DANH MỤC

Điện thoại / Facebook / Zalo: 0982 842 224

Cập nhật cổ phiếu VCB – Giữ vững vị thế đầu ngành ngân hàng

Lượt xem: 499 - Ngày:
Chia sẻ

Tin KQKD tóm tắt – LNTT năm 2016 của VCB tăng trưởng 24,75%. Triển vọng khả quan. Tiếp tục duy trì đánh giá Khả quan.

Đồ thị cổ phiếu VCB ngày 08/02/2017. Nguồn: AmiBroker

Đồ thị cổ phiếu VCB ngày 08/02/2017. Nguồn: AmiBroker

GHI NHẬN CHÍNH – Lợi nhuận từ HĐKD chính năm 2016 tăng trưởng mạnh. Thu nhập lãi thuần tăng trưởng khả quan, nợ xấu được kiểm soát tốt và hiện Ngân hàng đã trích lập xong cho trái phiếu VAMC. Với chi phí dự phòng giảm, chúng tôi dự báo LNTT năm 2017 tăng trưởng 34,5%. Tiếp tục gặt thái thành quả của công tác quản trị rủi ro tín dụng chặt chẽ cộng với thương hiệu mạnh và chiến lược phát triển tốt, VCB đã giành được thị phần đáng kể trong mảng ngân hàng bán lẻ, là mảng kinh doanh tăng trưởng mạnh nhất hiện nay.

HÀNH ĐỘNG – Tiếp tục duy trì đánh giá Khả quan. HSC cho rằng giá trị hợp lý của cổ phiếu VCB là 45.000đ; tương đương P/B là 2,91 lần. Giá cổ phiếu VCB bắt đầu tăng trở lại nhờ KQKD năm 2016 khả quan sau khi chịu áp lực giảm giá vài tháng trước và hiện P/B của cổ phiếu VCB là 2,57 lần. Thương vụ phát hành cho GIC gần như chắc chắn sẽ không diễn ra nhưng Ngân hàng còn có nhiều phương án tăng vốn khác trong khi tiềm năng tăng trưởng mạnh vẫn là động lực chính cho giá cổ phiếu. Do vậy VCB vẫn là cổ phiếu chúng tôi ưa chuộng nhất trong ngành ngân hàng.

Lợi nhuận tăng trưởng mạnh trong năm 2016 – VCB (Khả quan) công bố LNTT đạt 8.517 tỷ đồng (tăng trưởng 24,75%), vượt xa kế hoạch cả năm là 7.500 tỷ đồng nhưng thấp hơn một chút so với dự báo của HSC là 8.650 tỷ đồng (tăng trưởng 26,7%). Và sự khác biệt này là do VCB đã tích cực hơn so với kế hoạch trong việc trích lập dự phòng cho trái phiếu VAMC; từ đó làm lợi nhuận thực hiện đạt thấp hơn dự báo của chúng tôi. Điều này sẽ giúp LNTT năm 2017 tăng trưởng mạnh hơn.

Tăng trưởng tín dụng khá cao – Tín dụng tăng trưởng 19,03% và đạt 460.808 tỷ đồng. Trong đó dư nợ có xu hướng dịch chuyển sang kỳ hạn dài. Cho vay kỳ hạn ngắn tăng 13% và đạt 260.096 tỷ đồng; cho vay trung hạn tăng 22,9% và đạt 53.881 tỷ đồng; cho vay kỳ hạn dài tăng 29,8% và đạt 146.832 tỷ đồng. Như vậy tại thời điểm cuối năm 2016, cho vay trung dài hạn chiếm 43,6% tổng dư nợ cho vay trong khi năm 2015 là 40,5%.

Cho vay USD tăng nhanh trong Q4 và cả năm tăng 11,9% trong khi cho vay USD vào thời điểm cuối tháng 6 giảm 3,1% so với đầu năm. Điều này là do tác động của Thông tư 07 (thông tư này cho phép NHTM cho vay USD trở lại kể từ  ngày 1/6/2016 sau khi cấm cho vay USD trong hầu hết nửa đầu năm). Trái lại cho vay tiền đồng tăng chậm hơn về cuối năm sau khi tăng 13,5% trong nửa đầu năm. Nói chung trong năm 2016 cho vay tiền đồng tăng trưởng 20,7%. Tại thời điểm cuối năm cho vay USD chiếm 17,6% tổng dư nợ cho vay của VCB.

Cho vay khách hàng cá nhân tăng mạnh nhất, tăng 49,6% trong khi cho vay doanh nghiệp FDI tăng 17,5%; cho vay doanh nghiệp khu vực tư nhân tăng 15,4% còn cho vay DNNN gần như không tăng trưởng (tăng 0,9%). Tăng trưởng cho vay khách hàng cá nhân đạt cao giúp lợi suất cho vay và tỷ lệ NIM được cải thiện. Chúng tôi có đề cập cụ thể hơn về điều này ở phần sau.

Tăng trưởng huy động thấp hơn một chút so với tăng trưởng tín dụng – Vốn huy động tăng 18% và đạt 590.398 tỷ đồng. Trong đó vốn huy động không kỳ hạn tăng 13,6% và bằng 27% tổng vốn huy động (tại thời điểm cuối năm 2015 là 28,1%). Vốn huy động có kỳ hạn tăng mạnh hơn, tăng 19,4% và chiếm 71,6% tổng vốn huy động. Cơ cấu kỳ hạn huy động cũng nghiêng hơn về kỳ hạn dài. Trong năm 2016, vốn huy động kỳ hạn dưới 3 tháng giảm khoảng 3%. Vốn huy động kỳ hạn từ 3 đến 12 tháng tăng 16,7% còn vốn huy động kỳ hạn từ 1 đến 5 năm tăng 21,7%.

Tương tự cho vay khách hàng, vốn huy động USD giảm trong nửa đầu năm (tại thời điểm cuối tháng 6 giảm 4,1% so với đầu năm) nhưng đã tăng trở lại vào nửa cuối năm và cả năm tăng 2,3% bất chấp lãi suất huy động USD 0% áp dụng từ tháng 12/2015. Trong khi đó vốn huy động tiền đồng tăng trưởng 23,2%.

Hệ số LDR thuần tăng nhẹ – Hệ số LDR thuần tại thời điểm cuối năm 2016 tăng lên 78,1% so với mức 77,3% tại thời điểm cuối năm 2015. Hệ số LDR tiền đồng là 79,7% còn hệ số LDR ngoại tệ thấp hơn, là 71,1%. Với lượng ngoại tệ lớn trong tay, VCB có thể tham gia một đợt phát hành trái phiếu chính phủ bằng đồng USD nếu có cơ hội.

Tỷ lệ NIM cải thiện một chút – Tỷ lệ NIM năm 2016 tăng 0,03% lên 2,76% từ 2,73% năm 2015. Tài sản sinh lãi và nguồn vốn huy động tăng 17,9% nhưng lợi suất gộp tăng 0,14% trong khi chi phí huy động chỉ tăng 0,07%.

Đối với các tài sản sinh lãi, lợi suất cho vay khách hàng tăng 0,19% lên 6,35% chủ yếu nhờ cho vay khách hàng cá nhân tăng trưởng mạnh. Lợi suất gửi tiền liên ngân hàng tăng 0,23% lên 1,55%. Lợi suất đầu tư trái phiếu giảm 0,3% xuống còn 5,09%.

Đối với các nguồn vốn chịu lãi, chi phí huy động khách hàng tăng 0,03% lên 3,01% trong khi chi phí vay liên ngân hàng tăng 0,28% lên 1,23%. Chi phí huy động bình quân của giấy tờ có giá giảm 2,76% từ 11,43% trong năm 2015 xuống còn 8,67% năm 2016 sau đợt phát hành mới vào tháng 11 và tháng 12.

Tóm lại tăng trưởng tín dụng cao và tỷ lệ NIM cải thiện đã giúp thu nhập lãi thuần tăng trưởng 19,9% và đạt 18.529,4 tỷ đồng.

Thu nhập ngoài lãi tăng 10,95% – Tổng thu nhập ngoài lãi đạt 6.378 tỷ đồng (tăng trưởng 10,95%) và chiếm 25,6% tổng thu nhập hoạt động.

  • Lãi thuần HĐ dịch vụ tăng 12,74% lên 2.111,3 tỷ đồng.
  • Thu nhập từ thu hồi nợ xấu ngoại bảng là 2.121,5 tỷ đồng (tăng 15,66%).
  • Thị trường ngoại hối sôi động trong năm 2016 giúp VCB với nguồn ngoại tệ lớn trong tay đạt lợi nhuận HĐ kinh doanh ngoại hối khả quan, tăng 17,65% và đạt 1.850,1 tỷ đồng.
  • Thu nhập từ mua bán chứng khoán kinh doanh gần như tăng gấp 3 và đạt 495,8 tỷ đồng còn mua bán chứng khoán đầu tư lỗ 89,4 tỷ đồng.

Theo đó, tổng thu nhập hoạt động năm 2016 đạt 24.907,4 tỷ đồng; tăng trưởng 17,48%.

Hệ số CIR là 40,1%, tăng nhẹ – Trong năm 2016, chi phí hoạt động tăng 20,15% lên 9.979,7 tỷ đồng do chi phí lương thưởng cho nhân viên tăng 25% (số lượng nhân viên tăng 5,8% và Ngân hàng cũng đạt KQKD khả quan trong năm nay). Chi phí quản lý tăng mạnh 19% lên 2.066,1 tỷ đồng.

Tỷ lệ nợ xấu giảm trong khi hệ số LLR vẫn ở mức cao – Nợ xấu giảm 4,2% xuống còn 6.836 tỷ đồng tại thời điểm cuối năm với nợ Nhóm 5 giảm 25,1% xuống còn 4.187 tỷ đồng. Tỷ lệ nợ xấu là 1,48% (tại thời điểm cuối năm 2015 là 1,84%) với tổng nợ xấu được xử lý từ dự phòng là 4.174,8 tỷ đồng; bằng 0,91% tổng dư nợ. Hệ số LLR là 120%.

VCB là ngân hàng đầu tiên hoàn thành trích lập cho trái phiếu VAMC – Trong năm 2016, nhờ thu nhập hoạt động tốt, VCB đã trích lập 2.632 tỷ đồng dự phòng cho trái phiếu VAMC và xóa hết trái phiếu VAMC ra khỏi bảng cân đối. Nợ xấu hoán đổi cho VAMC hiện đã quay trở lại VCB và đã được trích lập toàn bộ.

Chi phí dự phòng tăng 5,6% so với năm 2015 – Tổng chi phí dự phòng tăng 5,6% so với năm 2015 lên 6,410 tỷ đồng, vượt kế hoạch dự phòng cả năm của Ngân hàng là 6.000 tỷ đồng. Chi phí dự phòng cho vay khách hàng là 3.687,9 tỷ đồng (giảm 33,6% so với năm 2015). Trong đó, 668,7 tỷ đồng (tăng 51,7%) là dự phòng chung do tăng trưởng tín dụng mạnh và 3.019,2 tỷ đồng (giảm 40,9%) là dự phòng cụ thể nhờ Ngân hàng kiểm soát tốt chất lượng tài sản. Phần lớn số chi phí dự phòng còn lại, 2.632 tỷ đồng là dự phòng trái phiếu VAMC.

VCB đã hoàn thành phát hành 8 nghìn tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp trong năm 2016 – VCB đã phát hành tổng cộng 8 nghìn tỷ đồng trái phiếu trong năm 2016, hoàn thành toàn bộ kế hoạch được NHNN phê duyệt vào tháng 8/2016. Trong đó, 2 nghìn tỷ đồng trái phiếu được phát hành vào tháng 11 và phát hành cho công chúng có kỳ hạn 10 năm, có thể mua lại sau 5 năm với lãi suất coupon thả nổi tương đương bình quân lãi suất huy động 12 tháng cộng 1%/năm. Số trái phiếu còn lại, 6 nghìn tỷ đồng được phát hành riêng lẻ và thông tin liên quan đến kỳ hạn và lãi suất coupon của số trái phiếu này không được công bố.

6 nghìn tỷ đồng trái phiếu phát hành gần đây đủ điều kiện là vốn cấp 2 – Theo VCB cho biết, 6 nghìn tỷ đồng trong tổng cộng 8 nghìn tỷ đồng trái phiếu đã phát hành là nợ thứ cấp và có thể tính là vốn cấp 2. Theo đó, kết thúc năm 2016, VCB đã ghi nhận tổng cộng 8 nghìn tỷ đồng trái phiếu thứ cấp trên Bảng cân đối, tăng so với chỉ 2 nghìn tỷ đồng cuối năm 2015. Tỷ lệ vốn cấp 2 trong tổng vốn của Ngân hàng hiện là 28,6%, và Ngân hàng vẫn còn dư địa để huy động thêm 18 nghìn tỷ đồng vốn cấp 2 nữa.

Việc tăng vốn cấp 2 sẽ trở nên khó khăn hơn – Theo Thông tư C41 ban hành gần đây về cách tính hệ số CAR (theo tiêu chuẩn Basel 2) và sẽ được áp dụng đồng loạt từ ngày 1/1/2020; khi một tổ chức tín dụng mua nợ thứ cấp từ một tổ chức tín dụng khác, số nợ này sẽ bị loại trừ khỏi vốn cấp 2 của ngân hàng đó. Các ngân hàng sẽ có 3 năm để chuẩn bị cho việc thực hiện quy định này, có nghĩa là cần tìm kiếm người mua trái phiếu ngoài ngành ngân hàng và giảm mức đầu tư trái phiếu thứ cấp liên ngân hàng trên BCTC. Rõ ràng là các ngân hàng sẽ không hào hứng mua nợ thứ cấp từ các ngân hàng khác trong thời gian tới, làm việc tăng vốn cấp 2 trở nên khó khăn hơn rất nhiều do các ngân hàng chắc chắn là những NĐT nắm giữ lượng trái phiếu thứ cấp lớn nhất hiện tại.

Hệ số CAR hiện ở mức 10,79% – VCB báo cáo hệ số CAR năm 2016 là 10,79% (theo Thông tư 36 và 06), trong khi đó hệ số CAR theo tiêu chuẩn Basel 2 ước tính là trên 7%. Nếu không thực hiện bất kỳ đợt tăng vốn nào trong năm 2017, đến cuối năm hệ số CAR sẽ giảm còn khoảng 9,5%. Do thương vụ phát hành riêng lẻ cho GIC sẽ không thể tiến hành theo điều khoản hiện tại, nhu cầu tăng vốn cấp 1 (vốn chủ sở hữu) vẫn còn đó và sẽ trở nên cấp thiết hơn năm 2018.

Cho năm 2017, HSC dự báo LNTT tăng trưởng 34,5% – đạt 11.452 tỷ đồng. Dự báo của chúng tôi dựa trên những giả định sau;

  1. Tăng trưởng tín dụng là 17% đạt 539.146 tỷ đồng và tăng trưởng huy động là 15% đạt 678.958 tỷ đồng. Sau hai năm duy trì tăng trưởng khá mạnh, và với tỷ lệ CAR hiện tại ở mức 10,79%, VCB có thể sẽ đặt kế hoạch tăng trưởng tài sản thận trọng hơn cho năm 2017.
  1. Tỷ lệ NIM tăng lên 2,80% nhờ cho vay khách hàng cá nhân tăng trưởng mạnh 40-50% và hệ số LDR tăng. Thu nhập lãi thuần tăng trưởng 15,87% đạt 21.564 tỷ đồng.
  1. Thu nhập ngoài lãi tăng trưởng 6,15% do chúng tôi dự báo lãi thuần HĐ dịch vụ tăng trưởng mạnh 18,9% tuy vậy chúng tôi dự báo thận trọng hơn đối với thu nhập từ kinh doanh ngoại hối và dự báo mức tăng trưởng 5% cho dòng thu nhập này. Dự báo thu nhập khác đi ngang so với năm 2016.
  1. Chúng tôi dự báo chi phí hoạt động tăng 21% so với năm 2016.
  1. Dự báo chi phí dự phòng sẽ giảm đáng kể 25,0% so với năm 2016 nhờ chất lượng tài sản được cải thiện và không còn gánh nặng dự phòng trái phiếu VAMC trong năm 2017.

Từ những giả định trên, chúng tôi dự báo LNTT  tăng trưởng 34,5% đạt 11.452 tỷ đồng, theo đó EPS pha loãng là 2.088đ/cp. BPVS là 15.479đ/cp, theo đó PB dự phóng là 2,57 lần. Chúng tôi giả định rằng VCB sẽ tiếp tục theo đuổi thương vụ phát hành riêng lẻ 10% trong năm 2017.

Quan điểm đầu tư – Lặp lại đánh giá KHẢ QUAN với vị thế đầu ngành ngân hàng – HSC ước tính giá trị hợp lý của cổ phiếu VCB là 45.000đ/cp, theo đó định giá Ngân hàng với PB là 2,91 lần. Cổ phiếu VCB tiếp tục là lựa chọn hàng đầu của chúng tôi trong số các cổ phiếu ngân hàng với mảng kinh doanh chủ chốt mạnh nhờ lợi thế chi phí huy động thấp, chất lượng tài sản ưu việt và cấu trúc thu nhập đa dạng. Với khả năng chi phí dự phòng sẽ giảm trong thời gian tới, là điểm khác biệt so với các ngân hàng đã niêm yết khác, chúng tôi dự báo tăng trưởng LNTT thậm chí sẽ tăng tốc hơn nữa trong trong những năm tới. Và khác với các ngân hàng khác, VCB sẽ dễ dàng chuyển đổi theo yêu cầu của Basel 2 và cũng sẽ không bị ảnh hưởng nhiều từ những điều chỉnh của Thông tư 36.

Giá cổ phiếu đã bắt đầu phục hồi nhờ KQKD 2016 tốt hơn dự báo và thương vụ phát hành riêng lẻ cho GIC bất thành do giá phát hành đề xuất thấp hơn thị giá, sau áp lực giảm giá trong một vài tháng trước. Mặc dù ở mức giá hiện tại, định giá cổ phiếu vẫn khá cao với P/B dự phóng là 2,57 lần, chúng tôi nhận thấy tiềm năng giá cổ phiếu sẽ tăng nhờ triển vọng tăng trưởng mạnh.

Nguồn: HSC

BÌNH LUẬN()

CÁC TIN LIÊN QUAN

Đối tác