DANH MỤC

Điện thoại / Facebook / Zalo: 0982 842 224

Nhận định thị trường chứng khoán ngày 16/05/2016 gồm cập nhật báo cáo vĩ mô, HPG, MWG, HAH, NT2, MBB, BCC

Lượt xem: 12144 - Ngày:

1. Nhận định thị trường:

VN-Index phiên giao dịch cuối tuần tiếp tục giảm phiên thứ hai liên tiếp, đóng cửa tại 610,82 (giảm 1,3 điểm tương đương 0,21%). Thanh khoản tăng lên so với phiên trước đó, đạt 105,6 triệu cổ phiếu.

Đồ thị tuần VN-Index ngày 13/05/2016

Đồ thị tuần VN-Index ngày 13/05/2016. Nguồn: Amibroker

Đồ thị VN-Index ngày 13/05/2016.

Đồ thị VN-Index ngày 13/05/2016. Nguồn: Amibroker

VN-Index kết thúc tuần bằng cây nến đỏ dạng “Spinning Top” hàm ý trạng thái lưỡng lữ, giằng co giữa 2 bên mua và bán. Thanh khoản có sự cải thiện so với phiên trước đó nhưng vẫn thấp hơn so với khối lượng trung bình 20 phiên gần nhất, còn độ rộng thị trường bị lấn át bởi sắc đỏ. Điều này cho thấy áp lực chốt lời tiềm ẩn tại vùng cản 610- 615 điểm do tâm lý thận trọng, lo ngại về khả năng quay đầu điều chỉnh của chỉ số trong ngắn hạn. Ngoài ra, quá trình tăng của VN-Index từ 600 lên 617 điểm hàm chứa sự không bền vững khi thanh khoản liên tục giảm. Sau khi chạm mốc 617.56 điểm (là đỉnh cũ tháng 11/2015 và cũng là biên trên của kênh tăng giá hiện tại), VN-Index điều chỉnh với khối lượng ở mức thấp hơn trung bình. Các chỉ báo kỹ thuật như MACD, RSI có phần chững lại và giảm nhẹ.

Trên cơ sở đó, Nhật Cường cho rằng trong tuần giao dịch tới, chỉ số VN-Index có thể sẽ tiếp tục điều chỉnh và hướng về mức hỗ trợ 590 điểm. Đồng thời, Nhật Cường nhận thấy dòng tiền có sự dịch chuyển từ nhóm cổ phiếu ngân hàng sang nhóm cổ phiếu dầu khí, đặc biệt là dòng tiền của khối ngoại. Tuy nhiên, Nhật Cường đánh giá rủi ro thị trường vẫn cao trong ngắn hạn cho nên các nhà đầu tư cần hạn chế mua đuổi trong các nhịp tăng.

Hệ thống chỉ báo xu hướng vẫn duy trì mức tăng xu hướng ngắn hạn và nâng mức cắt lỗ của hệ thống lên mức 598.53 điểm. Do đó, các nhà đầu tư ngắn hạn nên tiếp tục quan sát thị trường và nắm giữ tỷ trọng cổ phiếu ở mức thấp. Ngoài ra, các nhà đầu tư lướt sóng vẫn nên ưu tiên bán ra khi nhiều cổ phiếu đang giao dịch gần các mức kháng cự ngắn hạn và chờ mua ở nhịp điều chỉnh mạnh.

Trên đồ thị tuần, cây nến dạng “Bearish Doji” được hình thành sau 5 tuần tăng điểm liên tiếp cho thấy đà tăng của chỉ số đang gặp khó khắn trước vùng cản quanh 618 điểm. Thanh khoản tuần này có sự cải thiện đôi chút tuy nhiên chưa đạt mức khuyến nghị của một xu thế tăng bền vững khi có tuần giao dịch thứ 02 liên tiếp dưới mức bình quân 20 phiên. Dòng tiền gặp hạn chế sẽ sớm ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng đi xa hơn của chỉ số. Trên đồ thị tuần cũng cho thấy, chỉ số đã chính thức chạm biên trên của dải Bollinger và rõ ràng sự điều chỉnh giảm của phiên cuối tuần là hệ quả tất yếu. Ngoài ra cần hết sức chú ý với các tín hiệu cảnh báo chỉ số đang đi vào khu vực “quá mua” thể hiện rõ qua các chỉ báo có độ nhạy cao như CCI, ROC, Wm%R. Hiện tượng này cũng đồng nghĩa với khả năng chỉ số sẽ xuất hiện nhịp điều chỉnh kỹ thuật trước khi bộc lộ rõ hơn các tín hiệu của một xu thế mới. Hệ thống chỉ báo xu hướng vẫn duy trì mức tăng xu hướng trung hạn trên chỉ số Vn-Index và nâng mức cắt lỗ của hệ thống lên mức 565.23 điểm. Do đó, các nhà đầu tư trung hạn nên dừng mua ở vùng giá hiện tại và nắm giữ tỷ trọng ở mức hiện tại. Đồng thời, các nhà đầu tư trung hạn chỉ nên mua vào ở các nhịp điều chỉnh mạnh hơn.

2. Điểm nhấn phiên giao dịch ngày 13/05/2016:

Trong phiên giao dịch cuối tuần ngày 13/05, áp lực bán tăng dần từ cuối phiên sáng trên nhiều phân lớp cổ phiếu, VN-Index có phiên giảm thứ hai liên tiếp về mức 610,82 điểm. Thanh khoản tăng nhẹ, độ rộng thị trường thu hẹp. Mức độ tham gia của khối nhà đầu tư nước ngoài ở mức trung bình và khối này mua ròng gần 49 tỉ đồng trên cả hai sàn. VNM ETF discount -0.93%, FTSE ETF premium 0,23%.

• Các mã ngân hàng phiên giao dịch cuối tuần giao dịch trầm lắng với STB tiếp tục tăng. EIB (có cổ phần tại STB) cũng tăng. Trong khi đó VCB giảm trong khi CTG & BID đóng cửa tại tham chiếu. MBB cũng đóng cửa tại tham chiếu. ACB giảm. Đã có nhiều tin đồn sau 2 phiên tăng liên tiếp của STB từ việc cổ đông mua cổ phần trước ĐHCĐTN đến tin đồn NĐT chiến lược nước ngoài quan tâm đến việc mua cổ phần hay khả năng sáp nhập với một NHQD. Với nhiều tin đồn xuất hiện cùng lúc như vậy cho thấy không có tin đồn nào có nhiều khả năng là sự thật.

• BVH giảm phiên giao dịch cuối tuần cho thấy hoạt động mua vào theo giỏ chứng khoán trước mắt đã kết thúc. PVI cũng giảm. Các mã chứng khoán tiếp tục giảm, dẫn đầu là SSI & HCM. Theo đó hiện ngành chứng khoán là ngành tăng kém nhất thị trường trong bối cảnh gần đây NĐT không mấy quan tâm đến cổ phiếu ngành này.

• VNM; MSN và KDC giảm. FPT đóng cửa tại tham chiếu. Các mã ngành hàng tiêu dùng không được NĐT quan tâm nhiều kể từ đầu năm ngoại trừ VNM. Hiện giá VNM cũng đã khá cao trừ khi trong ĐHCĐTN sắp diễn ra định hướng và ý định về vấn đề nới room của công ty thỏa mã được sự mong mỏi của cổ đông.

• Cổ phiếu BĐS biến động trái chiều. VIC đóng cửa tại tham chiếu; BCI giảm trong khi NLG tăng. TDH cũng tăng. SJS tăng và mã này tiếp tục thu hút được sự quan tâm của NĐT do đây là mã chưa tăng nhiều trong khi các yếu tố căn bản cũng đang có sự cải thiện. KBC, CII, CTD và HBC giảm.

• Các mã dầu khí có một phiên giao dịch đáng chú ý với GAS và PVD tăng. Giá dầu phiên giao dịch cuối tuần không hỗ trợ cổ phiếu ngành này nên Chuyên viên cho rằng cổ phiếu dầu khí tăng là do ngành này chưa tăng nhiều. PVD hôm qua đã đóng cửa tại vùng kháng cự xuất hiện từ lâu và phiên giao dịch cuối tuần đã bứt phá qua ngưỡng này trong ngắn hạn.

• Các mã sản xuất nói chung giảm với HSG và HPG tiếp tục giảm. Những cổ phiếu này đã chịu áp lực chốt lời mạnh trong vài ngày qua sau khi tăng mạnh trước đó. PAC và DQC tăng. TTF cũng tăng. Các mã ngành ô tô lình xình.

• Ở cổ phiếu ngành nông nghiệp và thủy sản, GTN tiếp tục đóng cửa tại tham chiếu như trong thời gian gần đây; PAN tiếp tục tăng mạnh trong khi VFG giảm. HAG & HNG cũng giảm. VHC giảm. Các mã ngành đường chẳng hạn như SBT cũng giảm.

. MSCI vừa công bố danh mục MSCI Frontier Markets Index được review trong tháng 05. Có 5 cổ phiếu bị loại khỏi danh mục, trong đó HNG là cổ phiếu của Việt Nam. Tất cả các thay đổi của đợt review sẽ có hiệu lực sau phiên giao dịch ngày thứ Ba (31/05/2016). Như vậy, sau đợt tái cơ cấu thứ 2 của năm 2016, số lượng cổ phiếu thành phần trong danh mục MSCI Frontier Markets Index – chỉ số tham chiếu cho quỹ MSCI Frontier Markets Index ETF – giảm 4 mã còn 117 mã, trong đó có 8 cổ phiếu của Việt Nam là VIC, MSN, VCB, STB, HPG, BID, BVH, và GAS.

Trong tuần sau, mọi kỳ vọng đang tập trung về kỳ ĐHCĐ của BVH và VNM. Đồng thời, dòng cổ phiếu ngân hàng sẽ chứng kiến tuần giao dịch kịch tính trong tuần sau để kiểm chứng cung cầu của thị trường cũng như là phát lên tín hiệu xác nhận về sóng tăng của ngành này. Diễn biến tại các cổ phiếu này sẽ dẫn dắt xu hướng VN-Index trong tuần sau. Tuy nhiên, câu chuyện đầu tư lại phụ thuộc nhiều hơn vào việc chọn cổ phiếu nên nhà đầu tư nên cẩn trọng tránh rơi vào bẫy tâm lý gây ra bởi diễn biến VN-Index.

Ngoài ra, trong hai tuần còn lại của tháng này, thị trường cũng đón nhận thông tin về chuyến viếng thăm của TT Mỹ sang thăm ngoại giao Việt Nam. Trong chương trình làm việc của chuyến thăm này, có một nội dung quan trọng về vấn đề hiệp định TPP. Do đó, theo thông lệ trên thị trường Việt Nam, mỗi khi có thông tin tốt liên quan đến TPP, dòng cổ phiếu dệt may thường dậy sóng, NĐT cũng có thể xem xét đầu tư đón đầu xu hướng này.

Riêng với các nhà đầu tư yêu thích giao dịch theo quan sát nhóm ngành nổi bật theo chu kỳ năm, dòng cổ phiếu thủy sản và bất động sản cũng rất thường hay lặp đáy vào giai đoạn nửa cuối tháng 5 và đầu tháng 6. Nhà đầu tư cũng có thể quan sát thêm diễn biến nhóm ngành này trong các phiên tiếp theo.

3. Thông tin Doanh nghiệp:

HPG: Thép Hòa Phát đạt mức sản lượng tiêu thụ 545.661 tấn trong 4 tháng đầu năm 2016, tăng gần 25% so với cùng kỳ, theo báo cáo của Hiệp hội thép Việt Nam (VSA). Cũng theo báo cáo này, thị phần thép Hòa Phát trong 4 tháng đầu năm chiếm gần 20% tổng lượng thép xây dựng của cả nước, đứng thứ 2 chỉ sau VnSteel với thị phần đạt hơn 24%. Đối với thị trường xuất khẩu, Hòa Phát tiếp tục xuất khẩu sang Australia, Lào với sản lượng hơn 7.100 tấn. Hòa Phát đạt được kết quả tích cực trên phần nhiều nhờ điều kiện thuận lợi ở thị trường bất động sản trong giai đoạn 4 tháng đầu năm, tạo thuận lợi cho hoạt động xây dựng, qua đó nhu cầu thép tăng cao. Đây cũng là một trong những nguyên nhân giúp giá cổ phiếu doanh nghiệp này diễn biến tích cực thời gian qua. Mặc dù vậy, theo các chuyên gia ngành thép, từ tháng 5 trở đi sức tiêu thụ của ngành này sẽ sụt giảm mạnh do bước vào mùa mưa và ít nhiều tác động đến sản lượng các doanh nghiệp trong ngành. Đồng thời, giá thép cũng được dự đoán đã ổn định trở lại và không có biến động mạnh trong thời gian tới.

———————————–

MWG: Thế giới di động (MWG – Vốn hóa: 11.3 nghìn tỷ đồng) giảm nợ ngắn hạn trong quý 1/2016 Cuối năm 2015, nợ ngắn hạn tăng 240% so với năm 2014 chủ yếu là do sự gia tăng của nợ vay trả lãi, dẫn đến sự gia tăng của tỷ số tổng nợ/ vốn chủ sở hữu từ 0.42 năm 2014 lên 0.83 năm 2015. Theo ông Nguyễn Đức Tài- Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Thế giới di động (MWG) tại Hội thảo “Ngành bán lẻ Việt Nam bước chân vào thế giới phẳng- Cơ hội hay thách thức”, công ty đạt 6.842 tỷ đồng doanh thu, tăng 78% so với cùng kỳ. Trong đó doanh thu online đạt 451 tỷ đồng, tăng 96%. Lợi nhuận sau thuế hai tháng đầu năm đạt 296 tỷ đồng, tăng 79% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, so với kế hoạch doanh thu 34.166 tỷ đồng và 1.388 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế đặt ra trong năm 2016, MWG đã hoàn thành 20% kế hoạch doanh thu và 21% kế hoạch lợi nhuận. Một phần lợi nhuận này sẽ được dùng đhần lợi nhuận này sẽ được do việc mở rộng sang thị trường Lào, Campuchia và Myanmar cũng sẽ không tốn quá nhiều chi phí, chỉ khoảng vài triệu USD, công ty không có ý định mở hàng loạt các cửa hàng mà chỉ mở số lượng nhỏ để thăm dò, nếu thành công sẽ kêu gọi vốn. Do đó, trong thời gian tới, MWG chưa có nhu cầu huy động thêm vốn. Công ty quyết định trả cổ tức bằng tiền mặt năm 2015 là 15%. Với mức giá hiện nay là 77,500 VND, P/E dự kiến cuối năm 2016 khoảng 8.1x cùng với tiềm năng phát triển của công ty trong thời gian tới, Chuyên viên khuyến nghị nên mua vào cổ phiếu MWG.

———————————–

HAH: Cổ phiếu đang bị định giá thấp

Năm 2015 được xem là một năm thành công ngoài mong đợi của nhóm cổ phiếu cảng ở Hải Phòng. Theo Chuyên viên, thông tin về hiệp định thương mại tự do (TPP, FTAs) được thông qua cùng lúc với doanh thu lưu giữ container lạnh tại các cảng tăng đột biến khiến giá cổ phiếu đã chạy quá nhanh so với tốc độ tăng trưởng nội tại của các doanh nghiệp. Do đó, sự điều chỉnh mạnh của nhóm cổ phiếu này trong thời gian vừa qua là cần thiết, tuy nhiên điều này lại đang mở ra một chu kỳ đầu tư mới đối với nhóm cổ phiếu cảng. Trong khuôn khổ của chuyên đề này, Chuyên viên xin được chia sẻ quan điểm của Chuyên viên về triển vọng kinh doanh và định giá năm 2016 của CTCP Vận tải và Xếp dỡ Hải An (HAH-HSX).

Trong năm 2016, HAH đặt kế hoạch tổng doanh thu là 523 tỷ đồng và LNST đạt 143 tỷ đồng (giảm 14,3% so với cùng kỳ). Chỉ tiêu sản lượng thông quan qua cảng và vận tải biển nội địa lần lượt là 305.000Teus (-14,3%yoy) và 118.000Teus (+30,5%yoy). Quan sát lịch sử đặt kế hoạch của HAH và theo đánh giá riêng của Chuyên viên về khả năng thực hiện của Công ty, Chuyên viên cho rằng khả năng công ty vượt mức lợi nhuận ròng đặt ra là khá cao trên cơ sở hàng hóa container thông qua Hải Phòng vẫn tăng trưởng khá bền vững và năng lực đội tàu vận tải container được gia tăng với tàu HaiAn Time được bổ sung vào tháng 09/2015. Theo số liệu thống kê của UBND TP.Hải Phòng, tổng sản lượng hàng hóa qua cảng khu vực này lũy kế 4 tháng đầu năm 2016 tăng 12,8% yoy; trong đó lượng hàng qua các cảng ngoài khu vực kinh tế Nhà nước chiếm 43% tổng sản lượng hàng với mức tăng trưởng nhanh hơn đạt ~15%.

Về KQKD Q1/2016, HAH ghi nhận doanh thu đạt 121 tỷ đồng và LNST đạt 36 tỷ đồng (giảm nhẹ so với cùng kỳ ~3,9%) và hoàn thành 25% kế hoạch LNST năm. Lượng hàng hóa khai thác cảng trong quý đầu năm 2016 có phần giảm nhẹ so với cùng kỳ do tác động từ kinh tế Trung Quốc và tàu HaiAn Park lên đà gần 3 tuần trong cùng quý. Mặc dù các chỉ tiêu có sự giảm nhẹ nhưng Chuyên viên cho rằng đây là một kết quả khá khả quan và hoạt động kinh doanh của HAH vẫn giữ hiệu quả khá cao đặt trong bối cảnh gia tăng cạnh tranh về phí giữa các cảng khi mà cảng Xanh Vip (VSC-HSX) gia nhập thị trường từ cuối năm 2015.

Chuyên viên cho rằng sản lượng hàng hóa qua khu vực cảng Hải Phòng sẽ phục hồi từ quý 2 với sự hỗ trợ từ hoạt động sản xuất công nghiệp gia tăng và tình hình kinh tế Trung Quốc ổn định. Tuy nhiên, do ghi nhận lợi nhuận đột biến từ hoạt động lưu giữ container lạnh trong giai đoạn giữa năm 2015 nên KQKD của HAH và các cảng khác ở Hải Phòng trong quý 2 và 3/2016 dự báo sẽ khó có thể tăng trưởng so với cùng kỳ. Nhìn ở một góc độ khác, điều này lại giúp giá cổ phiếu phản ánh sát hơn giá trị thực tế của doanh nghiệp.

Riêng với HAH, cổ phiếu của Công ty hiện đang giao dịch ở mức định giá quá thấp so với đối thủ trong ngành. Chuyên viên dự tính HAH sẽ đạt tổng LNST (đã trừ CĐTS) năm 2016 là 151 tỷ đồng (giảm 10%yoy) cao hơn kế hoạch đặt ra là 143 tỷ đồng. Mức EPS 2016 (đã loại trừ CP phúc lợi) sẽ là 6.250 đồng tương ứng với mức định giá P/E forward (giá tại ngày 13/05/2016) chỉ 6,2x, so với mức trung bình ngành 8x và giai đoạn đỉnh điểm quý 3 năm 2015 là 10x. Chuyên viên cho rằng hiện tại rào cản tâm lý chính đối với NĐT khi đầu tư cổ phiếu HAH chính là áp lực thoái vốn của các cổ đông chiến lược. Theo quan điểm của Chuyên viên, NĐT có thể xem xét đầu tư cổ phiếu HAH dựa trên các luận điểm gồm (1) doanh nghiệp tăng trưởng vừa phải, (2) hiệu quả khá tốt trong ngành có triển vọng tích cực là logistics; (3) mức cổ tức hàng năm đảm bảo bằng tiền là 3.000 đồng/cp và (4) giá cổ phiếu đã điều chỉnh mạnh khiến mức định giá của HAH trở nên khá hấp dẫn. Do đó, NĐT hoàn toàn có thể xem xét tích lũy cổ phiếu HAH ở vùng giá hiện tại cho mục đích dài hạn.

———————————–

NT2: Giữ vững vị thế

Hiệu suất hoạt động duy trì mức cao trong quý 1/2016. Tổng sản lượng điện thương phẩm đạt hơn 1,33 tỷ kWh, tăng nhẹ so với cùng kỳ năm 2015. Do áp dụng cơ chế giá khí mới, giá điện trung bình trong quý 1/2016 đã giảm xấp xỉ 23,4% so với cùng kỳ và doanh thu tương ứng giảm 21% yoy. Trong khi đó, giá khí trung bình quý 1/2016 đã giảm hơn 36% so với cùng kỳ, cao hơn so với mức giảm về giá bán điện của NT2. Biên lợi nhuận gộp của NT2 nhờ vậy đã tăng mạnh lên 33% (Q12015: 17%). Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh chính (không bao gồm biến động tỷ giá và thu nhập tài chính) đạt hơn 405 tỷ đồng, tăng 38% yoy. Tỷ giá EUR/VND đã tăng khoảng 4% trong Q1/2016 khiến NT2 ghi nhận lỗ hơn 58 tỷ đồng chênh lệch tỷ giá.

Quý 2/2016: Giữ vững lợi thế Giá điện thị trường bình quân trong quý 2 dự báo sẽ tiếp tục tăng so với quý 1 do (1) Thiếu hụt nguồn cung từ thủy điện. Hạn hán trầm trọng khiến nguồn cung từ thủy điện sụt giảm mạnh trong quý 1 và dự báo sẽ tiếp diễn trong quý 2 do đây là thời gian cao điểm của mùa khô trên cả nước và (2) Yếu tố vụ mùa, tiêu thụ điện quý 2 dự báo tăng cao hơn so với quý 1. NT2 với hiệu quả vận hành cao trong quá khứ và hưởng lợi tạm thời nhờ giá khí thấp, kỳ vọng sẽ tiếp tục duy trì tỷ suất sinh lời khả quan trong quý 2. Lũy kế 6T2016, dự báo doanh thu đạt xấp xỉ 2.986 tỷ đồng (-20% yoy). Mặc dù vậy, biên LNG ước tăng mạnh lên 34% từ mức 20% của 6T2015 và lợi nhuận từ HĐKD chính dự báo tăng 42% yoy. Xét thêm các yếu tố liên quan đến tỷ giá, LNTT dự báo đạt hơn 824 tỷ đồng (+26% yoy).

Các thông tin cập nhật:

Phụ tải hệ thống tăng mạnh trong hai quý đầu năm 2016: Trong quý I năm 2016, điện thương phẩm ước đạt 35,11 tỷ kWh, tăng 13,08% so với cùng kỳ năm 2015. Trong đó, phụ tải miền Nam tăng mạnh nhất, hơn 14,16% và điện cấp cho công nghiệp – xây dựng tăng 9,48% và chiếm tỷ trọng cao nhất (52,9%). Dự báo trong quý 2/2016, tăng trưởng phụ tải tiếp tục ở mức 13% yoy. Trong khi đó, tình trạng khô hạn nghiêm trọng dự kiến sẽ duy trì, đặc biện ở khu vực miền Trung – Tây Nguyên và miền Nam. Do vậy, các nguồn điện than, khí, và nhiệt điện chạy dầu dự kiến sẽ tiếp tục được huy động ở mức công suất cao.

Năm 2016, NT2 hưởng lợi nhờ yếu tố thời tiết và giá khí thấp Mặc dù đã vận hành vượt công suất thiết kế khoảng 13% trong năm 2015, người quản lý doanh nghiệp cho biết trong điều kiện nhu cầu hệ thống tăng cao, công suất vận hành của NT2 có thể đạt khoảng 6 tỷ kWh, cao hơn sản lượng năm 2015 khoảng 10%. Mặc dù vậy, trong kịch bản cơ sở, Chuyên viên không cho rằng sản lượng thương phẩm của NT2 có thể đạt mức 6 tỷ kWh. Cụ thể, dự báo nguồn cung điện vào hệ thống sẽ tăng lên trong nửa cuối năm nhờ (1) Nguồn cung tăng lên từ thủy điện khi bước vào mùa mưa và (2) Đóng góp điện từ các nhà máy mới. Do vậy, dự báo sản lượng điện năm 2016 của NT2 vẫn duy trì mức tương đương năm 2015 và đạt 5,5 tỷ kWh. Giá điện giảm không làm ảnh hưởng hiệu quả sinh lời của doanh nghiệp. Thay vào đó, tỷ suất lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh chính dự báo đạt xấp xỉ 25,6%, cao hơn mức 22,2% của năm 2015. Loại trừ biến động tỷ giá, LNTT từ hoạt động kinh doanh chính dự báo đạt hơn 1.345 tỷ đồng (+11% yoy).

Tỷ giá: Vấn đề tỷ giá sẽ là mối quan ngại lớn nhất ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của NT2. Dựa vào những đánh giá của bộ phận phân tích vĩ mô, Chuyên viên sử dụng giả định USD/VND sẽ tăng giá 3,2% và EUR/VND tăng 10% trong năm 2016. Tổng lợi nhuận trước thuế năm 2016 dự báo đạt 1.047 tỷ đồng và LNST tương ứng là 994,4 tỷ đồng (-13% yoy). EPS năm 2016 dự báo đạt 3.455 đồng.

Cập nhật dự án: Dự án thu hồi và sản xuất CO2 lỏng thương mại từ khí thải Đầu tháng 5/2016, NT2 đã ký hợp đồng với CTCP Thiết kế Công nghiệp Hóa chất (CECO) về việc tư vấn lập báo cáo nghiên cứu khả thi (FS) cho dự án này. Dự kiến toàn bộ hồ sơ FS sẽ được hoàn tất vào đầu tháng 8/2016. Trong lần trao đổi gần nhất của chuyên viên ngành và lãnh đạo doanh nghiệp, được biết tổng công suất thiết kế khoảng 50 tấn/ngày. Ngoài ra, nếu dự án khả thi thì sẽ mất thêm khoảng hơn 1 năm cho việc thực hiện thủ tục cũng như triển khai xây dựng. Như vậy, nếu dự án được thực hiện thì sớm nhất phải đến năm 2018 mới có thể đóng góp doanh thu cho nhà máy

Quan điểm và Định giá: NT2 liên tục thể hiện kết quả kinh doanh vượt trội kể từ khi chính thức vận hành thương mại vào năm 2012. Bên cạnh lợi thế tự nhiên về mặt địa lý, Chuyên viên cho rằng chất lượng quản trị doanh nghiệp tốt, đội ngũ vận hành có kinh nghiệm và máy móc mới với công nghệ hiện đại là những yếu tố chính giúp hiệu quả hoạt động được cải thiện qua các năm. Dự báo năm 2016 sẽ tiếp tục là năm vận hành với hiệu suất cao cũng như tỷ suất lợi nhuận cải thiện của NT2. LNST năm 2016 dự báo đạt 944,4 tỷ đồng và EPS pha loãng là 3.455 đồng. Sau khi NT2 đã trả cổ tức đợt 2 năm 2015, trong đó 13% bằng tiền và 4% bằng cổ phiếu trong tháng 4/2016, mức giá mục tiêu của NT2 được Chuyên viên xác định ở mức 34.800 đồng/cp và đưa ra khuyến nghị TÍCH LŨY.

———————————–

MBB: KQKD Q1 của MBB không thực sự gây ấn tượng. Tuy nhiên triển vọng cả năm vẫn tốt. Tiếp tục duy trì đánh giá Khả quan.

KQKD Q1 kém khả quan do tỷ lệ NIM giảm mạnh đã ảnh hưởng đến thu nhập lãi thuần. Hệ số LDR tăng đã không thể bù đắp cho sự sụt giảm của lợi suất trái phiếu. Tuy nhiên, chi phí dự phòng giảm đã có ảnh hưởng tích cực đến lợi nhuận. Cơ cấu tài sản có sự thay đổi nhỏ sau khi sáp nhập SDFC. Hiện Chuyên viên thận trọng một chút trước triển vọng tỷ lệ NIM; tuy nhiên Chuyên viên cho rằng tỷ lệ NIM sẽ hồi phục do hệ số LDR tiếp tục tăng. Chuyên viên cho rằng thu nhập ngoài lãi sẽ có sự tăng trưởng. Theo đó, Chuyên viên dự báo LNTT cả năm tăng trưởng 15%.

Tiếp tục duy trì đánh giá Khả quan dựa trên yếu tố căn bản vẫn tốt. Định giá hợp lý với P/E dự phóng 9,6 lần và P/B dự phóng là 0,98 lần. Là một trong những mã tốt nhất trong ngành và hiện có hệ số LDR thấp cộng với hệ số CAR cao. Triển vọng tăng trưởng từ năm sau sẽ tùy thuộc và khả năng duy trì tỷ lệ NIM của MBB; và Chuyên viên cho rằng ngân hàng sẽ làm được điều này nhờ tăng cường cho vay khách hàng cá nhân. Sau khi được NĐTNN liên tục mua vào gần đây, hiện room còn lại là rất ít.

LNTT tăng 10% so với cùng kỳ nhờ chi phí dự phòng giảm – MBB (Khả quan) đã công bố LNTT hợp nhất Q1/2016 đạt 882,3 tỷ đồng (tăng 10,7% so với cùng kỳ; hoàn thành 24,5% kế hoạch cả năm là 3.600 tỷ đồng và bằng 23,8% dự báo của Chuyên viên là 3.702 tỷ đồng (tăng trưởng 14,9%). Thu nhập lãi thuần giảm do tỷ lệ NIM giảm. Tuy nhiên chi phí dự phòng cũng giảm; giúp LNTT tăng trưởng.

Cho vay khách hàng chỉ tăng 2,8% so với đầu năm với cho vay khách hàng cá nhân tăng – Tổng cho vay tăng lên 124.362,9 tỷ đồng. Trong đó, cho vay khách hàng cá nhân là động lực chính giúp cho vay khách hàng tăng trưởng. Cho vay khách hàng cá nhân tăng 8,3% so với đầu năm lên 33.862,9 tỷ đồng và chiếm 27,23% tổng dư nợ cho vay tại thời điểm cuối tháng 3 (tại thời điểm cuối 2015 là 25,78%). Trong khi đó tỷ lệ cho vay DNNN và cho vay doanh nghiệp ngoài quốc doanh không thay đổi nhiều, lần lượt giảm 0,9% so với cùng kỳ và tăng 0,9% so với cùng kỳ.

Trong cơ cấu cho vay doanh nghiệp, tăng trưởng chủ yếu tập trung ở cho vay BĐS và doanh nghiệp nhỏ. Cho vay BĐS tăng 25,7% so với đầu năm và đạt 5.784,4 tỷ đồng; bằng 4,65% tổng dư nợ. Cho vay doanh nghiệp nhỏ tăng 8,3% so với đầu năm và đạt 24.349,6 tỷ đồng; tương đương 19,6% tổng dư nợ cho vay.

Chuyên viên ước tính trong Q1, MBB đã mua 2.000 tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp. Nếu cộng cả khoản trái phiếu doanh nghiệp này thì tín dụng tăng 4,2% so với đầu năm; nghĩa là cao hơn mức bình quân ngành.

Tăng trưởng cho vay tập trung ở kỳ hạn dài – Cho vay trung dài hạn tăng 5,01% so với đầu năm và đạt 60.536 tỷ đồng; bằng 48,7% dư nợ cho vay (tại thời điểm cuối 2015 là 47,5%). Trong khi đó cho vay kỳ hạn ngắn gần như giữ nguyên ở mức 62.390,6 tỷ đồng (chỉ tăng 0,1% so với đầu năm) và đóng góp 50,2% vào tổng dư nợ cho vay. Tăng trưởng cho vay tập trung ở cho vay trung dài hạn trong Q1 cũng là xu hướng thường thấy ở các ngân hàng nói chung; ngoại trừ ACB.

Về cơ cấu loại tiền, tăng trưởng tập trung nhiều ở cho vay ngoại tệ với mức tăng 8,2% so với đầu năm và đạt 19.543,5 tỷ đồng, đóng góp 15,7% tổng dư nợ cho vay. Cho vay tiền đồng chỉ tăng 1,5% so với đầu năm và đạt 104.819,4 tỷ đồng. MBB có tăng trưởng cho vay ngoại tệ mạnh giống VCB & ACB.

Vốn huy động khách hàng giảm nhẹ 0,6% so với đầu năm – xuống còn 180.516 tỷ đồng với tiền gửi không kỳ hạn giảm. Tiền gửi không kỳ hạn giảm 10,2% so với đầu năm xuống còn 57.020 tỷ đồng; bằng 37,1% tổng vốn huy động (năm 2015 là 41,1%). MBB là ngân hàng có tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn trong cơ cấu vốn huy động cao nhất trong số các ngân hàng niêm yết, nhờ vậy có chi phí huy động thấp. Việc tiền gửi không kỳ hạn giảm trong Q1 có vẻ là do nhân tố mùa vụ do các doanh nghiệp rút tiền gửi. Với tiền gửi không kỳ hạn giảm trong Q1 và tiền gửi có kỳ hạn tăng (tăng 6,2% so với đầu năm và đạt 113.496 tỷ đồng) nên chi phí huy động của ngân hàng đã bị ảnh hưởng (tiêu cực).

Hệ số LDR thuần tăng lên 67,9% – Hệ số LDR thuần tăng lên 67,9% từ 65,9% trong 2015. Trong đó, hệ số LDR tiền đồng tăng lên 69,4% từ 68,6% trong khi hệ số LDR ngoại tệ tăng mạnh lên 61,1% từ 53,9% tại thời điểm cuối 2015.

Tỷ lệ NIM giảm 0,37% xuống còn 3,45% do lợi suất đầu tư trái phiếu giảm. Tỷ lệ NIM trong Q1 là 3,45%; giảm 0,37% so với mức 3,82% của cả năm 2015. Tỷ lệ NIM trong Q1/2016 còn giảm nhiều hơn nếu so với Q1/2015 (ở mức 4,3%), giảm 0,98%. Lợi suất bình quân của tài sản sinh lãi giảm 0,37% so với đầu năm xuống còn 6,77% trong khi chi phí huy động tăng 0,04% so với đầu năm lên 3,47%.

Về tài sản sinh lãi, lợi suất trái phiếu giảm mạnh nhất, giảm 1,74% xuống còn 5,38% do trái phiếu lợi suất cao đáo hạn. Chuyên viên cho rằng đây là các trái phiếu kỳ hạn 5 năm phát hành vào năm 2011 với lợi suất 12,13% đã đáo hạn. Chuyên viên thấy trái phiếu kỳ hạn 5 năm gần đây có lãi suất coupon chỉ là 6,4%. Lợi suất từ cho vay khách hàng tăng 0,01% so với đầu năm lên 7,75% trong khi lợi suất cho vay/gửi tiền liên ngân hàng tăng 1,04% so với đầu năm.

Về huy động, chi phí huy động khách hàng giảm 0,06% so với đầu năm xuống còn 3,11% trong khi vay liên ngân hàng và các nguồn khác tăng với mức tăng bình quân là 2,41% lên 10,39%. Theo đó, chi phí huy động của MBB đã tăng 0,04% lên 3,47%.

Do tỷ lệ NIM giảm đáng kể nên thu nhập lãi thuần giảm 11,6% so với cùng kỳ – còn 1.768 tỷ đồng.

Thu nhập ngoài lãi giảm – Giảm 1,5% so với cùng kỳ xuống còn 275,7 tỷ đồng. Ngoại trừ lãi thuần HĐ dịch vụ và thu nhập từ thu hồi nợ xấu ngoại bảng tăng nhẹ; còn lại các khoản thu nhập ngoài lãi khác giảm. Lãi thuần HĐ dịch vụ tăng 6,1% so với cùng kỳ lên 118,3 tỷ đồng; chủ yếu nhờ đóng góp từ dịch vụ thanh toán (tăng 26,3% so với cùng kỳ) và dịch vụ môi giới chứng khoán (32,4% so với cùng kỳ) trong khi thu nhập từ các dịch vụ khác giảm 56,7% so với cùng kỳ. Thu nhập khác tăng 8,5% so với cùng kỳ và đạt 117,15 tỷ đồng nhờ thu nhập từ thu hồi nợ ngoại bảng tăng 10,9% so với cùng kỳ và đạt 107,6 tỷ đồng. Các nguồn thu nhập ngoài lãi khác như lãi thuần HĐ kinh doanh ngoại hối, thu nhập đầu tư trái phiếu, thu nhập từ cổ tức giảm 33,4% so với cùng kỳ.

Theo đó thu nhập hoạt động giảm 10,4% so với cùng kỳ xuống 2.043,8 tỷ đồng.

Chi phí hoạt động tăng 27,9% so với cùng kỳ – lên 922,06 tỷ đồng. Chi phí hoạt động tăng vọt chủ yếu do các “chi phí khác”, tăng tới 161,4% là 231,7 tỷ đồng. Chuyên viên không có thông tin cụ thể về chi tiết các chi phí khác này, tuy nhiên MBB cho biết phần lớn là phát sinh tại công ty con của Ngân hàng với một số chi phí liên quan đến việc mua lại SDFC. Chi phí hoạt động sẽ về mức thông thường trong những quý tới. Đồng thời, Chuyên viên nhận thấy chi phí lương thưởng cũng tăng vừa phải 9,4% so với cùng kỳ lên 401,6 tỷ đồng.

Cổ phiếu duy trì định giá rẻ mặc dù chất lượng tài sản tốt – Không dễ để lý giải vì sao cổ phiếu ngân hàng vẫn duy trì giao dịch với định giá rất rẻ như vậy mặc dù có lợi thế tài chính mạnh và tăng trưởng ổn định. Room cho NĐTNN hiện mở lại trong vài tháng, có vẻ như giải thích này không còn hợp lý. Chuyên viên ngờ rằng có thể là do những lo ngại của thị trường rằng nhu cầu tăng vốn trong tương lai có thể vẫn do các NĐT trong nước kiểm soát và Ngân hàng áp dụng những điều khoản để thu hút đối tượng này. Room cho NĐTNN còn trống rất ít, chỉ là 1,98% tổng số cổ phiếu đang lưu hành.

Quan điểm đầu tư – Lặp lại đánh giá Khả quan. KQKD Q1 kém khả quan khiến Chuyên viên thận trong hơn về dự báo tỷ lệ NIM. Tuy nhiên, từ phía lãnh đạo Ngân hàng cho biết hệ số LDR sẽ tiếp tục tăng trong những quý tới và do đó bù đắp phần lợi suất suy giảm do trái phiếu lợi suất cao đáo hạn. Và tỷ lệ NIM sẽ tăng dần trở lại từ mức thấp trong Q1. Cũng lưu ý rằng hệ số CAR của Ngân hàng ở mức khá cao, cho phép Ngân hàng đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng nhanh hơn so với các ngân hàng khác, Do đó, Chuyên viên Chuyên viên cho rằng doanh thu sẽ tiếp tục tăng trưởng và tạo đủ nguồn doanh thu hoạt động hỗ trợ tăng trích lập dự phòng đồng thời cho phép duy trì tăng trưởng của LNTT. Và sau khi tập trung xử lý nợ và hoán đổi với trái phiếu VAMC, Ngân hàng hiện có lợi thế chất lượng tài sản tốt trong ngành. Cổ phiếu có định giá rất hợp lý với P/B dự phóng là 0,98 lần. Trên cơ sở định giá thông thường, mức định giá thấp có vẻ không hợp lý mặc dù đã duy trì trong một thời gian và cũng có những lý giải như trên.

———————————–

BCC: Lợi nhuận quý I/2016 giảm 84% CTCP Xi măng Bỉm Sơn (BCC) vừa công bố báo cáo tài chính hợp nhất quý I/2016, Công ty đạt hơn 1.076 tỷ đồng doanh thu, 20,7 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế. So với cùng kỳ năm ngoái, doanh thu quý I/2016 tăng đáng kể, nhưng lợi nhuận giảm 84% so với quý I/2015. Lợi nhuận sụt giảm, theo BCC, do giá vốn hàng bán tăng 23%, do doanh thu hoạt động tài chính giảm 99,8%, chi phí tài chính tăng 26%, chi phí bán hàng tăng 43%… Năm 2016, BCC đặt mục tiêu đạt hơn 4.061 tỷ đồng doanh thu, 260,6 tỷ đồng lợi nhuận, các chỉ tiêu này đều thấp hơn mức thực hiện năm 2015; trả cổ tức 10% bằng cổ phiếu.

4. Điểm nhấn tin tức trong ngày:

Báo cáo Cập nhật Vĩ mô: Chính phủ tỏ rõ quyết tâm đạt tăng trưởng GDP 6,7% Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) và các ngân hàng quốc doanh nỗ lực thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, bù đắp cho một số lĩnh vực có diễn biến kém tích cực và đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 6,7% năm 2016 Các NĐT không nên nhầm lẫn các biện pháp tăng trưởng của Việt Nam với các biện pháp kích thích tại tại Trung Quốc, vì mục tiêu tăng trưởng toàn hệ thống cả năm của Việt Nam vào khoảng 20%, khá thấp so với ước tính không chính thức 25%-30% tại Trung Quốc trong hai tháng đầu năm 2016, theo số liệu đưa tin của Financial Times ngày 01/05/2016. Tuy nhiên, mục tiêu tăng trưởng trên của Việt Nam vẫn gây áp lực lên bảng cân đối kế toán của một số ngân hàng quốc doanh hiện đang thiếu vốn, và Chuyên viên nhận thấy với tình hình hiện nay, khá khó khăn để có thể đạt được trên mốc tối thiểu Basel I vào cuối năm 2016.

Một số ngân hàng quốc doanh cũng đã công bố giảm lãi suất cho vay nhằm đạt được tăng trưởng theo kế hoạch của Chính phủ. Chuyên viên cho rằng điều này sẽ chỉ ảnh hưởng nhẹ đến lãi suất cho vay và các ngân hàng sẽ tìm cách hỗ trợ NIM trong năm 2016. Hệ thống ngân hàng đang phần nào được hỗ trợ từ việc các quy định giảm tỷ lệ cho vay BĐS nhiều khả năng sẽ được trì hoãn sang sớm nhất là vào cuối năm 2016, thời điểm không gây ra tác động đáng kể đến năm 2016.

Tăng trưởng tín dụng cả nước đầu năm 2016 vẫn chưa được công bố, nhưng số liệu tại TP. HCM rất khả quan: Tăng trưởng 4 tháng đầu năm đạt 3,2% so với -0,8% cùng kỳ năm ngoái, trong khi tại Hà Nội cũng khá tích cực với tăng trưởng 4,8% so với 6,6% cùng kỳ năm ngoái. Trong khi một số ngành như xây dựng và sản xuất với nguồn vốn FDI có diễn biến rất tích cực, Chuyên viên nhìn chung có quan điểm tích cực, Chuyên viên thừa nhận mục tiêu tăng trưởng 6,7% là không dễ đạt được đối với Chính phủ. Khả năng lĩnh vực nông nghiệp chịu hạn hán và giá hàng hóa tiếp tục đảo chiều có thể là những trở ngại lớn đối đối với mục tiêu này.

Một loạt thông tin trong tháng 4 cho thấy nhóm có nguồn vốn FDI đạt kết quả rất tích cực Một loạt số liệu trong tháng 4, từ giải ngân FDI đến xuất khẩu tiếp tục hỗ trợ Việt Nam, trong khi các nước trong khu vực như Philippines có xuất khẩu giảm 15,1% trong quý 1/2016 so với cùng kỳ năm ngoái và xuất khẩu tại Trung Quốc giảm 7,7% trong 4 tháng đầu năm 2016. Kim ngạch xuất khẩu 4 tháng đầu năm 2016 đạt 52,9 tỷ USD, tăng 6% so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi nhập khẩu đạt 51,4 tỷ USD, giảm 1,2%, cán cân thương mại có mức thặng dư 1,46 tỷ USD, theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Ba mặt hàng xuất khẩu lớn nhất tính theo quy mô (điện thoại di động, dệt may, và điện tử) vẫn tăng trưởng trong 4 tháng đầu năm với tốc độ lần lượt 23,8%, 6,2%, và 6,8% so với cùng kỳ. Về nhập khẩu, đáng chú ý nhóm máy móc giảm 8,9% trong 4 tháng đầu năm 2016 so với cùng kỳ năm ngoái, khá tương phản với số liệu FDI mà Chuyên viên cho rằng vẫn tập trung vào ngành sản xuất. Lý do có thể là có sự chênh lệch tạm thời giữa lượng vốn FDI giải ngân và cam kết và hiệu ứng cơ sở cao đầu năm 2015. Giải ngân FDI vào Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2016 đạt 4,65 tỷ USD, tăng 11% so với cùng kỳ năm ngoái, và là mức 4 tháng đầu năm cao nhất kể từ khi Chuyên viên bắt đầu theo dõi số liệu từ tháng 06/2011. FDI cam kết tăng 6,89 tỷ USD trong 4 tháng đầu 2016, tăng 85% so với cùng kỳ năm ngoái và là mức tăng mạnh nhất tính theo 4 tháng đầu năm kể từ năm 2013.

Thị trường ngoại hối diễn biến tích cực nhưng khá trầm lắng, cung và cầu tỏ ra cân bằng Đồng VND được giao dịch trong biên độ khá hẹp trong tháng 4, để chốt tháng với mức 22.300 đồng với lực cung và cầu tỏ ra khá cân bằng. Một số nguồn tin từ các nhà giao dịch ngoại hối cho biết NHNN đã mua vào USD ở mức giá 22.300 đồng, trùng hợp trong những ngày có dòng vốn FDI lớn đổ vào thị trường, cho thấy một tháng đạt tích lũy dự trữ ngoại hối tích cực. Tính từ đầu năm, tỷ giá trung tâm đã tăng 0,22% từ mức 21.890 đồng lên 21.842 ở hiện tại.

Trong bối cảnh bức tranh vĩ mô khá tích cực và các chỉ số cán cân thanh toán thuận lợi, Chuyên viên sẽ loại bỏ những ảnh hưởng từ biến động ngoại tệ từ Trung Quốc trong dự báo VND cuối năm nay, và thay đổi dự báo trượt giá đồng VND từ 5,4% còn 2%. Tuy nhiên, nếu Trung Quốc thực hiện điều chính tỷ giá tiền tệ đáng kể trong phần còn lại của năm 2016, dự báo của Chuyên viên có khả năng sẽ chịu ảnh hưởng. Các phân tích về dòng vốn FDI cam kết trong vòng 12 tháng qua cho thấy nhóm ngành tiện ích có tỷ lệ phần trăm tăng trưởng vốn lớn nhất, trong khi nhóm ngành thực phẩm tỷ lệ tăng trưởng số dự án tính theo phần trăm lớn nhất Sản xuất tiếp tục là lĩnh vực thu hút lượng vốn lớn với 168 tỷ USD, tương ứng với 58% tổng vốn FDI cam kết, với tăng trưởng của lượng vốn cam kết và số dự án đạt lần lượt 17% và 14% trong vòng 12 tháng qua. Tuy nhiên, nhóm ngành có tăng trưởng cao nhất là ngành tiện ích với 13 tỷ USD vốn đầu tư, tương ứng 4% tổng vốn FDI cam kết, với tăng trưởng của lượng vốn cam kết và số dự án đạt lần lượt 28% và 8% trong vòng 12 tháng qua.

5. Sự kiện nổi bật ngày mai (16/05/2016):

16/05/2016 10:00 G20 Giao dịch bổ sung – 4,800,000 CP

16/05/2016 10:00 PIV Giao dịch bổ sung – 13,800,000 CP

16/05/2016 10:00 DZM Họp ĐHCĐ thường niên năm 2016

16/05/2016 10:00 TVD Ngày GDKHQ Trả cổ tức năm 2015 bằng tiền, 700 đồng/CP

16/05/2016 10:00 PPY Ngày GDKHQ Trả cổ tức năm 2015 bằng tiền, 1,300 đồng/CP

16/05/2016 10:00 TMP Ngày GDKHQ Trả cổ tức năm 2015 bằng tiền, 2,500 đồng/CP

16/05/2016 10:00 PVG Ngày GDKHQ Trả cổ tức năm 2015 bằng tiền, 600 đồng/CP

————————

Nguồn: Tổng hợp từ các CTCK

Nguồn: Tổng hợp từ các CTCK

Phan Nhật Cường – Chuyên viên Tư vấn Chứng khoán Cao cấp.

Điện thoại / Zalo / Viber: 0982.842.224

Skype: dautu.cophieu

Email: dautucophieu68@gmail.com

Website: dautucophieu.net

BÌNH LUẬN()

CÁC TIN LIÊN QUAN

Đối tác