DANH MỤC

Mobile / Fb / Zalo: 0912 842 224 | 0982 842 224

Cập nhật cổ phiếu CTG – KQKD 9 tháng khả quan với kế hoạch trích lập dự phòng rất tích cực

Lượt xem: 562 - Ngày:
Chia sẻ

CTG đã công bố KQKD Q3/2019 khả quan với LNTT tăng 34% so với cùng kỳ; theo đó LNTT 9 tháng đầu năm tăng 11,3% so với cùng kỳ, sát với kỳ vọng của chúng tôi. Ngân hàng vẫn còn gánh nặng dự phòng nhưng triển vọng của hoạt động kinh doanh cốt lõi đã sáng sủa hơn. Duy trì đánh giá Tăng tỷ trọng.

Đồ thị cổ phiếu CTG phiên giao dịch ngày 14/11/2019. Nguồn: AmiBroker.

Ghi nhận chính từ KQKD 9 tháng đầu năm – Cho vay khách hàng tăng kém, tăng 3,9% so với đầu năm do hệ số CAR thấp và Ngân hàng cơ cấu lại danh mục khách hàng bắt đầu từ Q4/2018. Tuy nhiên nhờ tỷ lệ NIM cải thiện, tăng 0,22% so với cùng kỳ đạt 2,95%; thu nhập lãi thuần tăng ở mức vừa phải, tăng 11,7% so với cùng kỳ. Thu nhập ngoài lãi cũng tăng 18,4% so với cùng kỳ nhờ lãi thuần HĐ dịch vụ (tăng 53,4% so với cùng kỳ) và lãi thuần HĐ kinh doanh ngoại hối (tăng 120,3% so với cùng kỳ) tăng trưởng ấn tượng. Trong khi thu nhập từ kinh doanh trái phiếu (giảm 61,6% so với cùng kỳ) và thu nhập từ thu hồi nợ xấu (giảm 54,7% so với cùng kỳ) giảm. Chi phí hoạt động cũng được kiểm soát tốt, giảm 0,8% so với cùng kỳ; theo đó, lợi nhuận trước trích lập dự phòng tăng tốt, tăng 22% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, do Ngân hàng đã rất nỗ lực trong công tác trích lập dự phòng – đã trích lập 10.979 tỷ đồng (tăng 31,8% so với cùng kỳ) trong 9 tháng đầu năm – nên LNTT chỉ tăng khiêm tốn, tăng 11,3% so với cùng kỳ. Theo đó, kết quả thực hiện bằng 74,6% dự báo của HSC cho LNTT là 11.341 tỷ đồng (tăng trưởng 68,5%).

Kết luận nhanh – Duy trì đánh giá Tăng tỷ trọng với giá mục tiêu mới là 25.600đ (giá mục tiêu trước đây là 24.200đ), tương đương P/B năm 2019 là 1,28 lần và cao hơn 14,8% so với thị giá. Hiện hoạt động kinh doanh cốt lõi của cổ phiếu CTG đã cho thấy sự cải thiện với chất lượng tài sản minh bạch hơn, tỷ lệ NIM tăng và lãi thuần HĐ dịch vụ tăng trưởng mạnh hơn. Hiện chưa có thông tin cập nhật thêm về tiến triển của các kế hoạch tăng vốn. Room của cổ phiếu CTG hiện cũng đã đầy và định giá cổ phiếu khá rẻ.

Bảng 1:  KQKD 9 tháng đầu năm 2019

Tăng trưởng cho vay khách hàng khiêm tốn do hệ số CAR thấp và Ngân hàng tiếp tục cơ cấu lại danh mục khách hàng

Cho vay khách hàng chỉ tăng 3,9% so với đầu năm đạt 899 nghìn tỷ đồng trong 9 tháng đầu năm 2019 (bảng 2). Chúng tôi thấy từ Q4/2018, CTG đã tái cơ cấu danh mục khách hàng thông qua các biện pháp sau:

  • Hoán đổi khoản nợ xấu cho VAMC và nhận về khoảng 14.000 tỷ đồng trái phiếu VAMC; và CTG sẽ trích lập dự phòng cho số trái phiếu này trong các năm tiếp theo. Tại ĐHCĐTN năm 2019, ban lãnh đạo đã đề cập rằng Ngân hàng đặt kế hoạch trích lập hết cho số trái phiếu VAMC này vào năm 2020. Chúng tôi sẽ đề cập thông tin cập nhật về vấn đề này trong phần phân tích về nợ xấu trong báo cáo này.

Bảng 2:  Tăng trưởng cho vay & tiền gửi khách hàng

Bảng 3:  Tỷ trọng cho vay khách hàng theo kỳ hạn

  • CTG cũng đã giảm 6.547 tỷ đồng thu nhập lãi dự thu từ số dư lãi dự thu và hạch toán vào chi phí tín dụng bất thường; từ đó khiến Q4/2018 lỗ trước thuế 853 tỷ đồng. Số dư lãi dự thu đã giảm đáng kể xuống còn 6.905 tỷ đồng tại thời điểm cuối Q4/2018 từ 15.303 tỷ đồng tại thời điểm cuối Q3/2018; bằng 0,78% dư nợ nhóm 1; mức tương tự ở các ngân hàng có chất lượng tài sản lành mạnh khác.

Sau khi xuất phát chậm chạp trong Q1/2019, cho vay khách hàng đã bắt đầu tăng trưởng trở lại trong Q2 và Q3. Tuy nhiên đà tăng trưởng vẫn còn yếu so với bình quân ngành (tăng trưởng tín dụng ngành từ đầu năm là 9,2%). Một lý do nữa giải thích cho điều này có lẽ là hiện hệ số CAR của CTG thấp.

Tăng trưởng cho vay thiên về kỳ hạn ngắn với cho vay ngắn hạn tăng 5% so với đầu năm (tăng 2,4% so với quý liền trước) đạt 512,2 nghìn tỷ đồng (đóng góp 57% tổng dư nợ cho vay); còn cho vay trung dài hạn tăng 2,5% so với đầu năm (tăng 0,4% so với quý liền trước) đạt 386,9 nghìn tỷ đồng (đóng góp 43% tổng dư nợ cho vay).

Cho vay khách hàng bằng USD và các ngoại tệ khác tăng 6,7% so với đầu năm đạt 79,5 nghìn tỷ đồng (chiếm 8,8% tổng dư nợ); trong khi cho vay bằng tiền đồng chỉ tăng 3,7% so với đầu năm đạt 819,5 nghìn tỷ đồng (chiếm 91,2% tổng dư nợ).

Trên BCTC giữa niên độ không có thông tin về cơ cấu cho vay theo đối tượng khách hàng và ngành nghề. Tuy nhiên, sau khi trao đổi với Ngân hàng có vẻ tỷ trọng cho vay khách hàng cá nhân và DNNVV đã tăng lên 55% tại thời điểm cuối Q3/2019 từ 50,5% tại thời điểm cuổi Q4/2018.

Trái phiếu doanh nghiệp giảm 13,5% so với đầu năm còn 31,7 nghìn tỷ đồng. Theo đó tổng tăng trưởng tín dụng (tăng 3,23% so với đầu năm) thấp hơn một chút so với tăng trưởng cho vay khách hàng.

Tăng trưởng tiền gửi – Tiền gửi khách hàng tăng mạnh hơn một chút so với cho vay khách hàng

Tiền gửi khách hàng tăng 4,8% so với đầu năm đạt 865,5 nghìn tỷ đồng với cơ cấu theo kỳ hạn như sau.

  • Tiền gửi có kỳ hạn tăng 5,3% so với đầu năm đạt 731,1 nghìn tỷ đồng (đóng góp 84,5% tổng tiền gửi khách hàng).
  • Tiền gửi không kỳ hạn tăng 2,3% so với đầu năm đạt 134,3 nghìn tỷ đồng, đóng góp 15,5% tổng tiền gửi khách hàng.

Trong khi đó giấy tờ có giá tăng 28,8% so với đầu năm đạt 55,1 nghìn tỷ đồng. Theo đó tổng vốn huy động (tăng 5,6% so với đầu năm) tăng nhanh hơn tăng trưởng tiền gửi khách hàng.

Bảng 4:  Tiền gửi khách hàng theo kỳ hạn (hàng quý)

Cả hệ số LDR thuần (cho vay khách hàng/tiền gửi khách hàng) và hệ số LDR điều chỉnh ((cho vay kháng hàng + trái phiếu doanh nghiệp)/(tiền gửi khách hàng + giấy tờ có giá)) đều cải thiện nhưng vẫn ở mức khá cao. Cụ thể, hệ số LDR thuần là 103,9% (tại thời điểm cuối Q4/2018 là 104,7%) và hệ số LDR điều chỉnh là 101,1% (tại thời điểm cuối Q4/2018 là 103,4%)

Lợi suất – tỷ lệ NIM tăng 0,22% so với cùng kỳ đạt 2,95% nhờ CTG cơ cấu lại danh mục khách hàng cho vay

Bảng 5:  Lợi suất (so với đầu năm)

Tỷ lệ NIM tăng 0,22% so với cùng kỳ đạt 2,95% nhờ lợi suất gộp tăng 0,45% so với cùng kỳ trong khi chi phí huy động được giữ ở 4,55% (tăng 0,05% so với cùng kỳ).

Về mặt tài sản, lợi suất cho vay khách hàng tăng mạnh 0,79% so với cùng kỳ đạt 8,11%. Như đã đề cập, CTG đã và đang tái cơ cấu lại nguồn khách hàng kể từ năm ngoái để giảm bớt các khoản cho vay không hiệu quả (khi đó được phân loại lại vào nợ nhóm 1). Nói cách khác, Ngân hàng đã giảm các khoản cho vay rủi ro cao nhưng lợi suất thấp. Ngoài ra, phần lớn các khoản cho vay mới trong 9 tháng đầu năm tập trung vào nhóm khách hàng cá nhân và DNNVV vói lợi suất cho vay cao hơn. Và những điều này đã giúp CTG đạt được mức lợi suất cho vay cao nhất trong 5 năm qua.

Về cơ cấu tài sản sinh lãi, CTG duy trì tỷ trọng cho vay khách hàng trong tổng tải sản sinh lãi là 78,7% (tại thời điểm cuối Q3/2018 là 79,6%). Tỷ trọng trái phiếu giảm nhẹ từ 11,2% tại thời điểm cuối Q3/2018 xuống còn 10,4%. Đồng thời, CTG nâng tỷ trọng cho vay liên ngân hàng từ 9,3% tại thời điểm cuối Q3/2018 lên 11,9%. Ngoài ra, từ Q4/2018, CTG đã trở thành người cho vay ròng trên thị trường liên ngân hàng sau khi chủ yếu đóng vài trò là người đi vay ròng kể từ năm 2011.

Bảng 6:  Cơ cấu tài sản sinh lãi

Về cơ cấu vốn huy động, chi phí huy động chỉ tăng 0,05% so với cùng kỳ nhưng giảm 0,61% so với đầu năm xuống còn 4,55%. Lý do khiến chi phí huy động bình quân giảm mạnh so với đầu năm là trong Q4/2018 có một khoản chi phí tín dụng bất thường khiến chi phí huy động tăng mạnh tới 0,7% lên 5,16%. Theo đó từ Q1/2019, chi phí huy động bình quân đã quay trở lại mức bình thường. Cụ thể, chi phí huy động khách hàng tăng 0,11% so với cùng kỳ lên 4,77%; chi phí vay liên ngân hàng giảm tới 1,14% so với cùng kỳ còn 1.06% trong khi chi phí phát hành giấy tờ có giá tăng 0,3% so với cùng kỳ lên 7,04%.

Kết quả hoạt động kinh doanh – cả thu nhập lãi thuần và thu nhập ngoài lãi tăng khá trong khi chi phí hoạt động được kiểm soát chặt.

Nhờ tổng tài sản sinh lãi tăng 1,96% so với cùng kỳ và tỷ lệ NIM tăng 0,22% so với cùng kỳ; tổng thu nhập lãi thuần 9 tháng đầu năm tăng 11,7% so với cùng kỳ đạt 24,5 nghìn tỷ đồng.

Tổng thu nhập ngoài lãi cũng tăng tốt, tăng 18,4% so với cùng kỳ đạt 5.539 tỷ đồng nhờ lãi thuần HĐ dịch vụ (tăng mạnh 53,4% so với cùng kỳ đạt 3.047 tỷ đồng) và lãi thuần HĐ kinh doanh ngoại hối (tăng 120,3% so với cùng kỳ đạt 1.189 tỷ đồng) tăng ấn tượng trong khi thu nhập từ mua bán trái phiếu (giảm 61,6% so với cùng kỳ còn 190 tỷ đồng) và thu nhập khác, chủ yếu là thu nhập thu hồi nợ xấu (giảm 54,7% so với cùng kỳ còn 602 tỷ đồng) giảm.

Theo đó, tổng thu nhập hoạt động đạt 30.025 tỷ đồng (tăng 11,2% so với cùng kỳ), trong đó thu nhập lãi thuần đóng góp 81,6% và thu nhập ngoài lãi đóng góp 18,4%.

Chi phí hoạt động được kiểm soát tốt ở 10.610 tỷ đồng (giảm 0,8% so với cùng kỳ). Trong đó, chỉ có chi phí nhân viên tăng nhẹ, tăng 4,8% so với cùng kỳ lên 6.834 tỷ đồng do tổng số lượng nhân viên tăng 1% so với cùng kỳ. Chi phí hoạt động khác giảm giảm đáng kể với chi phí quản lý giảm 12,2% so với cùng kỳ và chi phí liên quan đến tài sản giảm 10,1% so với cùng kỳ.

Theo đó, hệ số CIR cải thiện ấn tượng, giảm từ 40,2% năm ngoái còn 35,3%.

Bảng 7:  Chi phí hoạt động (triệu VNĐ)

 

Bảng 8:  Cho vay khách hàng theo nhóm

Nợ xấu & trích lập dự phòng – Ngân hàng rất nỗ lực trong trích lập dự phòng và xử lý nợ xấu 

CTG đã trích lập tổng cộng 10.979 tỷ đồng chi phí dự phòng trong 9 tháng đầu năm (tăng 31,8% so với cùng kỳ); trong đó 7.661 tỷ đồng là dự phòng cụ thể (tăng 10,5% so với cùng kỳ); trong khi dự phòng chung hoàn nhập 12,4 tỷ đồng. Chúng tôi ước tính CTG đã trích lập 3.233 tỷ đồng cho trái phiếu VAMC. CTG đã trích lập dự phòng cho trái phiếu VAMC trong 6 tháng đầu năm và không trích lập thêm trong Q3/2019. Do vậy chi phí dự phòng Q3/2019 chỉ tăng 3,7% so với cùng kỳ, trong khi 6 tháng đầu năm tăng tới 51% so với cùng kỳ.

Ngân hàng đã xóa 4.047 tỷ đồng nợ xấu từ đầu năm, và toàn bộ việc xóa nợ thực hiện trong 6 tháng đầu năm, Ngân hàng không xóa nợ trong Q3. Tỷ lệ nợ xấu sau khi xóa nợ là 1,56% với giá trị thuần của trái phiếu VAMC tại thời điểm cuối Q3/2019 là 8.347 tỷ đồng, bằng 0,93% tổng dư nợ. Theo đó, tỷ lệ nợ xấu gộp (bao gồm cả trái phiếu VAMC) là 2,49%.

Hệ số LLR là 118,1% (tại thời điểm cuối năm ngoái là 96,2%). Ngoài ra, đệm dự phòng cụ thể cũng cải thiện ấn tượng từ 56,1% lên 86,9%.

Bảng 9:  Hệ số LLR và nợ xấu

Bảng 10:  Diễn biến lãi dự thu

Hệ số CAR chưa tính theo Basel 2 và kế hoạch tăng vốn vẫn chưa có tiến triển gì mới.

Theo CTG, hệ số CAR của Ngân hàng theo Basel 1 là 10% cuối năm 2018, vẫn đáp ứng yêu cầu tối thiểu của Ngân hàng Nhà nước (9%). Tuy nhiên, hệ số CAR nếu tính theo Basel 2 thấp hơn 8%. Hiện chưa có số liệu hệ số CAR cho Q3/2019 được công bố chính thức.

Một NHTM có thể nâng hệ số CAR bằng cách: (1) tăng vốn (cấp 1 và cấp 2), hoặc (2) giảm các tài sản có hệ số rủi ro cao (tái cơ cấu tài sản theo hướng tăng tỷ trọng tài sản có hệ số rủi ro thấp hoặc giảm quy mô tổng tài sản (điều này ít khi xảy ra trừ khi ngân hàng không còn giải pháp nào khác)). Chúng tôi nhắc lại ở đây về một số trở ngại của CTG trong việc tăng vốn mới.

  • Room sở hữu nước ngoài và tỷ lệ sở hữu tối thiểu của nhà nước: hiện cổ phiếu CTG đã hết room (ở mức 30%) và tỷ lệ sở hữu nhà nước là 64,46%; đã thấp hơn mức tối thiểu 65%. Hai nhân tố này khiến cho CTG gần như không có khả năng tăng vốn mới trừ khi hai điều kiện này được nới lỏng.

Quyết định 986 của Thủ tướng chính phủ về chiến lược phát triển ngành ngân hàng đến năm 2025 quy định tỷ lệ sở hữu tối thiểu của nhà nước tại các NHTMCP có vốn nhà nước có thể giảm về 51% trong năm 2021-2025; tuy nhiên từ giờ tới thời điểm đó, tỷ lệ sở hữu tối thiểu của nhà nước vẫn là 65%. Đồng thời, vấn đề nới room cho ngành ngân hàng chưa có tiến triển trong vài năm qua. Do vậy, CTG vẫn gặp khó khăn khi muốn nâng vốn.

  • Nghĩa vụ chi trả cổ tức tiền mặt: Trước đây, CTG thường chi 40% LNST để trả cổ tức tiền mặt và trích 20% vào quỹ khen thưởng, phúc lợi. Như vậy chỉ khoảng 40% LNST được giữ lại để nâng cao hệ số CAR.

Cổ tức tiền mặt là nguồn thu quan trọng của nhà nước, do đó có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến việc chấp thuận CTG không trả cổ tức tiền mặt mà thay bằng cổ tức bằng cổ phiếu hay không. Trong 2 năm qua, CTG đã đề nghị không trả cổ tức tiền mặt nhưng vẫn chưa được chấp thuận.

Trong trường hợp của BID, trong năm 2017 và 2018, BID cũng đã đề nghị không trả cổ tức tiền mặt do hệ số CAR của ngân hàng lúc đó chỉ khoảng 9% (tính theo Basel 1) trong vài năm. Sau khi huy động vốn thành công từ KEB Hana Bank thời gian gần đây, BID sẽ trả cổ tức tiền mặt cho năm 2017 và 2018 với tỷ lệ 7% mệnh giá/năm. Do vậy, chúng tôi cho rằng ít có khả năng CTG được phép không chi trả cổ tức tiền mặt. Tuy nhiên việc chi trả cổ tức tiền mặt có thể được trì hoãn để hỗ trợ Ngân hàng tạm thời xử lý vấn đề hệ số CAR thấp.

Trong các báo cáo trước đây, chúng tôi đã đề cập một số giải pháp cho việc tăng vốn của CTG, gồm: (1) phát hành cổ phiếu không có quyền biểu quyết cho NĐTNN, và (2) phát hành riêng lẻ cho SCIC. Tuy nhiên, đến nay, chúng tôi vẫn chưa thấy có thông tin cập nhật mới liên quan đến những vấn đề này.

Về vốn cấp 2, từ đầu năm CTG đã phát hành 5.550 tỷ đồng trái phiếu thứ cấp, gồm 4.550 tỷ đồng phát hành trong Q3 và 1.000 tỷ đồng phát hành vào cuối tháng 10/2019. Tổng số dư trái phiếu nâng vốn cấp 2 hiện khoảng 22.550 tỷ đồng. Chúng tôi ước tính CTG còn dư địa phát hành thêm 8-10 nghìn tỷ đồng trái phiếu nâng vốn cấp 2 để hỗ trợ tăng trưởng tài sản.

Dự báo lợi nhuận

Chúng tôi điều chỉnh tăng dự báo LNTT cho năm 2019 từ 11.039 tỷ đồng (tăng trưởng 64%) lên 13.431 tỷ đồng (tăng trưởng 68,5%). Trong đó, thay đổi chủ yếu là chúng tôi điều chỉnh giảm giả định về chi phí hoạt động và điều chỉnh tăng giả định về chi phí dự phòng. Đồng thời, chúng tôi điều chỉnh giảm một chút tăng trưởng tổng thu nhập hoạt động do giảm kỳ vọng về tăng trưởng tín dụng và huy động, và giữ nguyên giả định về tỷ lệ NIM. Tuy nhiên, chúng tôi điều chỉnh tăng nhẹ dự báo thu nhập ngoài lãi. Các giả định được điều chỉnh của chúng tôi được tóm tắt dưới đây.

Bảng 11:  Thay đổi giả định

Cho năm 2020, chúng tôi dự báo LNTT đạt 15.033 tỷ đồng (tăng trưởng 32,6%) dựa trên những giả định sau:

  • Tăng trưởng tín dụng là 8% và tăng trưởng huy động là 10%.
  • Tỷ lệ NIM tăng 0,1% lên 3.06%; thu nhập lãi thuần tăng 11,4%.
  • Thu nhập ngoài lãi tăng 0,8%.
  • Chi phí hoạt động tăng 9,5%.
  • Chi phí dự phòng giảm 7,8%.

Cho năm 2021, chúng tôi thận trọng dự báo tổng thu nhập hoạt động tăng trưởng 9,5% do vẫn chưa chắc chắn về khả năng tăng vốn của ngân hàng. Tuy nhiên, do CTG dự kiến trích lập hết toàn bộ trái phiếu VAMC trong năm 2019 và 2020, chúng tôi kỳ vọng chi phí dự phòng năm 2021 sẽ giảm 14,8%; giúp lợi nhuận tăng trưởng 29,7%.

Định giá và khuyến nghị

Duy trì đánh giá Tăng tỷ trọng với giá mục tiêu mới là 25.600đ; cao hơn 14,8% so với thị giá. Chúng tôi áp dụng phương pháp định giá thu nhập thặng dư và giá mục tiêu là 25.600đ. Tại giá mục tiêu mới, P/B dự phóng năm 2019 là 1,28 lần; vẫn thấp hơn mức bình quân hiện tại của ngành là 1,55 lần (không tính VCB). Trong khi đó hệ số ROE năm 2019 của CTG ước tính là 12,6%; vẫn thấp hơn bình quân ngành ở mức 17,7%.

Bảng 12:  Dữ liệu đầu vào

Bảng 13:  Định giá theo phương pháp thu nhập thặng dư

Bảng 14:  Định giá bằng phương pháp so sánh

                                                                                                                                                                  Nguồn: HSC

 

BÌNH LUẬN()

CÁC TIN LIÊN QUAN

Đối tác

Gọi ngay
Messenger
Zalo chát
Mở tài khoản
Góp ý