DANH MỤC

Điện thoại / Facebook / Zalo: 0982 842 224

Cập nhật FMC

Lượt xem: 12129 - Ngày:

CẬP NHẬT CTCP THỦY SẢN SAO TA – FMC

fmc 1512 6

Đồ thị FMC giữa phiên ngày 15/12/2015. Nguồn: Amibroker

CTCP THỦY SẢN SAO TA – FMC

Lũy kế 9T.2015, sản lượng tiêu thụ đạt 8.836 tấn (+12%), DTT đạt 2.087 tỷ đồng (-2% yoy), LNTT đạt 84,4 tỷ đồng (+66% yoy) và LNST đạt 76,9 tỷ đồng (+94% yoy). Với kết quả này, doanh nghiệp hoàn thành 57% kế hoạch doanh thu và 84,4% kế hoạch LNTT cho cả năm. LNG đạt 194 tỷ đồng (+51% yoy) nhờ giá tôm nguyên liệu vẫn trong xu hướng giảm trong khi giá bán của các hợp đồng đã kí vẫn được giữ nguyên.

Sản lượng xuất khẩu tôm vẫn tăng nhờ định hướng mở rộng thêm thị trường EU trong năm 2015 và phân khúc sản phẩm khác biệt của FMC là phân khúc hàng GTGT trong khi các DN cạnh tranh khác lại xuất khẩu chủ yếu sản phẩm tôm công nghiệp đông lạnh. Chi phí tài chính trong 9T.2015 tăng mạnh gấp gần 4 lần cùng kì đạt 40,3 tỷ đồng do chênh lệch tỷ giá khiến vay nợ tăng theo do hầu hết nợ vay của FMC bằng USD. So với 9T.2014, chi phí thuế TNDN của FMC đã giảm 40% nhờ thuế TNDN giảm còn 10% thay vì 22% vì nhà máy FMC thuộc khu vực địa bàn khó khăn.

Trong năm 2016, FMC có thể gặp rủi ro từ giá nguyên liệu đảo chiều do không tự chủ được nguồn nguyên liệu dẫn đến biên LNG suy giảm. Tuy nhiên, DT vẫn sẽ tăng trưởng khả quan nhờ phục hồi nhu cầu tôm trên thế giới và tác động tích cực nhờ lợi thế từ các hiệp TPP và FTA cũng như mức thuế POR 0% ở thị trường Mỹ. Đặc biệt, rủi ro về dòng tiền cần được lưu ý khi công ty mẹ HVG có dòng tiền yếu sẽ gây áp lực cổ tức bằng tiền từ FMC.

VCBS vẫn giữ nguyên mức dự phóng năm 2015 cho FMC với DTT và LNST ước đạt lần lượt đạt 2.764 tỷ đồng (-4% yoy) và 91,1 tỷ đồng (+45% yoy), tương ứng với EPS và P/E forward đạt lần lượt 4.600 đồng và 5,3 lần. Chúng tôi khuyến nghị THEO DÕI đối với cổ phiếu FMC.

9T.2015: Sản lượng tiêu thụ tăng nhưng DTT giảm, LN vẫn tăng trưởng mạnh. Lũy kế 9T.2015, sản lượng tiêu thụ đạt 8.836 tấn (+12%), DTT đạt 2.087 tỷ đồng (-2% yoy), LNTT đạt 84,4 tỷ đồng (+66% yoy) và LNST đạt 76,9 tỷ đồng (+94% yoy). Với kết quả này, doanh nghiệp hoàn thành 57% kế hoạch doanh thu và 84,4% kế hoạch LNTT cho cả năm. Chi tiết một số hoạt động kinh doanh của FMC bao gồm:

(1) DTT giảm chủ yếu đến từ việc giảm giá sản phẩm. Lũy kế 9 tháng, sản lượng tiêu thụ tăngtrưởng 12% nhưng DTT lại giảm 2%, trong đó sản lượng tôm tăng 10%, DT từ tôm giảm 4% và sản lượng nông sản tăng 45%, DT nông sản tăng 62% yoy. Do tôm chiếm đến 97% cơ cấu DT của FMC nên khi giá sản phẩm tôm giảm 10% ytd đã khiến kim ngạch chỉ đạt 96 triệu USD (-5% yoy) và tổng doanh thu cũng giảm nhẹ 2%. Việc giảm giá đến từ (1) kinh tế sụt giảm khiến nhu cầu tiêu thụ ở các nước NK chính như Nhật, EU, Hàn Quốc,… giảm mạnh do đồng tiền của các nước này bị mất giá so với đồng USD trong khi các hợp đồng đều kí bằng đồng USD đã khiến sản phẩm tôm trở nên đắt đỏ, (2) Cạnh tranh từ các nước XK khác đã phá giá đồng nội tệ mạnh đến 30% như Ấn Độ, Indonesia, Ecuador… dẫn đến giá tôm ở các nước này rẻ hơn giá tôm tại Việt Nam. Tuy nhiên, Sản lượng xuất khẩu tôm vẫn tăng nhờ định hướng mở rộng thêm thị trường EUtrong năm 2015 và phân khúc sản phẩm khác biệt của FMC là phân khúc hàng GTGT trong khi các DN cạnh tranh khác lại xuất khẩu chủ yếu sản phẩm tôm công nghiệp đông lạnh.

Trong 9T đầu năm 2015, DT xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ đã giảm 25% yoy trong khi ở thị trường EU lại tăng mạnh đến 284% yoy, điều này cho thấy sự khó khăn ở nguồn cầu yếu ở thị trường Hoa Kỳ nhưng đồng thời FMC cũng đã thành công trong định hướng chuyển dịch sang thị trường EU để đón đầu ưu thế từ FTA do qua năm 2016 khi FTA giữa Việt Nam và EU có hiệu lực thì xuất khẩu tôm Việt Nam sẽ có ưu thế hơn thái Lan do thuế nhập khẩu tại EU giảm về 0 trong khi tôm Thái Lan còn ở mức hơn 10%.

(2) LNG và biên LNG tăng trưởng mạnh. Lũy kế 9T.2015, LNG đạt 194 tỷ đồng (+51% yoy) nhờ giá tôm nguyên liệu vẫn trong xu hướng giảm (tính từ đầu năm giá tôm sú nguyên liệu tại Cà Mau size 20 con/kg đã giảm 10% từ 290.000/kg còn 260.000kg) trong khi giá bán của các hợp đồng đã kí vẫn được giữ nguyên (một phần nhờ phân khúc sản phẩm tôm GTGT ít cạnh tranh hơn so với tôm công nghiệp đông lạnh). Ngoài ra, do FMC tăng cường nhập khẩu tôm bán thành phẩm (+42% yoy) từ Indonesia và Ấn Độ, 2 nước có chính sách thả nổi tỷ giá trong khi Việt Nam chủ trương ổn định tỷ giá, nên việc đồng USD tăng mạnh, đặc biệt là trong Q3.2015 đã giúp FMC mua được nguyên liệu bán thành phẩm giá rẻ. Trong Q3.2015, biên LNG cải thiện rõ rệt từ 5,6% trong Q3.2014 lên 10,7%.

(3) Chi phí tài chính tăng mạnh do lỗ chênh lệch tỷ giá. Chi phí tài chính trong 9T.2015 tăng mạnh gấp gần 4 lần cùng kì do chênh lệch tỷ giá khiến vay nợ tăng theo do hầu hết nợ vay của FMC bằng USD. Tính từ đầu năm, NHNN đã điều chỉnh tỷ giá VND/USD tăng 3% và nới biên độ thêm 2%. Ngoài ra, tổng chi phí bán hàng và chi phí QLDN cũng tăng 24% yoy do đẩy mạnh công tác bán hàng. Tuy nhiên, khoản thu nhập khác 10,5 tỷ đồng từ việc khách hàng bồi thường thiệt hại cho những lô hàng bị trả lại đã giúp bù đắp phần nào các chi phí.

(4) Chi phí thuế thu nhập DN giảm. So với 9T.2014, chi phí thuế TNDN của FMC đã giảm 40% nhờ Thông tư số 96/2015/TT-BTC do Bộ Tài Chính ban hành, theo đó thuế TNDN giảm còn 10% thay vì 22% vì nhà máy FMC thuộc khu vực địa bàn khó khăn.

Sức khỏe tài chính

Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh vẫn âm. Tuy trong 9T.2015 hoạt động kinh doanh có khả quan hơn nhưng dòng tiền từ hoạt động kinh doanh vẫn âm ở mức -22,4 tỷ đồng do tăng hàng tồn kho tăng 15% yoy khi FMC tranh thủ nhập hàng lúc giá tôm nguyên liệu còn thấp nhưng các khoản phải thu khách hàng lại tăng 55% yoy cho thấy rủi ro về dòng tiền do tiến độ bán hàng và thu tiền của FMC đang chậm dần khi so với mức tăng trưởng doanh thu là -2% yoy. Ngoài ra, trong năm nay FMC phải đầu tư hoàn thành nhà máy thực phẩm An San B làm tăng khoản tiền chi để mua sắm, xây dựng TSCĐ 103,1 tỷ đồng nên lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư ở mức -89,5 tỷ đồng.

Tiền vay chủ yếu để chi trả nợ gốc. Tiền vay chủ yếu để chi trả nợ vay chứ không phải để hỗ trợhoạt động kinh doanh và đầu tư là một dấu hiệu tốt. Tuy nhiên, điểm đáng lưu ý là trong năm nayFMC đã tăng tỷ lệ chi trả cổ tức từ 20% lên 50% nên tiền chi trả cổ tức, lợi nhuận cho chủ sở hữucũng tăng mạnh lên 60 tỷ đồng so với 18,3 tỷ đồng cùng kỳ có thể xuất phát từ ảnh hưởng củacông ty mẹ HVG khi dòng tiền của HVG đang thiếu hụt. Nếu xu hướng này tiếp tục xảy ra trongnhững năm sau có thể sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến dòng tiền của FMC. Tiền và tương đương tiềncuối kỳ của FMC hiện ở mức 173,2 tỷ đồng (+75% yoy).

Triển vọng kinh doanh

Như vậy, trong 9 tháng đầu 2015, câu chuyện tăng trưởng của FMC có thể thấy là giá tôm nguyênliệu giảm thấp nhưng giá bán lại không giảm mạnh giúp biên LNG cải thiện tốt. Chúng tôi chorằng diễn biến này sẽ tiếp tục chi phối KQKD của công ty trong quý cuối cùng của năm. Về dàihạn, một số yếu tố tác động đến triển vọng tăng trưởng kinh doanh của công ty có thể được xemxét như sau:

Giá tôm nguyên liệu được dự báo có thể tăng nhẹ trong năm 2016 do suy giảm nguồn cung

Từ năm 2013, thị trường tôm thế giới đã phải chịu ảnh hưởng của cuộc “khủng hoảng” về giá tômdo Hội chứng tôm chết sớm (EMS) khiến sản lượng tôm ở khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là Trung Quốc và Thái Lan (2 nguồn cung tôm lớn nhất thế giới), giảm mạnh đẩy giá tôm lên cao. Trong năm 2014, giá tôm tiếp tục tăng do sản lượng tôm từ Trung Quốc và Thái Lan vẫn chưa phục hồi. Tuy nhiên, từ đầu năm 2015, nhu cầu suy yếu từ 3 thị trường chính là Mỹ, Nhật và EU đã đẩy giá tôm xuống thấp. Theo dự báo, đến cuối năm giá tôm sẽ ổn định do cung-cầu cân bằng khi nhu cầu tăng ở thị trường Mỹ để phục vụ cho dịp lễ Giáng Sinh và nguồn cung thế giới suy giảm.

Tại Trung Quốc, bão Rainbow vào đầu tháng 10 đã làm thiệt hại trầm trọng các ao tôm và cơ sởvật chất, gây mất điện dẫn đến thiếu cung cấp oxy cho các ao và gây chết tôm. Một số vùng nuôikhác không bị ảnh hưởng bởi bão nhưng vẫn có khả năng thiếu hụt nguồn thức ăn do các nhà máy chế biến thức ăn đều nằm trong vùng hoạt động của bão. Tại Thái Lan, tuy dịch EMS đã được kiểm soát nhưng người nuôi tôm đang phải đối mặt với loại nấm EHP gây ra sự chậm phát triển ở tôm, tăng tỷ lệ chết và hệ số chuyển hóa thức ăn cao hơn dẫn tới chi phí sản xuất tăng. Ngoài Thái Lan, ngành tôm Ấn Độ cũng đang gặp khó khăn do bệnh tôm gây ra bởi EHP, cộng với diện tích thả nuôi giảm do giá thấp dẫn đến sản lượng thu hoạch sụt giảm. Đáng lo ngại hơn, bệnh EHP lại không dễ kiểm soát trên diện rộng do cần phải có cả một quy trình sạch bao gồm giống ươm sạch và tiệt trùng, ao nuôi sạch và giống bố mẹ sạch, trong khi để xử lý EMS chỉ cần giữ đáy ao sạch.

Vì vậy, giá tôm được dự báo có thể tăng nhẹ trong năm 2016. Trong dài hạn, có thể FMC sẽ mấtlợi thế ở nguồn tôm nguyên liệu giá rẻ. Ngoài ra, vùng nuôi chỉ đạt diện tích 250 ha và cung cấp5% nguồn nguyên liệu cần thiết cho chế biến có thể sẽ dẫn đến rủi ro thiếu hụt nguyên liệu vàtăng GVHB khi giá tôm nguyên liệu lên cao do lệ thuộc nhiều vào nguồn cung nước ngoài.

Tác động từ các hiệp định TPP. Đàm phán Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) là một đàmphán thương mại tự do (FTA) nhiều bên với mục tiêu thiết lập một khu vực thương mại tự dochung cho các nước thành viên. TPP gồm 5 nước thuộc châu Mỹ, 5 nước thuộc châu Á và 2 nướcthuộc châu Úc. Vì không có nước nào trong số đó bán tôm vào Việt Nam mà chỉ có Việt Nam bán tôm cho Mỹ, Nhật Bản, Canada, Úc và Singapore nên ngành tôm Việt Nam đặc biệt có lợi thế khi hiệp định TPP được ký kết.

Nhờ TPP, tại thị trường Mỹ, tôm Việt Nam sẽ không bị kiện thuế chống trợ cấp nhưng Luật chống bán phá giá lại không bị điều chỉnh bởi TPP. Tại thị trường Nhật, sau khi TPP được ký kết, thuế nhập khẩu tôm đã giảm con 0% so với mức 6,4-7,2% trước đây. Vì vậy, FMC đặc biệt có lợi thế so với các doanh nghiệp cùng ngành do (1) Mỹ và Nhật là 2 thị trường chiếm hơn 75% doanh thu xuất khẩu tôm và (2) mức thuế nhập khẩu của Việt Nam vào Nhật đã là 0% và FMC đồng thời đạt được mức thuế chống bán phá giá 0% tại thị trường Mỹ ở kỳ review POR9 trong khi các doanh nghiệp cùng ngành là 1,39% đối với Minh Phú, 1,5% đối với Thuận Phước và 0,91% đối với các doanh nghiệp còn lại.

Nhờ FTA, tại thị trường Hàn Quốc, tôm Việt Nam cũng đạt mức thuế 0% nhập khẩu vào thịtrường này. Ngoài ra, đối với thị trường EU, qua năm 2016 khi FTA giữa Việt Nam và EU có hiệu lực thì xuất khẩu tôm Việt Nam sẽ có ưu thế hơn thái Lan do thuế nhập khẩu tại EU giảm về 0 trong khi tôm Thái Lan còn ở mức hơn 10%. Thấy được lợi thế này nên từ đầu năm 2015, FMC đã tăng cường xuất khẩu sang EU, trong 9T đầu năm 2015, tỉ lệ tôm xuất vào EU của FMC đạt 13% so với 3% ở cùng kỳ 2014.

Một yếu tố khác có thể tác động 2 chiều là vấn đề về dư lượng hóa chất và kháng sinh ở thủy sản. Theo cục Quản lý chất lượng Nông, Lâm sản và Thủy sản (NAFIQAD), trong 9T đầu năm 2015 đã có tổng cộng 165 lô hàng thủy sản không đạt yêu cầu an toàn thực phẩm và 78 lô hàng có dư lượng hóa chất và kháng sinh cao hơn mức cho phép. Cả 3 thị trường lớn của Việt Nam là Mỹ, Nhật và châu Âu đã gửi cảnh báo an toàn thực phẩm đến các nhà xuất khẩu thủy sản tại Việt Nam. Tại thị trường Mỹ đã có 35 lô hàng vi phạm dư lượng hóa chất và kháng sinh, tại thị trường Nhật có 27 lô hàng bị từ chối chủ yếu do chất kháng sinh cấm và tại thị trường EU đã đưa ra cảnh báo đối với 27 lô hàng chủ yếu do nhiễm vi sinh. Vì vậy, trong thời gian tới các nhà nhập khẩu sẽ cẩn trọng hơn trong việc lựa chọn nhà nhập khẩu và kiểm tra chất lượng sản phẩm. Các doanh nghiệp đạt được các tiêu chuẩn quốc tế sẽ được các nhà nhập khẩu chú trọng hợp tác hơn. Tháng 3 vừa qua tại Hội chợ Boston ở Mỹ, GAA đã trao chứng nhận BAP 4 sao cho FMC (cấp cao nhất của chứng nhận BAP do Liên minh nuôi trồng thủy sản toàn cầu xây dựng và áp dụng với chú trọng tới các tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm, môi trường và nước thải) giúp tăng thêm uy tín đối với nhà nhập khẩu và người tiêu dùng.

Nhìn chung về triển vọng, chúng tôi cho rằng FMC vẫn sẽ có tăng trưởng tốt về DT do tăng sảnlượng khi nhu cầu tôm phục hồi ở các thị trường và sự thúc đẩy từ các hiệp định TPP và FTA cũng như mức thuế POR 0%. Tuy nhiên, GVHB của FMC sẽ tăng do không tự chủ được nguồn nguyên liệu trong khi giá tôm nguyên liệu có thể đảo chiều và khiến biên LNG giảm dần.

QUAN ĐIỂM ĐẦU TƯ

KQKD 9T.2015 của FMC khá ấn tượng do tăng trưởng biên LN nhờ nguồn tôm nguyên liệu nhậpkhẩu giá rẻ cũng như giữ vững sản lượng xuất khẩu mặc dù ngành tôm năm nay đang gặp nhiềukhó khăn chủ yếu nhờ chuyển hướng sang thị trường EU. Chúng tôi cho rằng diễn biến này sẽ tiếp tục chi phối hoạt động kinh doanh của công ty trong cuối năm. Trong năm 2016, FMC có thể gặp rủi ro từ giá nguyên liệu đảo chiều do không tự chủ được nguồn nguyên liệu dẫn đến biên LNG suy giảm. Tuy nhiên, DT vẫn sẽ tăng trưởng khả quan nhờ phục hồi nhu cầu tôm trên thế giới và tác động tích cực nhờ lợi thế từ các hiệp TPP và FTA cũng như mức thuế POR 0% ở thị trường Mỹ. Đặc biệt, rủi ro về dòng tiền cần được lưu ý khi công ty mẹ HVG có dòng tiền yếu sẽ gây áp lực cổ tức bằng tiền từ FMC.

VCBS vẫn giữ nguyên mức dự phóng năm 2015 cho FMC với DTT và LNST ước đạt lần lượt đạt 2.764 tỷ đồng (-4% yoy) và 91,1 tỷ đồng (+45% yoy), tương ứng với EPS và P/E forward đạt lần lượt 4.600 đồng và 6,7 lần. Chúng tôi khuyến nghị THEO DÕI đối với cổ phiếu FMC.

Nguồn: VCBS

BÌNH LUẬN()

CÁC TIN LIÊN QUAN

Đối tác