khoán Việt Nam được củng cố nhờ một nền kinh tế ổn định và đang phục hồi nhanh chóng sau đại dịch. HSC dự báo lạm phát sẽ ở dưới mức mục tiêu của NHNN là 4% và chúng tôi dự báo lãi suất sẽ đạt đỉnh là 3,5% trong năm nay.
Chúng tôi vẫn lạc quan đối với dự báo cả năm của mình với tăng trưởng EPS năm 2022 của những cổ phiếu chúng tôi khuyến nghị đạt 21% và CAGR EPS trong giai đoạn 2021-2024 đạt 13%.
Điều chỉnh mục tiêu VN Index đạt 1.530 điểm, tiềm năng tăng giá 25%
Chúng tôi điều chỉnh giảm chỉ số mục tiêu vào cuối năm 2022 xuống 1.530, tiềm năng tăng giá 25%, so với mục tiêu trước đây của chúng tôi là 1.800. Điều này chủ yếu do chúng tôi nâng giả định phần bù rủi ro vốn CSH và lãi suất trong các mô hình định giá DCF.
Theo HSC, phần lớn các cổ phiếu chúng tôi khuyến nghị hiện đang có giá trị vượt trội. Các cổ phiếu ưu thích của chúng tôi bao gồm: ACB, MBB, KDH, VRE, VHM, GMD, GAS, PVD, FPT, MSN, SAB.
Biểu đồ 1: VN index khối lượng giao dịch hàng ngày từ T5/2020 đến T5/2022 
Cơ hội gõ cửa: Điều chỉnh là cơ hội để Mua vào
HSC duy trì quan điểm tích cực đối với thị trường chứng khoán Việt Nam; đợt bán tháo mạnh gần đây đã đưa định giá thị trường về mức hấp dẫn. Lợi nhuận của các doanh nghiệp tăng mạnh trong Q1/2022 và chúng tôi lạc quan đối với dự báo cả năm của mình trong bối cảnh nền kinh tế đang phục hồi tốt sau những ảnh hưởng kéo dài của đại dịch. HSC dự báo EPS của các doanh nghiệp chúng tôi khuyến nghị sẽ tăng trưởng 21% (CAGR EPS đạt 13% trong giai đoạn 2021-2024). Theo đó, thị trường đang giao dịch với P/E dự phóng 2022 chỉ là 10,8 lần. Chỉ số VN Index mục tiêu của chúng tôi là 1.530, tiềm năng tăng giá là 25%.
Quan điểm chính: Thời điểm để Mua vào cổ phiếu Việt Nam
HSC duy trì quan điểm tích cực đối với thị trường chứng khoán Việt Nam, hiện thị trường đang có mức định giá tốt hơn sau đợt giảm mạnh gần đây. Lợi nhuận của các doanh nghiệp chúng tôi đã khuyến nghị trong Q1/2022 tăng trưởng rất tốt và chúng tôi vẫn lạc quan đối với dự báo cả năm của mình; HSC dự báo EPS của các doanh nghiệp chúng tôi đang khuyến nghị sẽ tăng trưởng 21% vào năm 2022 và CAGR EPS đạt 13% trong giai đoạn 2021-2024.
Quan điểm tích cực của chúng tôi về thị trường chứng khoán Việt Nam được củng cố nhờ một nền kinh tế ổn định trong giai đoạn hồi phục sau đại dịch. Lạm phát được kiểm soát tốt; HSC dự báo lạm phát sẽ ở dưới mức mục tiêu của NHNN là 4% và chúng tôi kỳ vọng lãi suất sẽ đạt đỉnh là 3,5% trong năm nay. Ngoài ra, tình hình tài chính công và đồng VND vẫn ổn định.
HSC hạ chỉ số mục tiêu năm 2022 xuống 1.530 từ 1.800 trước đó, chủ yếu do chúng tôi thận trọng hơn đối với giả định lãi suất phi rủi ro và phần bù rủi ro vốn CSH trong các mô hình định giá.
HSC nâng giả định phần bù rủi ro vốn CSH lên 8% (từ 7%) phản ánh nhiều yếu tố rủi ro gia tăng, đặc biệt là lạm phát trong nước và rủi ro gia tăng đối với tăng trưởng toàn cầu và theo đó là hoạt động thương mại toàn cầu mà Việt Nam phụ thuộc nhiều.
Thị trường đã giảm 15% so với đầu năm
Chỉ số VN Index đã giảm 18% so với mức đỉnh tháng 1 và giảm 15% so với đầu năm; chúng tôi cho rằng điều này là quá mức. Lưu ý, các NĐT nước ngoài – hầu hết là các tổ chức – đã nhận thấy cơ hội và mua ròng sau đợt bán tháo vừa qua với giá trị 5.366 tỷ đồng (tương đương 233 triệu USD) từ ngày 15/4 đến ngày 16/5/2022 (Nguồn: Fiinpro).
Trong những tháng gần đây, TTCK Việt Nam đã từ một nước dẫn đầu và vượt trội trong khu vực trở thành một nước tụt hậu và giảm điểm so với các quốc gia khác, trái ngược với nền tảng cơ bản mạnh mẽ. Ngoài ra, thị trường càng sụt giảm mạnh hơn do giao dịch ký quỹ của NĐT nhỏ lẻ, nhưng tâm lý của NĐT có thể sẽ phục hồi nhanh chóng. Chúng tôi tin rằng NĐT tốt hơn là nên tập trung vào các nền tảng cơ bản mạnh mẽ của Việt Nam hơn là cố gắng dự báo xu hướng giao dịch của NĐT nhỏ lẻ.
Điều chỉnh VN Index mục tiêu với tiềm năng tăng giá 25%
Theo chúng tôi, thị trường sụt giảm đã khiến cổ phiếu Việt Nam có định giá hấp dẫn với P/E dự phóng 2022 chỉ là 10,8 lần, thấp hơn lần lượt khoảng 20% và 23% so với mức bình quân trong 3 năm và 5 năm qua, và thấp hơn khoảng 15% so với mức bình quân của các thị trường trong khu vực bất chấp triển vọng tăng trưởng lợi nhuận tốt hơn nhiều của Việt Nam.
Chúng tôi dự báo VN Index sẽ đạt mốc 1.530 với P/E dự phóng 2022 và 2023 lần lượt là 13,5 lần và 11,1 lần, tiềm năng tăng giá 25%.
Lợi nhuận doanh nghiệp: Xu hướng tích cực trong Q1/2022
Như đã đề cập ở trên, lợi nhuận của các cổ phiếu chúng tôi khuyến nghị – chiếm khoảng 70% tổng vốn hóa VN Index, cũng như cổ phiếu trên sàn HNX và UPCoM – có KQKD khả quan trong Q1/2022, vượt nhẹ so với dự báo hàng quý của HSC và đóng góp 26% dự báo năm 2022 của chúng tôi (không bao gồm HVN và VIC). Cụ thể như sau:
- Ngành Tài chính, chiếm 36% tỷ trọng các cổ phiếu chúng tôi khuyến nghị dựa trên vốn hóa thị trường. (Bảng 2), với lợi nhuận thuần đóng góp sát mức bình quân là 26% (dẫn đầu là VPB với khuyến nghị Mua vào, đóng góp 53%) (Bảng 3).
- Lợi nhuận thuần nhóm ngành Tiêu dùng (chiếm 15%) cũng sát với mức 26%, trong đó doanh nghiệp sản xuất/bán lẻ trang sức PNJ đạt 45% dự báo năm 2022 của chúng tôi.
- Lợi nhuận thuần nhóm ngành Công nghiệp (cũng chiếm 15%) đạt 31% dự báo năm 2022 của chúng tôi. Lưu ý, chúng tôi không bao gồm HVN trong tính toán này do tình hình thua lỗ.
- Nhóm ngành Năng lượng & Tiện ích (chiếm 11%) gây thất vọng với lợi nhuận thuần đạt 23% dự báo cả năm 2022 của chúng tôi với lợi nhuận của PVD sụt giảm, lỗ nhẹ, bất ngờ trong Q1/2022.
- Nhóm ngành BĐS (chiếm 12%) gây thất vọng nhất trong giai đoạn này với lợi nhuận thuần chỉ đạt 17% dự báo của HSC trong năm 2022. Ngoài ra, lợi nhuận của một số doanh nghiệp trong kỳ đã tăng đáng kể nhờ các khoản thu nhập bất thường (cả NVL và KDH đều được hưởng lợi từ lợi thế thương mại âm). Tuy nhiên, các doanh nghiệp BĐS hạch toán – theo đó là lợi nhuận – thường có hiệu ứng mùa vụ, trong đó Q1 thường có KQKD kém hơn.
- Trong khi các nhóm ngành Khác có KQKD ấn tượng nhất so với dự báo cả năm 2022 của chúng tôi trong kỳ (đạt 37% dự báo), trong Bảng 2, HSC thận trọng không bao gồm VIC ghi nhận lợi nhuận rất tốt trong Q1/2022 so với dự báo của chúng tôi là lỗ trong năm 2022 (chúng tôi có thể sẽ xem xét dự báo). Khi đó, KQKD Q1/2022 tích cực là nhờ CII (Cơ sở hạ tầng) và VGC (Xây dựng & VLXD).
Biểu đồ 2: Vốn hóa thị trường theo ngành, cổ phiếu HSC khuyến nghị 
Biểu đồ 3: Q1/2022 so với cả năm 2022 theo ngành, cổ phiếu HSC khuyến nghị 
HSC vẫn lạc quan đối với dự báo của mình; chúng tôi dự báo EPS của các doanh nghiệp chúng tôi khuyến nghị sẽ tăng trưởng 21% trong năm 2022 và đạt CAGR 13% trong giai đoạn 2021-2024 (Bảng 4). Cụ thể như sau:
- Mặc dù phân ngành Giao thông vận tải, nằm trong nhóm ngành Công nghiệp, được đánh giá là đang tăng trưởng rất nhanh, nhưng dữ liệu hiện tại bao gồm khả năng giảm lỗ của hãng hàng không hàng đầu Việt Nam HVN; nếu không bao gồm HVN (khuyến nghị Giảm tỷ trọng), do không chắc chắn về kế hoạch chuyển biến tích cực, sẽ khiến tốc độ tăng trưởng của Ngành Giao thông vận tải giảm đáng kể.
- Nhóm ngành Ngân hàng, phân ngành chiếm ưu thế trong nhóm ngành Tài chính – chiếm 36% vốn hóa thị trường trong số các công ty chúng tôi khuyến nghị – sẽ tăng trưởng gần 35% trong năm 2022 và CAGR trong 3 năm đạt gần 24%. Tăng trưởng trong ngành BĐS cũng được kỳ vọng sẽ khởi sắc với tăng trưởng năm 2022 được dự báo đạt 27% và CAGR trong 3 năm đạt 21%.
- Với triển vọng tăng trưởng hấp dẫn, Ngành Tiêu dùng thiết yếu – Thực phẩm, Đồ uống và Thuốc lá, phân ngành lớn nhất trong Ngành Tiêu dùng, chiếm gần 80% vốn hóa thị trường các cổ phiếu trong ngành Tiêu dùng mà chúng tôi khuyến nghị. Nhóm ngành Kim loại – Công nghiệp (nhìn chung là các doanh nghiệp sản xuất thép lớn của Việt Nam) đều kém hấp dẫn hơn so với lợi nhuận được dự báo sẽ tăng trưởng khiêm tốn trong năm nay và CAGR bình quân 3 năm thấp hơn mức bình quân của các cổ phiếu chúng tôi khuyến nghị.
Biểu đồ 4: Dự báo của HSC đối với tăng trưởng EPS theo ngành, cổ phiếu HSC khuyến nghị 
Quy định chặt chẽ hơn về phát hành TPDN không phải là rủi ro hệ thống
HSC tin rằng việc thắt chặt quản lý hoạt động phát hành TPDN nhiều khả năng sẽ không tác động quá lớn đến ngành BĐS, ngân hàng và nền kinh tế nói chung. Chúng tôi cho rằng tác động (nếu có) sẽ chủ yếu rơi vào các doanh nghiệp BĐS chưa niêm yết có quy mô nhỏ.
Trong tổng khối lượng TPDN phát hành, HSC ước tính khoảng 38,4% (513,6 nghìn tỷ đồng) là do các doanh nghiệp niêm yết phát hành, trong đó chủ yếu là TPDN do các NHTM phát hành (74,4%). Chỉ khoảng 14,1% TPDN ở lĩnh vực BĐS do doanh nghiệp niêm yết phát hành. Ngoài ra, tỷ trọng đầu tư TPDN BĐS và cho vay doanh nghiệp BĐS của ngành ngân hàng chỉ ở mức vừa phải, ước tính lần lượt là 2,6% & 4-5% trong tổng tín dụng và 4-5% trong tổng dư nợ cho vay (theo ước tính của chúng tôi).
Mặc dù nội dung sửa đổi Nghị định 153 của Chính phủ công bố gần đây sẽ làm giảm khối lượng trái phiếu phát hành từ khu vực tư nhân, nhưng HSC cho rằng không có rủi ro hệ thống đáng kể ở đây. Trên thực tế, quy định mới có thể củng cố sự phát triển dài hạn của các thị trường tín dụng.
Để đọc phân tích chuyên sâu hơn của HSC về thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam, vui lòng tham khảo các báo cáo phát hành gần đây: ‘Thị trường trái phiếu doanh nghiệp – tầm nhìn dài hạn’ phát hành ngày 6/5/2022 và ‘Rủi ro chính sách đối với thị trường TPDN ở mức cao’ phát hành ngày 12/5/2022.
Định giá thị trường hấp dẫn so với lịch sử và các quốc gia trong khu vực
Thị trường sụt giảm mạnh đã khiến cổ phiếu Việt Nam được định giá hấp dẫn với P/E dự phóng 2022 là 10,8 lần (P/E dự phóng 2023 là 8,9 lần), thấp hơn lần lượt khoảng 20% và 23% so với mức bình quân 3 năm và 5 năm, và thấp hơn khoảng 15% so với mức bình quân của các công ty cùng ngành trong khu vực bất chấp triển vọng Việt Nam tăng trưởng lợi nhuận vượt trội hơn nhiều.
HSC tóm tắt P/E dự phóng 2022 và 2023 trong Bảng 5. Một số ngành chính hiện có định giá thấp hơn đáng kể so với mức bình quân, bao gồm Kim loại – Công nghiệp (HPG), Ngân hàng và Dầu khí. Ngược lại, những ngành có mức tăng trưởng cao hơn và/hoặc nhượng quyền thương mại mạnh mẽ như Công nghệ (DGW và FPT), Tiêu dùng – Thực phẩm, Đồ uống và thuốc lá (VNM và SAB), Bảo hiểm (BVH) và Tiện ích đang đang được định giá cao hơn.
Biểu đồ 5: P/E dự phóng theo ngành, HSC dự báo 
Biểu đồ 6: P/E dự phóng năm 2022, tăng trưởng EPS 
Ngoài ra, Việt Nam hiện có định giá hấp dẫn so với các nước trong khu vực (Bảng 6 & 7).
Biểu đồ 7: P/E dự phóng năm 2022, tăng trưởng EPS 
Danh mục khuyến nghị
Các cổ phiếu khuyến nghị của HSC trong Bảng 8. Các cổ phiếu chúng tôi ưa thích với giá trị vượt trội ở mức định giá hiện tại bao gồm: ACB, MBB, KDH, VRE, VHM, GMD, GAS, PVD, FPT, MSN và SAB.
Biểu đồ 8: Danh mục khuyến nghị 
Vĩ mô Việt Nam: Tích cực nhưng có thể chịu áp lực bên ngoài
Quan điểm của chúng tôi về thị trường chứng khoán Việt Nam được củng cố nhờ một nền kinh tế có khả năng phục hồi sau đại dịch và lạm phát được kiềm soát tốt. Chúng tôi dự báo lạm phát sẽ ở dưới mức mục tiêu của NHNN là 4% và chúng tôi dự báo lãi suất sẽ đạt đỉnh ở mức 3,5% trong năm nay. Ngoài ra, tình hình tài chính công và đồng VND vẫn ổn định.
Nền kinh tế Việt Nam vẫn ổn định trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị
GDP Việt Nam năm 2022 được dự báo sẽ tăng trưởng 6,2%
HSC lạc quan với dự báo chúng tôi điều chỉnh trong tháng 3/2022, chúng tôi hạ 60 điểm cơ bản dự báo tăng trưởng GDP năm 2022 xuống 6,2% (so với tăng trưởng 6,8% trong dự báo trước đó), đồng thời giữ nguyên dự báo năm 2023 là 6,7%, phản ánh lực cản đối với nền kinh tế do giá năng lượng tăng cao và nhu cầu bên ngoài suy yếu do xung đột tại Ukraina.
Giá năng lượng và hàng hóa cơ bản tăng sẽ tác động đến tăng trưởng GDP của Việt Nam về sử dụng GDP (thương mại thuần) do Việt Nam là nhà nhập khẩu năng lượng thuần (Bảng 9). Thâm hụt thương mại dầu thô trong năm 2021 là 3,4 tỷ USD, tương đương 0,92% tổng thâm hụt GDP. Theo kịch bản cơ sở của chúng tôi, giá WTI tăng 49% trong năm 2022, theo đó, GDP danh nghĩa sẽ bị kéo xuống 0,45%, giả định các yếu tố khác không đổi.
HSC tóm tắt dự báo tăng trưởng GDP hàng quý trong Bảng 10; chúng tôi dự báo GDP Q2, Q3 và Q4/2022 lần lượt tăng 5,1%, 9,5%, 5,3%, trong khi GDP Q1/2022 tăng sát với dự báo của HSC là 5,0%.
Biểu đồ 9: Cán cân thương mại ngành năng lượng 
Biểu đồ 10: Dự báo GDP theo quý 
Biểu đồ 11: CPI của Việt Nam và chỉ số giá dầu WTI 
Dự báo lạm phát đạt đỉnh là 3,6% trong năm nay
HSC hiện dự báo CPI sẽ tăng 3,6% trong năm 2022 sau đó tăng vừa phải 2,51% trong năm 2023 (chúng tôi đã điều chỉnh dự báo trong tháng 3 so với dự báo trước đó lần lượt tăng 3,19% và 2,68%). Chúng tôi nâng dự báo lạm phát năm 2022 chủ yếu do giá dầu WTI tăng, trong khi chúng tôi hạ dự báo CPI trong năm 2023 phản ánh mức nền cao trong năm 2022.
Chúng tôi nhấn mạnh tác động tiềm năng của việc giá dầu toàn cầu tăng đối với lạm phát trong nước. Nhiên liệu đóng góp trực tiếp 3,98% vào giỏ tính CPI của Việt Nam, trong khi khí đốt và các loại nhiên liệu khác đóng góp 1,57%. Trong năm 2021, giá dầu WTI bình quân tăng 72,9% lên 68 USD/thùng so với 39,3 USD/thùng trong năm 2020. Đồng thời, giá xăng trong nước bình quân tăng 36,5% từ 15.282đ/l lên 20.864đ/l. Kết quả, lạm phát giao thông bình quân đóng góp 1,06 điểm phần trăm hay 57,8% lạm phát bình quân tổng thể trong năm 2021 (Bảng 11).
HSC ước tính giá xăng trong nước bình quân sẽ tăng 27,3% trong năm 2022. Nếu không có đề xuất cắt giảm 50% thuế môi trường 4.000đ, giá xăng dầu trong nước sẽ tăng thêm 7,2%, tương đương 1,12 điểm phần trăm lạm phát cơ bản cho năm 2022, cao hơn 55 điểm cơ bản so với dự báo trước đó của chúng tôi từ tháng 3/2022.
Tác động nhẹ được dự báo từ xung đột giữa Nga và Ukraina
Tác động trực tiếp từ cuộc xung đột Ukraina có thể sẽ hạn chế do thương mại song phương của Việt Nam với Nga chỉ đóng góp khoảng 1% tổng giá trị thương mại của cả nước (Bảng 12). Ngoài ra, trong giai đoạn 2013-2021, Việt Nam xuất siêu thay vì nhập siêu với Nga (Bảng 13). Việt Nam nhập khẩu khoảng 10% nhu cầu than và phân bón từ Nga, trong tương lai, chúng ta sẽ cần phụ thuộc nhiều hơn vào các đối tác thương mại chính khác để đa dạng nguồn cung chính.
Biểu đồ 12: Thị phần thương mại song phương của Việt Nam với Nga trên tổng giá trị thương mại 
Biểu đồ 13: KNXK và KNNK hàng năm của Việt Nam với Nga 
Biểu đồ 14: Vốn FDI cam kết theo quốc gia / vùng lãnh thổ 
Ngoài ra, tác động lên FDI là rất nhỏ do Nga chỉ đóng góp 0,23% tổng FDI đăng ký vào Việt Nam (Bảng 14).
Tỷ giá dự báo tăng nhẹ trong năm 2022
Sau 3 năm liên tiếp tăng giá so với đồng USD, đồng VND đã giảm giá kể từ đầu năm Nhâm Dần và tính đến tháng 4/2022 đã giảm khoảng 0,46% so với đầu năm. Giai đoạn này bao gồm đợt tăng lãi suất 25 điểm cơ bản ở Mỹ vào ngày 16/3/2022 (lần tăng đầu tiên kể từ ngày 18/12) và đợt tăng lãi suất 50 điểm cơ bản vào ngày 4/5/2022.
Chúng tôi sẽ xem xét các yếu tố có thể tác động đến tỷ giá trong năm 2022.
VND có thể chịu áp lực mất giá từ: kỳ vọng Fed nâng lãi suất, đồng CNY yếu đi so với USD, cán cân vãng lai thâm hụt trong năm 2021, tiếp theo là dự báo thặng ở mức khiêm tốn trong năm 2022, dự trữ ngoại hối tăng chậm lại, khối ngoại bán ròng trên thị trường cổ phiếu và đồng tiền của các đối tác thương mại dự báo yếu đi so với đồng USD.
Cân bằng áp lực mất giá này bao gồm thặng dư thương mại vững chắc của Việt Nam với Mỹ, chính sách tỷ giá thuận lợi của NHNN và sự ổn định của đồng VND so với đồng tiền của các đối tác thương mại (đo lường bằng độ lệch chuẩn so xung quanh giá trị trung bình).
Dựa trên những dữ kiện trên, HSC sử dụng một mô hình định lượng giản đơn để dự báo tỷ giá USD/VND đến cuối năm 2022. Có 3 trong số 5 nhân tố trong mô hình thể hiện áp lực tăng tỷ giá: (i) dự báo chung trên thị trường là đồng VND sẽ mất giá nhẹ, (ii) đồng CNY dự báo yếu đi và (iii) Fed tăng lãi suất.
Trái lại, có 2 nhân tố còn lại ủng hộ giá trị của VND: (i) chính sách tỷ giá thuận lợi của NHNN và (ii) cán cân thanh toán tích cực.
Năm nhân tố trên đã được định lượng và gán trọng số bằng nhau là 20%. Theo mô hình của chúng tôi, tỷ giá USD/VND sẽ ở vào 22.890 vào cuối năm (so với 22.500 trong dự báo trước đây), nghĩa là VND mất giá nhẹ 0,55%.
Tuy nhiên, nếu xét dài ra nhiều năm, chúng tôi thấy rằng xu hướng mạnh lên của đồng VND so với đồng USD sẽ vẫn tiếp tục. HSC dự báo tỷ giá USD/VND sẽ lần lượt đạt 22.700 và 22.650 vào cuối năm 2023 và 2024.
Biểu đồ 15: Mô hình dự báo tỷ giá USD/VND của HSC 
Biểu đồ 16: Xu hướng của tỷ giá USD/VND 
Biểu đồ 17: Tỷ giá hối đoái danh nghĩa và tỷ giá hối đoái thực tế của VND 
Lợi suất trái phiếu dự báo tăng trong ngắn hạn nhưng sau đó sẽ giảm trở lại
Quan điểm chênh lệch lãi suất giữa đồng VND và USD sẽ dẫn đến việc giảm giá của đồng VND thực tế cho thấy rằng đã không còn đúng trong thời gian gần đây (Biểu đồ 17) mặc dù quan điểm này có thể đúng trong một số thời kỳ nhất định.
HSC dự báo lợi suất trái phiếu kỳ hạn 10 năm sẽ tăng lên 3,5% trong những tháng tới đây trước sự biến động mạnh trên thị trường tài chính. Theo đó, chúng tôi cũng nâng giả định lãi suất phi rủi ro trong các mô hình định giá cổ phiếu của mình lên 3,5% (từ 3% trước đây).
Mặc dù vậy, nền kinh tế Việt Nam được dự báo sẽ tiếp tục thu hút được nguồn vốn đầu tư, từ đó hỗ trợ thanh khoản hệ thống ngân hàng, và giúp giảm lãi suất đồng VND trong tương lai. Ví dụ minh họa được thể hiện trong Figures 18-21 dưới đây.
Biểu đồ 18: Dòng ngoại tệ ròng chảy vào thị trường và thanh khoản liên ngân hàng 
Biểu đồ 19: Lãi suất LIBOR và thị trường tiền tệ Việt Nam 
Biểu đồ 20: Lãi suất thị trường tiền tệ và lợi suất TPCP 
Biểu đồ 21: Dự báo lợi suất TPCP
Nguồn: HSC
Tuyên bố miễn trách nhiệm: Báo cáo chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin và nhà đầu tư chỉ nên sử dụng báo cáo phân tích này như một nguồn tham khảo. Dautucophieu.net sẽ không chịu bất kỳ trách nhiệm nào trước nhà đầu tư cũng như đối tượng được nhắc đến trong báo cáo này về những tổn thất có thể xảy ra khi đầu tư hoặc những thông tin sai lệch về doanh nghiệp.

