DANH MỤC

Mobile / Zalo / Viber: 0912 842 224

Cập nhật cổ phiếu VPB – Công bố KQKD vượt kế hoạch với LNTT tăng 76,3% so với cùng kỳ

Lượt xem: 334 - Ngày:
Chia sẻ

VPBank công bố KQKD vượt kế hoạch với LNTT tăng 76,3% so với cùng kỳ. Triển vọng tăng trưởng khá. Tiếp tục duy trì đánh giá Khả quan.

Đồ thị cổ phiếu VPB cập nhật ngày 27/10/2017. Nguồn: AmiBroker

VPBank (VPB – Khả quan) đã công bố KQKD 9 tháng đầu năm với LNTT đạt 5.635 tỷ đồng (tăng 76,3%) so với cùng kỳ nhờ sự tăng trưởng ổn định của mảng tài chính tiêu dùng. Thu nhập lãi thuần tăng đạt 14.944 tỷ đồng (tăng 41% so với cùng kỳ) trong khi đó tổng thu nhập ngoài lãi cũng tăng mạnh đạt 2.630 tỷ đồng (tăng 114% so với cùng kỳ). Mặc dù vậy, lợi nhuận bị ảnh hưởng do chi phí dự phòng tăng 43% so với cùng kỳ lên 5.620 tỷ đồng. Như vậy, VPB đã hoàn thành 78% kế hoạch cả năm đã điều chỉnh, là 7.200 tỷ đồng LNTT và kết quả này tương đương 79% dự báo LNTT cả năm của HSC, là 7.127 tỷ đồng.

Kết luận nhanh – Tiếp tục đánh giá Khả quan. Chúng tôi ước tính giá trị hợp lý ngắn hạn của cổ phiếu là 47.800đ, tương đương P/B dự phóng 2017 là 2,52 lần. HSC dự báo LNTT tăng trưởng 44% trong năm 2017 và sau đó tăng trưởng 23% trong năm 2018. Tăng trưởng mạnh của mảng tài chính tiêu dùng sẽ giúp đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng nguồn thu nhập lãi vay do mảng này cho tỷ suất lợi nhuận cao nhất trong khi đó tỷ lệ NIM cũng chịu áp lực do cạnh tranh gia tăng. Dù vậy chúng tôi vẫn dự báo LNTT của Ngân hàng sẽ tăng trưởng gộp 23% trong hai năm tới nhờ dư nợ duy trì gia tăng ổn định.

Tăng trưởng tín dụng mạnh và như thường lệ tăng trưởng cho vay tiêu dùng đóng góp chính – Ngân hàng công bố tín dụng cuối tháng 9/2017 tăng 16%, tín dụng 9 tháng đầu năm tăng 29% so với cùng kỳ đạt 167.681 tỷ đồng. Cho vay tiêu dùng vẫn là động lực tăng trưởng chính với tín dụng của FECredit tăng 28,3% so với đầu năm đạt 41.205 tỷ đồng và hiện đóng góp 24,6% tổng dư nợ hợp nhất. VPB giữ quan điểm rất tích cực đối với cho vay tieu dùng và kỳ vọng sẽ tiếp tục mở rộng thị phần ở mảng này nhờ thế mạnh cạnh tranh của VPB. Phân loại cho vay theo kỳ hạn;

• Cho vay ngắn hạn tăng 33,5% so với đầu năm đạt 47.931 tỷ đồng.
• Cho vay trung & dài hạn tăng nhẹ 10% so với đầu năm đạt 119.749 tỷ đồng.

Như vậy, đến cuối tháng 9/201, tỷ lệ cho vay trung và dài hạn là 71% tổng dư nợ so với mức 75% vào cuối năm 2016.

Do chúng tôi không có số liệu cụ thể về cơ cấu cho vay của Ngân hàng trong 9 tháng đầu năm. Theo BCTC công ty mẹ và hợp nhất, chúng tôi dự báo cho vay cá nhân đến cuối Q3/2017 chiếm 65% hoặc lớn hơn tổng dư nợ (cuối năm ngoái tỷ trọng này là 62%).

Tăng trưởng huy động khiêm tốn – Huy động tăng chậm hơn, chỉ tăng 3,2% so với đầu năm đạt 127.776 tỷ đồng. Trong đó,

• Tiền gửi không kỳ hạn giảm 14,8% so với đầu năm, chiếm 10,5% tổng huy động (cuối năm ngoái chiếm 12,7%).
• Tiền gửi có kỳ hạn tăng nhẹ 5,8% so với đầu năm, chiếm 89,5% tổng huy động.

Tiền gửi khách hàng hiện chiếm 59,4% trong cấu trúc nguồn huy động của Ngân hàng. VPB đang mở rộng sang các nguồn dài hạn hơn bằng cách chuyển sang huy động giấy tờ có giá với giá trị giấy tờ có giá huy động được trong 9 tháng đầu năm là 64.289 tỷ đồng, chiếm 30% tổng huy động (cuối năm ngoái là 23,88%). Sự thay đổi này đảm bảo cấu trúc kỳ hạn huy động của của Ngân hàng vẫn sẽ tuân thủ quy định về yêu cầu vốn và các hệ số an toàn tốt trong quá trình phát triển. Phần tiền gửi khách hàng là từ ngân hàng mẹ trong khi đó phần lớn giấy tờ có giá được sử dụng cho hoạt động kinh doanh của FECredit.

Hệ số LDR thuần là 131% – vào cuối tháng 9/2017 so với mức 117% trong năm 2017. Trong đó;

• Hệ số LDR VND là 133%.
• Trong khi đó hệ số LDR ngoại tệ là 89%.

Tuy nhiên, ước tính theo quy định của Thông tư 36, hệ số LDR của Ngân hàng chỉ là 85,5%, cho thấy VPB vẫn có thể đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng nhanh hơn tăng trưởng huy động trong tương lai.

Tỷ lệ NIM có xu hướng tăng và hiện ở mức cao nhất trong số các NHTMCP, là 9,62% – Tỷ lệ NIM tiếp tục tăng 2,26% lên 9,62% trong 9 tháng đầu năm so với 7,36% trong cùng kỳ năm ngoái. Các yếu tố tích cực như hệ số LDR tăng cùng với tăng trưởng mạnh của cho vay tiêu dùng vẫn duy trì trong 9 tháng đầu năm, theo đó tỷ lệ NIM tăng lên.

Cơ cấu các tài sản sinh lãi như sau;

• Tỷ trọng tài sản cho lợi suất cao hơn như cho vay khách hàng tăng lên, từ 67,9% vào cuối năm 2016 lên 72,28% vào cuối tháng 9/2017.
• Trong khi đó, tỷ trọng đầu tư trái phiếu giảm nhẹ xuống 25,1%, tương đương 58.250 tỷ đồng so với mức 27,7% vào cuối năm 2016.
• Tỷ trọng cho vay liên ngân hàng (cho lợi suất thấp nhất) giảm xuống 2,61% so với mức 4,42% vào cuối năm ngoái.

Chúng tôi ước tính lợi suất gộp của tài sản sinh lãi đã tăng 2,33% lên 15,29%.

• Lợi suất gộp bình quân cho vay khách hàng đạt 19,36% (tăng 2,94% so với cùng kỳ). Trong đó, tổng dư nợ của ngân hàng mẹ vào cuối tháng 9 đạt 126.476 tỷ đồng (tăng 12,4% so với đầu năm), chiếm 75,4% tổng dư nợ hợp nhất. Phần còn lại là từ FE Credit với tổng dư nợ là 41.204 tỷ đồng, chiếm 24,6% con số hợp nhất. Mặc dù chúng tôi không có số liệu cụ thể cho 9 tháng đầu năm, ước tính lợi suất gộp cho vay tiêu dùng của FE đạt 40,9%. Trong khi đó lợi suất gộp cho vay khách hàng của ngân hàng mẹ là 12,4%. Cho vay tiêu dùng tăng trưởng nhanh chóng trong hai năm qua chủ yếu là các khoản vay không đảm bảo cho lợi suất rất lớn.
• Lợi suất trái phiếu bình quân là 7,7% (tăng 103% so với cùng kỳ). Đối với VPB, tỷ trọng trái phiếu trong tổng tài sản sinh lãi chiếm tỷ trọng lớn nhất trong số các ngân hàng đã niêm yết. Chúng tôi quan sát thấy Ngân hàng có 19 nghìn tỷ đồng trái phiếu chính phủ, chiếm 33%, 12 nghìn tỷ đồng là trái phiếu được chính phủ đảm bảo, chiếm 21%, tiếp đó 4 nghìn tỷ đồng là trái phiếu VAMC và phần còn lại 23 nghìn tỷ đồng là trái phiếu doanh nghiệp và trái phiếu của các tổ chức tín dụng khác, chiếm 40%. Ngân hàng có tỷ trọng đầu tư lớn vào trái phiếu doanh nghiệp và trái phiếu của các tổ chức tín dụng khác và đây được xem là một mảng năng động của Ngân hàng.
• Cuối cùng 2,61% là cho vay liên ngân hàng với lợi suất bình quân là 3,51% (tăng 2,27%).

Về huy động, tổng chi phí huy động tăng nhẹ 0,83% lên 6,65%, chủ yếu là do:

• Chi phí huy động tiền gửi khách hàng tăng từ 4,75% trong 9 tháng đầu năm 2016 lên 5,64% trong cùng kỳ năm nay (ăng 0,89%). Do tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn giảm dần từ 12,7% trong năm 2016 xuống 10,5% trong 9 tháng đầu năm nay. Tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn cũng thấp hơn so với mức bình quân các ngân hàng đã niêm yết.
• Chi phí huy động giấy tờ có giá tăng và nguồn huy động này chiếm 30% tổng huy động, tương đương 64.289 tỷ đồng (tăng 32% so với đầu năm) và chi phí huy động hiện tại là 9,64% (giảm 1,72%). 40% nguồn huy động này, tương đương 25 nghìn tỷ đồng được sử dụng cho hoạt động của FE Credit.

Tóm lại, tăng trưởng tín dụng tốt và tỷ lệ NIM được cải thiện đã giúp thúc đẩy thu nhập lãi thuần tăng đạt 14.944 tỷ đồng, tăng 41% so với cùng kỳ. Trong đó, 8.347 tỷ đồng ước tính là từ FE Credit, đóng góp 56%.

Tổng thu nhập ngoài lãi cũng tăng mạnh 114% so với cùng kỳ – Tổng thu nhập ngoài lãi đạt 2.631 tỷ đồng (tăng 114% so với cùng kỳ), chủ yếu nhờ lãi thuần HĐ dịch vụ và lợi nhuận đầu tư đồng thời thu hồ nợ xấu ngoại bảng tăng.

• Lãi thuần HĐ dịch vụ tăng 86% so với cùng kỳ đạt 1.036 tỷ đồng, do không có số liệu cụ thể, chúng tôi dự báo phần lớn là từ hoa hồng bảo lãnh phát hành.
• Đồng thời lãi thuần hoạt động kinh doanh ngoại hối cũng được cải thiện mặc dù vẫn ghi âm 42,9 tỷ đồng, giảm so với mức lỗ 225 tỷ đồng trong cùng kỳ năm ngoái.
• Trong khi đó, lãi thuần mua bán chứng khoán đầu tư vượt trội, tăng 125% so với cùng kỳ đạt 328 tỷ đồng. Đồng thời, hoạt động mua bán chứng khoán kinh doanh cũng cho lợi nhuận trở lại, đạt 121 tỷ đồng. Thu nhập từ mua bán trái phiếu kinh doanh đạt 450 tỷ đồng, tăng 588% so với cùng kỳ.
• Mặc dù không có số liệu cụ thể cho các thu nhập khác, chúng tôi ước tính 735 tỷ đồng (tăng 61,5% so với cùng kỳ) là thu hồi nợ ngoại bảng, chiếm 65% thu nhập khác, đạt 1.187 tỷ đồng (tăng 42% so với cùng kỳ). Với chiến lược cho vay của Ngân hàng, chúng tôi tin rằng nguồn thu nhập này sẽ tiếp tục được cải thiện trong tương lai.

Theo đó, tổng thu nhập hoạt động đạt 17.575 tỷ đồng trong 9 tháng đầu năm, tăng 48,6% so với cùng kỳ.

Hệ số CIR vẫn duy trì ở 36% – Trong 9 tháng đầu năm 2017, chi phí hoạt động tăng 34% so với cùng kỳ lên 6.319 tỷ đồng, với chi phí lương thưởng tăng 50,8% lên 3.790 tỷ đồng; chiếm 60% tổng chi phí hoạt động. Theo chúng tôi, bằng việc sử dụng dữ liệu lớn và ngân hàng số thay vì sử dụng mạng lưới rộng lớn để tăng cường cho vay, VBP đã duy trì được hệ số CIR thấp so với các ngân hàng khác với hệ số CIR vào khoảng 35-45% trong 2 năm qua.

Hệ số NPL cao là 3,1% trong khi hệ số LLR ở mức rất thấp là 49,5%, cho thấy có một số rủi ro trong mô hình hoạt động – Nợ xấu tăng 27% so với đầu năm lên 5.125 tỷ đồng tại thời điểm cuối tháng 9/2017. Tỷ lệ NPL là 3,1% (tại thời điểm cuối năm 2016 là 2,8%), chủ yếu là từ FE Credit. Chúng tôi thấy 3.290 tỷ đồng nợ xấu là từ Ngân hàng mẹ VPB, bằng 2,6% tổng dư nợ Ngân hàng mẹ và bằng 64% tổng nợ xấu hợp nhất. Còn lại 36% là từ FE Credit với nợ xấu của FE Credit là 1.836 tỷ đồng (giảm 4,7% so với đầu năm) và bằng 4,45% tổng dư nợ của công ty này. Trong kỳ, VPB đã xóa 4.751 tỷ đồng (tăng 23%) nợ xấu, bằng 2,8% tổng dư nợ, trong đó hầu hết là từ FE Credit vì chúng tôi thấy trong 9 tháng đầu năm 2017, Ngân hàng mẹ xóa nợ là 1.071 tỷ đồng (bằng 33% tổng số nợ xấu được xóa) và còn lại 3.680 tỷ đồng là từ FE Credit (bằng 77% tổng số nợ xấu được xóa). Tổng giá trị trái phiếu VAMC gần như giữ nguyên ở 4.210 tỷ đồng tại thời điểm cuối tháng 9/2017; bằng 2,5% tổng dư nợ. Hệ số LLR cho nợ nhóm 3-5 hiện là 49,5% (tại thời điểm cuối năm là 49,7%). Vẫn thấp hơn mức bình quân các ngân hàng niêm yết, theo đó chúng tôi cho rằng gánh nặng trích lập dự phòng có thể sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của Ngân hàng trong tương lai.

Chi phí dự phòng trích lập trong quý tăng 34% so với cùng kỳ – Chi phí dự phòng tăng 34% so với cùng kỳ lên 6.319 tỷ đồng. Hiện chưa có thông tin về cơ cấu chi phí dự phòng, nhưng chúng tôi được biết phần lớn là chi phí trích lập cho các khoản cho vay khách hàng, tổng cộng là 5.387 tỷ đồng (tăng 34,9% so với cùng kỳ). Trong đó 205 tỷ đồng là chi phí dự phòng chung (tăng 71% so với cùng kỳ) do tăng trưởng tín dụng tăng tốc mạnh. Còn lại 5.182 tỷ đồng là dự phòng cụ thể (tăng 33,7%) do nợ xấu mới tăng lên. Dựa trên số liệu thu thập được, chúng tôi ước tính 69% chi phí dự phòng là trích lập cho các khoản cho vay khách hàng tại FE Credit, tương đương 3.718 tỷ đồng.

LNTT đạt 5.635 tỷ đồng (tăng 76% so với cùng kỳ), hoàn thành 78% kế hoạch mới của công ty.

Sau khi phát hành thêm VPB sẽ đề nghị UBCK điều chỉnh để giữ lại 2,62% room tăng thêm – Sau khi phát hành thêm khoảng 174,6 triệu cổ phiếu, tương đương 13% số lượng cổ phiếu lưu hành và nâng số lượng cổ phiếu lưu hành lên 1.497 triệu cổ phiếu.

• Bình thường room sẽ mở ra thêm khoảng 43 triệu cổ phiếu; bằng khoảng 2,9% số lượng cổ phiếu lưu hành.
• Tuy nhiên UBCK đã đồng ý điều chỉnh để giữ lại 2,62% room.
• Theo đó sẽ không còn room cho khối ngoại để mua trên thị trường sau khi VPB phát hành thêm cổ phiếu.
• Trong khi đó vợ của TGĐ VPB đã đăng ký mua 10 triệu cổ phiếu VPB (0,67% cổ phần) từ ngày 19/10 đến 17/11/2017 thông qua phương thức khớp lệnh và thỏa thuận.
• Hiện tại, TGĐ và vợ không nắm giữ cổ phiếu VPB.

Việc phát hành riêng lẻ thành công 160 triệu cổ phiếu với giá 39.000đ đã giúp vốn chủ sở hữu của VPB tăng thêm 6.400 tỷ đồng, tăng 61% lên 27.624 tỷ đồng. Từ đó giúp hệ số CAR tăng lên 16,7%; cao hơn gấp đôi tỷ lệ tối thiểu theo quy định của NHNN. Hệ số ROA và ROE lần lượt là 2,49% và 26,79%; cho thấy VPB là ngân hàng được điều hành hiệu quả. Tuy nhiên rủi ro trong mô hình hoạt động của VPB cũng cao hơn mức bình quân ngành.

VPB gần đây đã nhận được khoản vay 122 triệu USD từ IFC và 41 triệu USD từ Credit Suisse Singapore. Theo đó tổng vốn huy động từ những nguồn trên là trên 6.600 tỷ đồng. Ngoài ra còn thêm 6.400 tỷ đồng thu về từ đợt phát hành riêng lẻ tháng 9. Và như vậy chúng tôi cho rằng hệ số an toàn tài chính của VPB cao hơn bình quân ngành. Theo đó, VPB hiện có đủ vốn để tích cực triển khai kế hoạch kinh doanh trong 2 năm tới với tỉ lệ CAR hiện nay ở mức 16.7% theo thông tư 36 và đạt 13.5% tính theo Basel II.

HSC dự báo LNTT hợp nhất 2017 đạt 7.127 tỷ đồng (tăng trưởng 45%) – Dự báo của chúng tôi thấp hơn một chút so với kế hoạch lợi nhuận cả năm của Ngân hàng là 7.200 tỷ đồng. Do:

• Dự báo lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh chính của Ngân hàng mẹ VPB (không bao gồm toàn bộ lợi nhuận từ FE Credit chuyển sang) tăng trưởng tốt, đạt 5.248 tỷ đồng, tăng trưởng 54%.
• Và dự báo LNTT của FE Credit tăng trưởng 18,27% đạt 2.927 tỷ đồng.

HSC dự báo LNTT 2017 của Ngân hàng mẹ tăng trưởng 54% – Chúng tôi dự báo LNTT 2017 của Ngân hàng mẹ đạt 5.248 tỷ đồng (tăng trưởng 54%). Dự báo của chúng tôi dựa trên các giả định sau;

1. Chúng tôi dự báo cho vay khách hàng tăng 20% đạt 135 nghìn tỷ đồng nhờ tăng trưởng cho vay rất tốt trong 9 tháng đầu.
2. Và chúng tôi cũng dự báo tiền gửi khách hàng tăng 5% đạt 127,87 nghìn tỷ đồng, trong khi đó Ngân hàng cũng đẩy mạnh huy động các chứng chỉ tiền gửi trung hạn, tăng trưởng 45% đạt 41,82 nghìn tỷ đồng
3. Do đó, hệ số LDR thuần vẫn ở mức cao, là 106%, tuy nhiên tỷ lệ cho vay/(tiền gửi khách hàng +chứng chỉ tiền gửi) chỉ là 80%.
4. Chúng tôi điều chỉnh tăng một chút tỷ lệ NIM lên 4,48% (tăng thêm 0,13%) so với mức 3,92% trong năm 2016 và 4,32% vào cuối 6 tháng đầu năm 2017. Chúng tôi dự báo tỷ lệ NIM tăng là do Ngân hàng tập trung vào cho vay tiêu dùng (51% tổng dự nợ là cho vay khách hàng cá nhân). Và 25% các khoản vay của khách hàng cá nhân (gần 13% tổng dư nợ) là không có tài sản đảm bảo
5. Do đó, thu nhập lãi thuần dự báo tăng trưởng 27% đạt 9.004 tỷ đồng, cao hơn 3% so với dự báo trước đây là 8.741 tỷ đồng.
6. Tổng thu nhập ngoài lãi tăng 81% đạt 3.854 tỷ đồng. Trong đó, lãi thuần từ hoạt động mua bán chứng khoán kinh doanh/đầu tư tăng trưởng mạnh nhất với mức tăng 444,24% đạt 500 tỷ đồng. Chúng tôi cũng lạc quan hơn so với dự báo trước đây trong việc thu hồi nợ xấu ngoại bảng, theo đó giá trị thu hồi có thể tăng 20% đạt 1.010 tỷ đồng.
7. Tổng chi phí hoạt động dự báo tăng 37% so với năm 2016 lên 5.014 tỷ đồng; cao hơn 5% so với dự báo trước đây là 4.775 tỷ đồng. Do đó, hệ số CIR sẽ là 39%.
8. Chi phí dự phòng tăng nhẹ 19,89% so với năm 2016 lên 2.595 tỷ đồng. Ngoài 1.051 tỷ đồng chi phí dự phòng trích lập trong 6 tháng đầu năm, chúng tôi dự báo VPB sẽ trích lập thêm 700 tỷ đồng trong 6 tháng cuối năm cho trái phiếu VAMC, và 844 tỷ đồng dự phòng nợ xấu thông thường để giảm tỷ lệ nợ về dưới 3%.

Chúng tôi giữ nguyên dự báo LNTT năm 2017 của FE Credit là 2.972 tỷ đồng (tăng trưởng 18,20%) dựa trên những giả định sau:

1. Chúng tôi dự báo cho vay khách hàng tăng 30% đạt 41,76 nghìn tỷ đồng.
2. Và dự báo chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu phát hành tăng 55% đạt 30,68 nghìn tỷ đồng.
3. Tuy nhiên, các nguồn huy động khác như tiền gửi của các NHTM và tiền gửi của doanh nghiệp tăng nhẹ 7,6% đạt 8,46 nghìn tỷ đồng.
4. Tỷ lệ NIM sẽ giảm còn 26,34% do áp lực cạnh tranh gia tăng.
5. Tuy nhiên, thu nhập lãi thuần vẫn tăng trưởng 37,12% đạt 10.842 tỷ đồng.
6. Trong khi đó, tổng thu nhập ngoài lãi tăng trưởng mạnh 98,96% đạt 1.284 tỷ đồng nhờ lãi thuần hoạt động dịch vụ tăng trưởng tốt và Ngân hàng tăng cường thu hồi nợ. FE Credit khá quyết liệt trong việc xóa nợ xấu và chúng tôi dự báo tỷ lệ thu hồi nợ xấu là 15-20% tổng nợ đã xóa
7. Tổng chi phí hoạt động dự báo tăng nhẹ 13,93% so với năm 2016 lên 3.334 tỷ đồng và hệ số CIR sẽ là 27,5%. FE Credit vẫn tập trung mạnh vào cho vay tiền mặt, do đó không yêu cầu nhiều tài sản cố định cho hệ thống chi nhánh và điểm giao dịch tại các nhà phân phối hàng tiêu dùng. Do đó, hệ số CIR của FE Credit sẽ vẫn ở mức thấp so với các đối thủ khác.
8. Tuy nhiên, HSC dự báo chi phí dự phòng của FE Credit sẽ tiếp tục tăng mạnh lên 5.864 tỷ đồng (tăng 86,27%).

Theo đó chúng tôi dự báo EPS đạt 3.993đ và BVPS đạt 18.956đ cho năm 2017. Và P/B dự phóng năm 2017 là 2,17 lần.

Cho năm 2018, HSC dự báo LNTT hợp nhất đạt 8.766 tỷ đồng (tăng trưởng 23%) – nhờ LNTT Ngân hàng mẹ tăng trưởng 22,91% và đạt 6.413 tỷ đồng còn LNTT của FE Credit tăng trưởng 19,06% và đạt 3.781 tỷ đồng. Giả định của chúng tôi là:

Với Ngân hàng mẹ:

1. Chúng tôi dự báo cho vay khách hàng tăng 18% và đạt 159 nghìn tỷ đồng.
2. Và chúng tôi cũng dự báo tiền gửi khách hàng tăng 7% và đạt 136,82 nghìn tỷ đồng, trong khi đó vốn huy động từ phát hành chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu tăng 40% và đạt 58,55 nghìn tỷ đồng.
3. Do đó, hệ số LDR thuần ở mức rất cao là 116%, tuy nhiên tỷ lệ cho vay khách hàng/(tiền gửi khách hàng + chứng chỉ tiền gửi) chỉ là 80%.
4. Tỷ lệ NIM giảm nhẹ xuống 4,26% từ 4,48% năm 2017.
5. Do đó, thu nhập lãi thuần dự báo tăng trưởng 11,85% và đạt 10.072 tỷ đồng.
6. Tổng thu nhập ngoài lãi tăng lên 4.255 tỷ đồng nhờ hoạt động thu hồi nợ xấu ngoại bảng hiệu quả hơn. Chúng tôi giả định hoạt động thu hồi nợ xấu ngoại bảng sẽ khả quan hơn so với giả định trước đây, theo đó giúp thu nhập khác tăng 20% và gấp đôi so với dự báo trước đây.
7. Tổng chi phí hoạt động dự báo tăng nhẹ 11,42% lên 14.327 tỷ đồng.
8. Do đó, hệ số CIR được kiểm soát tốt ở 39%.
9. HSC dự báo chi phí dự phòng giảm nhẹ 10,35% xuống 2.326 tỷ đồng. Trong đó 1.499 tỷ đồng là trích lập chung và cụ thể (giảm 15,2%) còn 827 tỷ đồng là trích lập cho trái phiếu VAMC (bằng 20% giá trị sổ sách của trái phiếu VAMC là 4.156 tỷ đồng).
10. Theo đó, hệ số LLR sau khi xóa nợ vẫn ở mức thấp là 55%.
11. Tỷ lệ nợ xấu là 2,7%.

Với FE Credit, chúng tôi giả định:

1. Chúng tôi dự báo cho vay khách hàng tăng 28% và đạt 53,42 nghìn tỷ đồng.
2. Và dự báo chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu phát hành tăng 32% và đạt 40,52 nghìn tỷ đồng.
3. Chúng tôi dự báo huy động khách hàng và vay liên ngân hàng tăng 11,5% và đạt 9,44 nghìn tỷ đồng.
4. Tỷ lệ NIM sẽ giảm còn 24,13% do áp lực cạnh tranh gia tăng.
5. Theo đó, chúng tôi dự báo thu nhập lãi thuần tăng trưởng 21,18% và đạt 13.139 tỷ đồng.
6. Tổng thu nhập ngoài lãi tăng trưởng 28,09% và đạt 1.645 tỷ đồng.
7. Chúng tôi dự báo tổng chi phí hoạt động dự báo tăng 26,35% lên 4.213 tỷ đồng và hệ số CIR sẽ là 28,5%.
8. Tuy nhiên, HSC dự báo chi phí dự phòng tăng 20,82% lên 7.085 tỷ đồng với tỷ lệ nợ xấu là 5% (12,1% cho nợ nóm 2 và 12% để xóa nợ)

Theo đó chúng tôi dự báo EPS đạt 4.683đ và BVPS đạt 24.598đ cho năm 2018. Và P/B dự phóng năm 2018 là 1,67lần.

Quan điểm đầu tư. Tiếp tục duy trì đánh giá Khả quan. Chúng tôi ước tính giá trị hợp lý của cổ phiếu VPB trong ngắn hạn là 47.800đ; tương đương P/B dự phóng năm 2017 là 2,52 lần. Ước tính của chúng tôi dựa trên P/B bình quân của Ngân hàng mẹ (P/B dự phóng 1,8 lần) và FE Credit (PB dự phóng là 2,8 lần). VPB có giàn lãnh đạo rất năng động và tầm nhìn táo bạo trong lĩnh vực ngân hàng và tài chính tiêu dùng đã giúp Ngân hàng rất thành công trong vài năm qua. Trong tương lai, chúng tôi cho rằng tăng trưởng sẽ chậm lại trước những dấu hiệu cho thấy hoạt động kinh doanh bắt đầu gặp phải một số hạn chế. Trong khi đó cạnh tranh trong lĩnh vực tài chính dự kiến sẽ nóng lên với một số đối thủ mới dự kiến sẽ tham gia ngành. HSC tin rằng VPB là cơ hội đầu tư rất đáng quan tâm với mô hình kinh doanh khác biệt bao gồm một NHTMCP truyền thống và một công ty tài chính tiêu dùng với khẩu vị rủi ro cao. Và chúng tôi tin tưởng rằng VPB sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh hơn các ngân hàng khác trong những năm tới. Tuy nhiên có rủi ro là ngành tài chính tiêu dùng sẽ đạt đỉnh tăng trưởng trong một hoặc hai năm nữa. Chúng tôi cho rằng với tiềm năng tăng trưởng mạnh và bản chất khác biệt trong mô hình kinh doanh của VPB, hoàn toàn hợp lý khi cổ phiếu có định giá cao hơn so với P/B bình quân dự phóng của cổ phiếu các ngân hàng đã niêm yết, là 1,79 lần.

Nguồn: HSC

BÌNH LUẬN()

CÁC TIN LIÊN QUAN

Đối tác